Bản Phạn văn Devanagari
Truyền bản này được tìm thấy trong văn bản Phật giáo Sanskrit với tên gọi bằng chữ Devanagari là सुखावतीव्यूहः và được phiên âm sang chữ La-tinh là Sukhāvatīvyūḥ Tài liệu này dựa trên nghiên cứu của hai học giả F Max Muller từ Đức và Bunyiu Nanjio từ Nhật Bản, nằm trong bộ Anecdut Oxoniencia Aryan Serries, Tập 1, Phần II, xuất bản tại Oxford vào năm 1883.
Truyền bản này được chia thành 20 đoạn, trong đó nhiều phần tương đồng với bản dịch của ngài La-thập Danh hiệu của chư Phật được đề cập trong sáu phương của bản Phạn Devanagari và bản Hán dịch của ngài La-thập có nhiều điểm tương đồng, chỉ có một vài danh hiệu không đáng kể được thêm bớt Cả hai bản đều nhấn mạnh rằng chư Phật ở sáu phương đều tán dương và hộ niệm cho kinh này Trong khi đó, bản dịch Hán của ngài Huyền-tráng không chỉ nêu ra chư Phật ở sáu phương mà còn đề cập đầy đủ chư Phật ở mười phương đều đồng tán dương và nhiếp thọ Bản Hán của ngài Huyền-tráng cung cấp nhiều thông tin chi tiết về chánh báo và y báo của Tịnh độ Phật A-di-đà, so với bản Phạn văn theo tài liệu của F Max Muller và Bunyiu Nanjio cùng bản Hán văn của ngài La-thập.
Bài viết này cung cấp thông tin về các bản kinh Phạn văn do hai học giả người Đức và Nhật thực hiện vào thế kỷ 19, cũng như bản Phạn văn của ngài La-thập, được sử dụng để dịch sang Hán văn vào khoảng đầu thế kỷ V Ngài La-thập đã biên tập gọn lại từ bản dịch của ngài Huyền-tráng, người đã dịch các bản Phạn văn sang Hán văn vào thế kỷ VII Đáng chú ý, bản Phạn văn của ngài Huyền-tráng xuất hiện sớm hơn so với bản của ngài La-thập Ngoài ra, còn có nhiều bản Phạn văn được viết và biên tập bằng các ngôn ngữ như Siddhi, Devanagari, Kucīna, Parthia và Kustan.
Kharoṣṭi,… đã bị thất lạc hay bị hủy diệt bởi dị giáo.
Bản Phạn văn La-tinh
Bản Phạn văn La-tinh của Đại học Oxford và Jodoshu, kinh này với tên The smaller Sukhvatīvyūha và cũng phân kinh này thành 20 đoạn Nhưng các từ như:
- ऽनाथपिण्डदस्यारामे, phiên âm đúng phải là 'nāthapiṇḍadasyārāme, chứ không phải là 'nāthapiṁḍadasyārāme
- चूडिन्थकेन, từ này phiên âm La-tinh là
Cuḍapanthakena Bản Phạn La-tinh phiên âm là śuddhipaṁthakena
- अष्टाङ्गोिेतवाररिररिूराणाः , phiên âm đúng là aṣṭāṅgopetavāri-paripūrṇāḥ Phạn La-tinh phiên âm aṣṭāṁgopetavāri-paripūrṇāḥ
- सप्तपिस्तालिङ्क्तिपिाः, phiên âm đúng là Saptabhistālapaṅktibhiḥ Bản Phạn La-tinh phiên âm là saptabhistālapaṁktibhiḥ
- कङ्करीजालैश्च, phiên âm đúng bản Devanagari là kaṅkaṇījālaiś Bản Phạn La-tinh phiên âm là kiṁkiṇījālaiś
- गच्छन्ति, phiên âm đúng bản Devanagari là gacchanti Bản Phạn La-tinh phiên âm là gacchaṁti
- गङ्गा, phiên âm đúng bản Devanagari là gaṅgā Bản Phạn La-tinh phiên âm là gaṁgā
- चन्द्रसूर्यप्रदीपो, phiên âm đúng với bản Devanagari là candrasūryapradīpo Bản Phạn La-tinh phiên âm là caṁdrasūryapradīpo
- महार्चयस्कन्धो, phiên âm đúng bản Devanagari là mahārciskandho Bản Phạn phiên âm La-tinh là mahārciskaṁdho
- र्िह्वेन्तन्द्रर्ेण, phiên âm đúng bản Devanagari là jihvendriyeṇa Bản Phạn phiên âm La-tinh là jihveṁdriyeṇa…
- करिष्यन्ति, phiên âm đúng bản Devanagari là kariṣyanti Bản Phạn phiên âm La-tinh là kariṣyaṁti
- कृतविो, phiên âm đúng bản Devanagari là kṛtavanto Bản Phạn phiên âm La-tinh là kṛtaṁ
- कुवयन्ति, phiên âm đúng bản Devanagari là kurvanti Bản phiên âm La-tinh là kurvaṁti
- भर्वष्यन्त्य, phiên âm đúng bản Devanagari là bhaviṣyantya Bản phiên âm La-tinh là bhaviṣyaṁtya
- उपपत्स्यन्त्युपपन्ना, phiên âm đúng bản Devanagari là upapatsyantyupapannā Bản phiên âm La-tinh là upapatsyaṁtyupapannā
- वोपपद्यन्ति, phiên âm đúng bản Devanagari là vopapadyanti Bản phiên âm La-tinh là vopapadyaṁti
- भगवि, phiên âm đúng bản Devanagari là bhagavanta Bản phiên âm La-tinh là bhagavaṁta
- एवमर्चन्त्यगुणान्परिकीतयर्न्ति, phiên âm đúng bản Devanagari là evam acintyaguṇānparikīrtayanti Bản phiên âm La-tinh là evamaciṁtyaguṇān parikīrtayaṁti
Phạn bản Phiên âm La-tinh của Đại học Oxford và Jodoshu cho thấy kinh The smaller Sukhvatīvyūha sử dụng nhiều mẫu tự đặc biệt như ङ्क् (phiên âm thành ṁ), र् (phiên âm thành ṁ), và न (phiên âm thành ṁ), tất cả đều thể hiện âm ṅa, âm ṇa và âm na với giọng mũi Bản Phạn văn này được phiên âm La-tinh nhất quán là ṁ.
Bản ngài La-thập
Bản của ngài La-thập (344 - 414) dịch với tên là Phật thuyết A-di-đà kinh Hiện có ở Đại chính 12, số ký hiệu
Theo tài liệu, kinh này được biên tập thành văn bản Phạn tại miền Bắc Ấn Độ vào thế kỷ đầu Công Nguyên, sau khi kinh Đại Vô-lượng-thọ được hình thành Ngài La-thập đã dịch kinh này sang Hán văn vào năm 404.
1 Phật Quang Đại từ điển 1, tr 12, Thích-quảng-độ dịch, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh-sơn Đài-bắc xuất bản 2000
Bản Phạn văn của ngài La-thập có thể xuất hiện sau bản của ngài Huyền-tráng do sự tương đồng trong cách trình bày Căn cứ vào bản Hán dịch của ngài La-thập, ta nhận thấy văn phong gọn gàng và giản lược, tương tự như bản Phạn văn Devanagari hiện có Cả hai bản Phạn văn đều có nhiều điểm tương đồng, chỉ nêu lên chư Phật sáu phương hộ niệm kinh, trong khi bản của ngài Huyền-tráng lại đề cập đến sự hộ niệm của chư Phật mười phương và cung cấp thêm nhiều chi tiết khác.
Bản ngài La-thập được phát hiện tại động Đôn-hoàng, bao gồm phần Vô-lượng-thọ-phật và thuyết vãng sanh Tịnh độ Trong đó có chứa thần chú: "Nam mô A-di-đa-bà-dạ, đá-tha-đà-đá-dạ, đá-địa-dạ-tha, A-di-lị-đô-bà-tỳ, A-di-lị-đá, tất-đam-bà-tỳ, A-di-lị-đá, tỳ-ca-lan-đá, già-di-nị, già-già-na, chỉ-đa-ca-lệ, ta-bà-ha".
Người nào tụng chú này, đức Phật A-di-đà thường trú trên đỉnh đầu của người ấy, sau khi người ấy mạng chung, tự tại vãng sanh
Bồ tát Long-thọ nguyện được sanh về cõi An dưỡng thông qua giấc mộng cảm ứng với thần chú Tam tạng pháp sư Da-xá đã tụng thần chú này, và Tú pháp sư Thiên bình đẳng 2 đã tiếp nhận thần chú từ khẩu truyền của Tam tạng Pháp sư Da-xá.
Có người bảo: Nếu kinh bản ngoại quốc chưa truyền đến, muốn trì tụng chú pháp, mỗi ngày sáu thời, mỗi thời tụng
Hành trì 21 biến, đánh răng, súc miệng, đốt hương, và quỳ gối chắp tay trước hình tượng mỗi ngày giúp diệt trừ bốn trọng tội, năm nghịch tội, mười ác tội và phỉ báng tội Nhờ đó, tất cả tội lỗi hiện tại đều được tiêu diệt, không còn bị não loạn bởi tà ma quỷ thần Sau khi mạng chung, người hành trì có thể vãng sanh về quốc độ Phật A-di-đà, và việc đọc tụng, thọ trì ngày đêm mang lại công đức không thể nghĩ bàn.
Bản dịch của ngài La-thập được các nhà Phật học Trung-
2 Bản Cầu-na-bạt-đà-la… Thiên Bình Tự Tú, Đại Chính 12, tr352
3 La-thập, Phật thuyết A-di-đà kinh, tr 348, Đại chính 12 hoa, Nhật-bản, Tân-la, Việt-nam xem như định bản để chú, sớ kinh này
Ngài Trí-khải (538-597) là một nhân vật quan trọng trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa thời Tùy, ông đã dựa vào bản dịch của ngài La-thập để biên soạn tác phẩm A-di-đà kinh nghĩa ký Tác phẩm này hiện đang được lưu giữ trong Đại chính 37, với số ký hiệu 1655.
Ngài Khuy-cơ (632-682) là một nhân vật quan trọng trong Phật giáo Trung Quốc thời Đường, đã dựa vào bản dịch của ngài La-thập để biên soạn A-di-đà kinh nghĩa sớ, hiện lưu giữ tại Đại chính 37, mã số 1757 Ngoài ra, ngài cũng viết A-di-đà kinh thông tán sớ, hiện có tại Đại chính 37, mã số 1758.
Ngài Tuệ-tịnh (578-?) là một nhân vật quan trọng trong Phật giáo Trung Hoa thời Đường, ông đã dựa vào bản dịch của ngài La-thập để soạn thảo tác phẩm A-di-đà kinh nghĩa thuật Tác phẩm này hiện được lưu giữ trong Đại chính, số 37, ký hiệu 1756.
Ngài Trí-viên (976-1022) là một nhân vật quan trọng trong Phật giáo Trung Quốc thời Tống, đã dựa vào bản dịch của ngài La-thập để biên soạn tác phẩm "A-di-đà kinh nghĩa sớ" Tác phẩm này hiện đang được lưu giữ tại Đại chính 37 với số ký hiệu cụ thể.
Ngài Nguyên-chiếu (1048-1116) là một nhân vật quan trọng trong Phật giáo Trung Quốc thời Tống, ông đã dựa vào bản dịch của ngài La-thập để biên soạn A-di-đà kinh sớ Tài liệu này hiện có trong Đại chính, số 37, với ký hiệu tương ứng.
Ngài Chu-hoành (1532-1612), còn được biết đến với tên gọi Châu-hoằng, là một nhân vật quan trọng trong Phật giáo Trung Hoa thời Tống Ông đã dựa vào bản dịch của ngài La-thập để biên soạn A-di-đà kinh sớ sao, hiện đang được lưu giữ tại Tục Tạng 22, ký hiệu 424.
- Ngài Trí-húc (1599-1655), cũng căn cứ vào bản dịch của ngài La-thập để viết A-di-đà kinh yếu giải Hiện có ở Đại chính 37, số ký hiệu 1762
Ngài Nguyên-hiểu (617-?) là một nhân vật quan trọng trong Phật giáo Tân-la, hiện nay là Triều Tiên, và ông đã dựa vào bản dịch của ngài La-thập để biên soạn A-di-đà-kinh sớ Tài liệu này hiện có tại Đại chính 37, số hiệu.
Ngài Viên-nhân (Enin, 794-864) là một nhân vật quan trọng trong Phật giáo Nhật Bản, ông đã dựa vào bản dịch của ngài La-thập để biên soạn A-di-đà hối quá pháp Ông cũng đã đưa kinh A-di-đà do ngài La-thập dịch vào khóa tụng hàng ngày, góp phần quan trọng vào việc truyền bá giáo lý Phật giáo tại Nhật Bản.
Ngài Minh Châu-Hương Hải (1628 - 1715) là một nhân vật quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Lê Ông đã dựa vào bản dịch của ngài La Thập để biên soạn tác phẩm "Phật thuyết A-di-đà kinh sớ sao tự" Tác phẩm này hiện có trong "Toàn tập Minh Châu Hương Hải" do Lê Mạnh Thát biên soạn.
Xb, Tp Hồ Chí Minh, 2000
Ngài Trí-quang (1923 - 2019) là một nhân vật quan trọng trong Phật giáo Việt Nam hiện đại, đã dựa vào bản dịch của ngài La-thập để viết tác phẩm Lược giải Di-đà Tác phẩm này hiện có trong bộ sách Hai thời công phu.
Xb Tp Hồ Chí Minh 2001.
Bản ngài Huyền-tráng
Bản Hán dịch của ngài Huyền-tráng dựa trên bản Phạn văn sớm hơn để dịch Xưng tán Tịnh độ Phật nhiếp thọ kinh, trong khi bản Phạn văn của ngài La-thập được sử dụng để dịch Phật thuyết A-di-đà kinh.
Bản dịch của ngài Huyền-tráng cung cấp nhiều chi tiết phong phú về y báo và chánh báo trang nghiêm trong cõi Tịnh độ của Phật A-di-đà, đồng thời bổ sung những thông tin mà bản dịch của ngài La-thập đã bỏ qua.
Bản dịch của ngài La-thập chỉ mô tả cõi cực lạc với ao bảy báu và tám công đức, trong khi bản của ngài Huyền-tráng bổ sung thêm chi tiết về sự hiện diện của ao bảy báu mầu nhiệm ở khắp nơi và liệt kê cụ thể từng công đức.
Bản ngài Huyền-tráng đã cung cấp thông tin đầy đủ về sự tán dương của chư Phật mười phương đối với công đức vô biên và pháp môn Tịnh độ của đức Phật A-di-đà tại thế giới Tịnh độ Tây phương, khác với bản dịch của ngài La-thập chỉ đề cập đến chư Phật ở sáu phương.
Bản dịch của ngài Huyền-tráng cho thấy rằng chư Phật mười phương tán dương Tịnh độ Tây phương của đức Phật A-di-đà và đức Phật Vô-lượng-thọ nhằm mang lại lợi ích và an lạc cho chúng sanh Chư Phật hiện diện trong cõi nước Tịnh độ của các Ngài, sử dụng thần lực để khuyến khích chúng sanh tin tưởng vào pháp môn trong bản kinh này, khuyến khích họ nỗ lực, không phóng dật và không nghi ngờ Những người tin, thọ trì, diễn giảng và thực hành đúng như pháp là những người cực kỳ hiếm có.
Phần kết thúc của kinh này trong bản dịch của ngài La-thập có sự thiếu sót khi không đề cập đến các vị Bồ tát và Đại sĩ, trong khi bản dịch của ngài Huyền-tráng lại bổ sung thêm những chi tiết quan trọng này.
Hai bản dịch về nhân quả trang nghiêm ở thế giới Cực Lạc Tây Phương của đức Phật A-di-đà có nội dung tương tự, chỉ khác nhau ở một vài chi tiết Bản dịch của ngài La-thập lược gọn, trong khi bản của ngài Huyền-tráng lại bổ sung thêm thông tin Cả hai bản dịch đều hữu ích cho việc học hỏi, nghiên cứu và thực hành.
CÁC KINH VĂN LIÊN HỆ TỊNH ĐỘ CỦA ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ
Ngoài kinh Tiểu bản A-di-đà này, các kinh văn liên hệ trực tiếp đến Tịnh độ của đức Phật A-di-đà như:
Quán Vô-lượng-thọ Phật kinh, còn được biết đến với tên gọi Vô-lượng-thọ quán kinh hay Thập lục quán kinh, là một tác phẩm quan trọng trong Phật giáo Kinh này được dịch bởi ngài Cương-lương-da-xá (383 - 442) trong thời kỳ Lưu Tống và hiện đang được lưu giữ trong Đại chính 12.
Bài kinh này tường thuật lời thỉnh cầu của phu nhân Vi-đề-hy, hoàng hậu vua Tần-bà-ta-la tại thành Vương-xá, nước Ma-kiệt-đà Nhân dịp này, đức Phật đã hiện ra Tịnh độ của Phật A-di-đà ở Cực Lạc Tây phương và hướng dẫn phu nhân Vi-đề-hy ba phương pháp tu nhân phước đức cùng mười sáu pháp quán chiếu.
Vô-lượng-thọ kinh, hay còn gọi là Đại-vô-lượng-thọ kinh, được biết đến tắt là Đại kinh, là một tác phẩm kinh điển quan trọng Kinh này được dịch bởi ngài Khang-tăng-khải vào thời kỳ Tào Ngụy, khoảng năm 252 trước Lịch Hiện nay, kinh này được lưu giữ tại Đại chính 12.
Nội dung kinh này, ghi lại bốn mươi tám đại nguyện của
Tỷ kheo Pháp-tạng phát nguyện trước đức Phật Thế-tự-tại- vương và đã được Ngài ấn chứng
Kinh A-di-đà-cổ-âm-thanh-vương, hay còn được biết đến với tên gọi Cổ-âm-thanh kinh hoặc đơn giản là Cổ-âm kinh, là một tác phẩm quan trọng trong kinh điển Phật giáo Hiện nay, kinh này không còn ghi rõ tên người dịch và được lưu giữ trong Đại chính 12.
Nội dung kinh này, ghi lại bấy giờ đức Phật ở thành
Chiêm-ba (Campā), nằm phía Nam thành Phệ-xá-li (Vaiśāli) Ấn Độ, nói về thế giới Cực lạc Tịnh độ Tây phương và công đức trang nghiêm của đức Phật A-di-đà, được truyền đạt cho đại chúng Tỷ khưu Trong đó, tên nước là Thanh-thái, phụ thân là Nguyệt-thượng, mẫu hậu là Thù-thắng Diệu-nhan, và thân tử trước khi xuất gia là Nguyệt-minh Các đệ tử của Ngài bao gồm thị giả Vô-cấu-xưng và đệ tử Trí tuệ Hiền-quang Cuối kinh, Ngài khuyên nên đọc tụng Đại-đà-la-ni.
Cổ âm thanh vương, chuyên tâm trì niệm suốt ngày đêm, chỉ chuyên nhất trong mười ngày như vậy, thì nhất định diện kiến đức Phật A-di-đà
Ngoài các kinh liên hệ trực tiếp đến Tịnh độ của đức Phật A-di-đà, còn có các kinh liên hệ gián tiếp như sau:
Theo Trí-quang Thượng nhân, bốn thành pháp của Trường A-hàm là nền tảng của pháp môn Tịnh độ, đặc biệt là Tịnh độ Cực lạc Thượng nhân nhấn mạnh rằng bốn thành pháp này bao gồm: Ở Trung Quốc, gần thiện hữu, tự cẩn thận, và phước đời trước.
4 Tứ thành pháp: Nhất giả trú trung quốc, nhị giả cận thiện hữu,
Tôi nhận rằng, tư tưởng này đã là căn bản của pháp môn Tịnh độ, đặc biệt là Tịnh độ Cực lạc 5
Để đạt được thành tựu đạo quả, cần chú ý đến bốn yếu tố quan trọng: Trung Quốc là nơi có Chánh pháp, sống gần gũi với thầy bạn tốt, tự cẩn thận và không phóng dật Ngoài ra, phước báu từ đời trước cũng đóng vai trò quan trọng, giúp tránh khỏi bệnh tật và thiếu thốn trong cuộc sống.
Chín tịnh cần chi là những thành pháp mà Đức Phật dạy trong Tăng Nhất Kinh thuộc văn hệ Trường A-hàm, có mối liên hệ mật thiết với Tịnh độ Phật A-di-đà Các thành pháp này bao gồm: Giới tịnh cần chi, tâm tịnh cần chi, kiến tịnh cần chi, độ nghi tịnh cần chi, phân biệt tịnh cần chi, đạo tịnh cần chi, trừ tịnh cần chi, vô dục tịnh cần chi, và giải thoát tam giả tự cẩn thận, tứ giả túc thực thiện bản Những giáo lý này không chỉ giúp người tu hành đạt được sự thanh tịnh mà còn mở ra con đường dẫn đến giác ngộ.
5 Trí-quang Thượng nhân, Hai Thời Công Phu, tr 361, Nxb Tp
6 Chín tịnh cần chi hay còn gọi là chín tịnh diệt chi (parisuddhipadhāniyaṅga), chín thành phần cần nỗ lực để có đời sống thanh tịnh tịnh cần chi 7
Tu tập chín tịnh cần chi này, thành tựu đời sống thanh tịnh của Niết bàn hay thành tựu đời sống Tịnh độ của chư Phật