1. Trang chủ
  2. » Tất cả

6jl7t81lCkvOySyn2015 - ICMP-CCCEP Phase I - Final Report VN

25 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 6,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ICMP / CCCEP PHA I: BÁO CÁO TỔNG KẾT Chương trình Quản lý tổng hợp vùng ven biển và rừng ngập mặn nhằm thích nghi với Biến đổi khí hậu/Biến đổi khí hậu và các Hệ sinh thái ven biển vùng

Trang 1

ICMP / CCCEP

PHA I: BÁO CÁO TỔNG KẾT

Chương trình Quản lý tổng hợp vùng ven biển và rừng ngập mặn nhằm thích nghi với Biến đổi khí hậu/Biến đổi khí hậu và các Hệ sinh thái ven biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

ICMP/CCCEP Pha I MÔ TẢ TÓM TẮT

1 MÔ TẢ TÓM TẮT

Sơ lược về chương trình

Các tác động chính

Sơ lược về chương trình

Đồng bằng sông Cửu Long là nơi cư trú của 17 triệu người và là vùng canh tác nông nghiệp quan trọng nhất của cả nước

Sản lượng lúa gạo của vùng chiếm 52%

tổng sản lượng của cả nước, cung cấp lương thực cho hơn 145 triệu dân sinh sống ở khu vực Châu Á - gần bằng tổng dân số của cả Đức và Pháp cộng lại Nhờ có Đồng bằng sông Cửu Long mà Việt Nam,

từ nước trải qua nạn thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới

Tuy nhiên, hiện nay Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với các mối đe dọa Biến đổi khí hậu dẫn đến tình trạng nước biển dâng Theo các nghiên cứu chính thức, 38% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long có thể bị nước biển nhấn chìm vào năm 2100 Một số khu vực ven bờ đang bị xâm thực khoảng 30 m mỗi năm Rừng ngập mặn dọc theo bờ biển bảo vệ đất liền khỏi ảnh hưởng của bão,

lũ hiện đang bị suy giảm nghiêm trọng Bên cạnh đó, bão

lũ cũng có thể gia tăng đáng kể trong tương lai Ngoài ra, tình trạng xâm nhập mặn gia tăng dẫn đến đất nhiễm mặn, gây khó khăn đáng kể cho sản xuất nông nghiệp

Ngoài biến đổi khí hậu, các hệ sinh thái tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long cũng cho thấy có sự thay đổi trên quy

mô lớn Điều này xảy ra do mất rừng ven biển, thay đổi dòng chảy tự nhiên, các hoạt động nuôi trồng thủy sản và thâm canh nông nghiệp Các thách thức này đe dọa đến tương lai của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và khả năng cung cấp các dịch vụ sinh thái quan trọng mà cuộc sống của cộng đồng dân cư địa phương và hàng triệu người dân trên toàn cầu phụ thuộc vào đó

Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức và các thách thức này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Ví dụ, rừng ngập mặn là một phần không thể thiếu trong bảo vệ vùng ven biển; bảo vệ vùng ven biển đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát độ mặn của đất;

độ mặn của đất có tác động đến sản xuất nông nghiệp; quản lý nước mặn cho các nhu cầu sản xuất nông nghiệp

và nuôi trồng thủy sản thường phức tạp và dẫn đến mâu thuẫn giữa những người dân …

Đây là lý do tại sao Chính phủ Úc, Đức và Việt Nam cùng nhau khởi động thực hiện chương trình phát triển tổng

biển Đồng bằng sông Cửu Long có khả năng chống chịu tốt hơn với biến đổi khí hậu Mục tiêu trong Pha I (2011-2014) của ICMP/CCCEP là quản lý và bảo vệ có hiệu quả các hệ sinh thái ven biển nhằm giảm thiểu và thích ứng

Các số liệu tổng quát

Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc (DFAT) – Cơ quan Hỗ trợ Phát triển của Úc

cơ quan Thực hiện Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ

Phạm vi Thực hiện Cấp trung ương, Sóc Trăng, Bạc Liêu, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau

1 ICMP: Bảo vệ tổng hợp vùng ven biển và rừng ngập mặn nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long; CCCEP: Chương trình Biến đổi khí hậu và các hệ sinh thái ven biển

Trang 4

ICMP/CCCEP Pha I MÔ TẢ TÓM TẮT

với các rủi ro về môi trường có liên quan đến biến đổi khí

hậu Các hoạt động được thực hiện ở cấp trung ương và

5 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long là: Sóc Trăng, Bạc

Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và An Giang

Các lĩnh vực hoạt động chính của Chương trình gồm quản

lý các giải pháp kỹ thuật, sinh kế bền vững, nhận thức về

môi trường và quản lý vùng ven biển Trong các lĩnh vực

này, chương trình cũng đã đạt được một số thành công

giúp vùng ven biển có khả năng chống chịu tốt hơn với sự

thay đổi của môi trường

Quản lý các giải pháp kỹ thuật

Ngăn chặn tình trạng mất đất và mất rừng

Hàng rào chắn sóng: Chương trình đã xây dựng giải

pháp mới, hiệu quả về mặt kinh tế và thân thiện với môi

trường nhằm ngăn chặn việc mất đến 30 m đất ra biển

mỗi năm; và thậm chí còn giành lại được đến 180m đất

từ biển trong vòng 2 năm với giải pháp này, từ đó giúp

40.000 người dân an toàn trước các hiện tượng thời

tiết cực đoan như bão và lũ2

Phục hồi rừng ngập mặn: Chương trình đã thành công

trong việc phục hồi rừng ngập mặn, cả trên khu vực đất

trống mà trước đó không thể trồng cây Kỹ thuật này

hiện đang được những người làm nghề rừng Việt Nam

áp dụng

Đồng quản lý rừng: Chương trình đi tiên phong trong

việc xây dựng mô hình trong đó người dân địa phương

chia sẻ trách nhiệm quản lý rừng ngập mặn với các cơ

quan chính quyền, trao quyền sử dụng rừng cho người

dân vì sinh kế của họ

Hệ thống Hỗ trợ ra quyết định về bảo vệ vùng ven

biển: Đã thực hiện các bước đầu tiên giới thiệu các

phương pháp đánh giá sự thay đổi dọc theo đường bờ

biển nhằm đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả hơn

cho các giải pháp bảo vệ vùng ven biển

Sinh kế bền vững

Kỹ thuật canh tác thích ứng với sự thay đổi của

môi trường

Sinh kế: Chương trình đã giới thiệu một số giải pháp

sinh kế thích ứng với sự thay đổi của môi trường vùng

Đồng bằng sông Cửu Long Hơn 8.500 nông dân đã

trực tiếp tham gia và tiếp tục nhân rộng các biện pháp

sinh kế này với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương

Tưới tiết kiệm nước (AWD): Ví dụ như, việc giới

thiệu phương pháp canh tác lúa cải tiến áp dụng kỹ

Cánh đồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long

thuật Tưới ướt khô xen kẽ (AWD) đã giúp giảm tới 30% lượng nước và thuốc bảo vệ thực vật, trong khi lại giúp nông dân tăng 40% lợi nhuận

Nuôi trồng thủy sản trong rừng ngập mặn: Cải tiến

trồng rừng ngập mặn tại các đầm tôm giúp tăng 27% lợi nhuận, giảm khả năng bị tổn thương trước dịch bệnh của tôm và góp phần bảo vệ rừng ngập mặn vùng ven biển

Đánh giá chuỗi giá trị nuôi trồng thủy sản: Đã đánh

giá chuỗi giá trị đối với tôm sinh thái thân thiện với môi trường được cấp chứng chỉ và không được cấp chứng chỉ nhằm đưa ra tư vấn tốt hơn trong quá trình xây dựng chiến lược tiếp thị trong Pha II của Chương trình

Nhận thức môi trường

Hiểu được tầm quan trọng của môi trường tự nhiên

Nhận thức: Chương trình đã khởi xướng một loạt các

hoạt động nhằm nâng cao nhận thức môi trường tại Đồng bằng sông Cửu Long, đặt nền móng cho công tác bảo vệ hệ sinh thái trong tương lai

Sách và tài liệu giảng dạy: Đáng kể nhất, các vấn đề

có liên quan đến môi trường và biến đổi khí hậu được lồng ghép vào kế hoạch giảng dạy ở các trường cấp 1, 2

và cấp 3 tại một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long,

và đã biên soạn một số quyển sách giáo khoa về nhận

* Đất liền hay không phải là đất liền?

Tại vùng ven bờ của Đồng bằng sông Cửu Long, thường rất khó xác định xem đất liền kết thúc tại đâu và biển bắt đầu từ đâu “Đất liền” được đề cập trong báo cáo này tương đương với “nơi rừng ngập mặn có thể sinh trưởng”, đó là phần đất liền

đủ cao so với mực nước biển và do đó có cơ cấu

đủ chắc để cát không bị nước biển rửa trôi Xói lở được xác định là sự mất đất và bồi lắng chính là giành lại phần đất mất đi đó

2 Tất cả các số liệu về đầu ra và tác động của Chương trình có được từ số liệu giám sát chương trình.

3 Để biết thêm chi tiết các vấn đề về giới trong bối cảnh quản lý vùng ven biển, tham khảo báo cáo của ICMP/CCCEP „Đánh giá vai trò của nữ giới trong Bảo vệ môi trường Vùng ven biển“ (2013).

thức môi trường

Giáo viên: Tổng số hơn 25.000 giáo viên cam kết tham

gia, hơn một nửa trong số này tham gia các khóa tập huấn về cách thức chuyển tải các vấn đề môi trường vào bài giảng – đây là một sáng kiến mới ở Đồng bằng sông Cửu Long

Quản lý vùng ven biển

Đưa các giải pháp được xây dựng ở địa phương thành chính sách quốc gia

Chính sách: Chương trình đã thành công trong việc

đưa các kinh nghiệm thực tế thành các chính sách và tiêu chuẩn hiện đang được dự thảo tại cấp trung ương, đây là cơ sở để giới thiệu các giải pháp kỹ thuật mới trên toàn quốc Sự ủng hộ từ Chính phủ Việt Nam là một trong các yếu tố thành công chính của chương trình

Quản lý rừng: Một gói gồm 4 chính sách sẽ cho phép

quản lý hiệu quả rừng ven biển (ngoài các sáng kiến khác) thông qua sự tham gia chặt chẽ của người dân địa phương và thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng hơn

về phục hồi rừng ngập mặn – có được từ kinh nghiệm thực hiện của chương trình tại các tỉnh

Quản lý nước: Một số biện pháp được áp dụng hỗ

trợ chính quyền đưa ra các quyết định đúng đắn hơn

về quy hoạch và quản lý nguồn nước ngọt, nước lợ và nước mặn cũng như các công trình phụ trợ tại Đồng bằng sông Cửu Long, phục vụ sản xuất nông nghiệp bền

vững và năng suất hơn

Lập kế hoạch và ngân sách: Chương trình đã bắt

đầu hỗ trợ xây dựng cấu trúc tài chính công về biến đổi khí hậu thông qua phân tích các lỗ hổng giữa chiến lược của quốc gia và tỉnh với ngân sách thực

chi có liên quan đến biến đổi khí hậu tại địa phương

Nhờ các biện pháp này, Chương trình đã có thể cải thiện điều kiện sống cho những người yếu thế và các cộng đồng địa phương, những người chịu tác động nhiều nhất từ sự thay đổi của môi trường Đặc biệt, các hoạt động tập trung vào đồng quản lý rừng và sinh kế đều hướng đến nhóm người nghèo và đã giúp họ nâng cao khả năng chống chịu trước sự thay đổi của môi trường cũng như tăng thu nhập Hướng tiếp cận thể chế hóa các giải pháp kỹ thuật do Chương trình xây dựng sẽ là một trong các nhân tố định hướng trong pha II, từ 2014-2017 Trong Pha II, Chương trình sẽ tập trung nhân rộng các giải pháp kỹ thuật nhằm đạt được tác động toàn diện trên phạm vi lớn hơn Việc này bao gồm biến các sáng kiến thành chính sách và quy định, thiết lập các mối quan hệ đối tác mới giúp tạo ra sức mạnh tổng hợp, và tăng khả năng về tài chính và kỹ thuật của các cơ quan chính quyền khi đưa ra các thay đổi cần thiết, giúp Đồng bằng sông Cửu Long chống chịu tốt hơn với sự thay đổi của môi trường, duy trì sinh kế và thúc đẩy tăng trưởng bền vững

Trang 5

→ 99% đê biển của Sóc Trăng và Bạc Liêu hiện không

bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sóng biển

Nhận thức môi trường:

→ Nâng cao nhận thức cho hơn 25.000 giáo viên

→ Các vấn đề về môi trường được đưa vào kế hoạch giảng dạy chính thức tại các trường học và đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo thông qua

→ 93% học sinh tiểu học tại Kiên Giang tham gia khảo sát cho rằng đã thay đổi hành vi của mình đối với môi trường

Quản trị vùng ven biển:

→ Gói chính sách về quản lý rừng dự kiến mang lại tác động tích cực cho khoảng 3.200 km đường bờ biển của Việt Nam và mang lại lợi ích cho 8,7 triệu người

→ Gói chính sách về quản lý tưới dự kiến được

sử dụng bởi 11.000 hiệp hội quản lý nước

và mang lại lợi ích cho hơn 300.000 ha diện tích canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Ngân sách bổ sung:

→ Chương trình đã hỗ trợ các cơ quan của Việt Nam tiếp cận khoản vay trị giá 32,5 triệu USD cho các dự án bổ sung liên quan đến các lĩnh vực chủ chốt của chương trình (xem trang 37 để biết thêm chi tiết)

Vùng ven biển Đồng bằng

sông Cửu Long có khả năng

chống chịu cao hơn với biến

đổi khí hậu thông qua:

ICMP/CCCEP Pha I MÔ TẢ TÓM TẮT

Sinh kế bền vững:

→ 22 mô hình sinh kế phục vụ 8.500 hộ gia đình giúp làm giảm áp lực lên môi trường và tăng thu nhập cho các hộ gia đình khoảng 20-80%

→ Kỹ thuật sản xuất lúa áp dụng phương pháp tưới ướt khô xen kẽ (AWD): giảm 30% lượng nước và thuốc bảo vệ thực vật sử dụng, tăng 40% thu nhập

→ Các kỹ thuật nuôi trồng thủy sản trong rừng ngập mặn: không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tăng 27% thu nhập

Trang 6

ICMP/CCCEP Pha I THÔNG TIN KHÁI QUÁT

2 THÔNG TIN KHÁI QUÁT

Các đối tác và nhà tài trợ chương trình

Bối cảnh: Đồng bằng sông Cửu Long

Các mục tiêu của Chương trình

về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi / các dịch vụ quản

lý nước, phát triển nông thôn và các lĩnh vực khác Bộ

NN & PTNT là cơ quan chủ quản của chương trình ICMP / CCCEP; theo đó Bộ NN & PTNT và các cơ quan trực thuộc

Bộ ở cấp tỉnh (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

là các đối tác thực hiện quan trọng nhất Ban Quản lý các

Dự án Lâm nghiệp thuộc Bộ NN & PTNT là cơ quan phối hợp thực hiện Chương trình

BỘ ngOại giaO và Thương mại Úc (DFaT) – cơ quan

hỖ Trợ PhÁT TriỂn Úc

Chương trình hỗ trợ nước ngoài của chính phủ Úc là một chương trình do chính phủ liên bang cấp vốn nhằm giúp giảm nghèo tại các nước đang phát triển Bộ Ngoại giao

và Thương mại Úc – Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc chịu trách nhiệm quản lý chương trình Chính phủ Úc phối hợp với chính phủ các nước, Liên hợp quốc, các công ty của

Úc và các tổ chức phi chính phủ thiết kế và xây dựng các

dự án, khắc phục các nguyên nhân và hậu quả của đói nghèo tại các nước đang phát triển thông qua Bộ Ngoại giao và Thương mại – Cơ quan Hỗ trợ Phát triển Úc

Chương trình cho quốc gia Việt Nam tập trung vào thúc đẩy hội nhập kinh tế hơn nữa trong khu vực của Việt Nam thông qua hỗ trợ cơ sở hạ tầng giao thông vận tải và cải cách kinh tế; tăng cường nguồn nhân lực của Việt Nam và nâng cao tính bền vững môi trường

BỘ hợP TÁc Kinh TẾ và PhÁT TriỂn Liên Bang ĐỨc (BmZ)

Bộ Hợp tác kinh tế và Phát triển Liên bang Đức xây dựng các hướng dẫn và quan điểm làm cơ sở cho chính sách phát triển của Đức Đây là cơ sở để xây dựng các dự án hợp tác với các nước đối tác và các tổ chức phát triển quốc tế

Kể từ năm 1990, Đức đã cấp hơn 1,8 tỉ Euro cho Việt Nam, hầu hết dưới hình thức vốn vay đối với các chương trình hợp tác chung Các lĩnh vực trọng tâm trong hợp tác song phương với Việt Nam là môi trường (quản lý vùng ven biển và đa dạng sinh học), năng lượng và đào tạo nghề

TỔ chỨc hợP TÁc PhÁT TriỂn ĐỨc giZ

Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ là một doanh nghiệp thuộc chính phủ liên bang Đức chuyên hỗ trợ kỹ thuật cho các quá trình chuyển đổi kinh tế, chính trị,

xã hội dưới hình thức hợp tác quốc tế và hợp tác phát triển GIZ hoạt động tại 130 quốc gia trên khắp thế giới thay mặt cho chính phủ Đức, các nhà tài trợ khác và các bên liên quan được lựa chọn thuộc khối tư nhân

Theo đó, GIZ là cơ quan thực hiện ICMP / CCCEP Trong hơn 20 năm hoạt động tại Việt Nam, GIZ hiện có khoảng

250 chuyên gia làm việc trên khắp cả nước, bao gồm nhân sự trong nước và quốc tế, chuyên gia phát triển và các chuyên gia quốc tế khác

Các đối tác và nhà tài trợ chương trình

Trang 7

ICMP/CCCEP Pha I THÔNG TIN KHÁI QUÁT

Bối cảnh: Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long là nơi cư trú của 17 triệu

người và là vùng canh tác nông nghiệp quan trọng nhất

của cả nước Sản lượng lúa gạo của vùng chiếm 52%

tổng sản lượng của cả nước, nhờ có Đồng bằng sông Cửu

Long mà Việt Nam – quốc gia đã từng trải qua nạn thiếu

lương thực hiện trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn

thứ hai trên thế giới Đồng bằng sông Cửu Long cũng là

vùng công nghiệp lớn thứ ba cả nước, chỉ đứng sau thủ

đô Hà Nội và TP.HCM

Tuy nhiên, hiện nay Đồng bằng sông Cửu Long đang phải

đối mặt với các mối đe dọa Biến đổi khí hậu dẫn đến tình

trạng nước biển dâng Theo các nghiên cứu chính thức,

38% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long có thể bị nước

biển nhấn chìm vào năm 2100 Một số khu vực ven bờ

đang bị xâm thực khoảng 30 m mỗi năm Rừng ngập mặn

dọc theo bờ biển bảo vệ đất liền khỏi ảnh hưởng của bão,

lũ hiện đang bị suy giảm nghiêm trọng Mức độ gia tăng

xâm nhập mặn dẫn đến tình trạng đất nhiễm mặn, gây

khó khăn đáng kể cho sản xuất nông nghiệp Ngoài biến

đổi khí hậu, thực tiễn sản xuất nông nghiệp bất hợp lý,

như sử dụng không đúng mức thuốc trừ sâu cũng gây ra

sự mất cân bằng các hệ sinh thái ven biển Tương lai của

toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang bị đe dọa

Tuy nhiên, các cơ quan trong nước chưa đủ năng lực để

ngăn chặn các xu hướng này Các cơ quan chức năng ở

cấp trung ương và địa phương cũng chưa tìm ra được

các giải pháp kỹ thuật mang tính chiến lược cũng như là

các phương tiện tài chính để chuẩn bị cho vùng ven biển

Đồng bằng sông Cửu Long có khả năng chống chịu với môi

trường đầy biến động Hơn nữa, các cơ quan thực hiện ở

cấp trung ương và địa phương cần phải hợp tác chặt chẽ

hơn nữa để thực hiện các giải pháp đã được xác định là phù hợp “Thiếu liên kết trong thực hiện” giữa các chiến lược quốc gia và hành động ở cấp địa phương là thách thức chính tại Việt Nam

Tất cả những thách thức này không chỉ đặt ra viễn cảnh khó khăn đối với môi trường vùng Đồng bằng sông Cửu Long mà còn gây ra các hậu quả tức thời về kinh tế

Trong một vùng mà nền kinh tế phụ thuộc đáng kể vào nông nghiệp (đặc biệt là trồng lúa và cây ăn quả) và nuôi trồng thủy sản (nuôi cá và tôm), điều hết sức quan trọng

là đất và các hệ sinh thái có thể giúp duy trì các hoạt động này, nếu không hàng triệu nông dân nghèo sẽ phải đối mặt với nguy cơ thu nhập thấp hoặc không có thu nhập

Tại những vùng nơi mà cánh đồng lúa và ao nuôi tôm tiếp giáp nhau, việc mất đất do xâm thực có nghĩa rằng các áp lực về kinh tế và xã hội nhân lên gấp bội Việt Nam đang ở giữa thời kỳ chuyển đổi từ một nước đang phát triển sang một nước mới nổi nên sẽ cần phải giữ vững được tốc độ tăng trưởng để giữ đà kinh tế ở mức cao

Trong bối cảnh này, sự suy thoái liên tục của các

hệ sinh thái chỉ là một vấn đề Mối đe dọa nghiêm trọng khác đối với Đồng bằng sông Cửu Long là các hiện tượng thời tiết cực đoan, đặc biệt là lũ

và bão lớn Trong trường hợp có lũ, bão lớn, một lượng lớn nước có thể tràn qua đê tại các điểm khác nhau và có thể khiến nước xâm nhập vào sâu trong nội địa từ 20 – 30 km

mà không thể tiêu thoát được Điều này sẽ gia tăng đáng

kể hiện tượng đất bị mặn hóa và phá hủy diện tích lớn hoa màu, đặt sinh kế của hàng vạn nông dân trong tình trạng

bị đe dọa

Các mục tiêu của chương trình

Mục đích của chương trình là củng cố bờ biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng cách tăng khả năng chống chịu trước các biến đổi của khí hậu và môi trường Mục tiêu của giai đoạn I (2011- 2014) là quản lý và bảo vệ hiệu quả các hệ sinh thái ven biển nhằm giảm nhẹ và thích ứng với các hiểm họa môi trường có liên quan đến biến đổi khí hậu Trong đó có bảo vệ vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở thành một vùng kinh tế đảm bảo sinh kế cho người dân nơi đây

Việc quản lý các mối đe dọa đối với bờ biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo phương pháp tiếp cận ngành một chiều là không khả thi Bản chất của vấn đề là nhiều

vấn đề xâu chuỗi với nhau, như quản lý nước, lâm hiệp, đê điều, nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp Các vấn đề này thuộc trách nhiệm của nhiều cơ quan chức năng khác nhau tại Việt Nam nhưng mức độ phối hợp lại thấp

ng-Đây là lí do tại sao cần có một phương pháp tiếp cận liên ngành và theo chiều dọc cho ICMP / CCCEP, bao quát 4 lĩnh vực trọng tâm là: quản lý các giải pháp kỹ thuật, sinh kế bền vững, nâng cao nhận thức môi trường

và quản trị vùng ven biển ở cả cấp trung ương và địa phương Chỉ bằng cách kết hợp các lĩnh vực này – ví dụ bằng cách đưa các kinh nghiệm trong quản lý các giải pháp kỹ thuật cấp tỉnh thành quy định pháp lý về vùng ven biển ở cấp quốc gia, hoặc nâng cao nhận thức về các biến động môi trường để khuyến khích người nông dân thay đổi kỹ thuật của họ cho phù hợp – chương trình đã

có thể đạt được các mục tiêu đề ra

Theo khung thể chế, pháp lý và chiến lược của Chính phủ Việt Nam, tất cả các hoạt động của chương trình đều nhằm hỗ trợ các cơ quan chức năng cấp trung ương và địa phương trong 4 lĩnh vực có liên quan chặt chẽ đến các thách thức mà khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt

Quản lý các giải pháp kỹ thuật

cho đất

quá trình ra quyết định nhằm bảo vệ vùng ven biển hiệu quả và hiệu lực hơn

Sinh kế bền vững

các kỹ thuật bền vững và hiệu quả hơn nhằm thích ứng với một môi trường biến động và có thu nhập cao hơn

Nâng cao nhận thức môi trường

lợi ích của các hành vi bền vững

Quản trị vùng ven biển

quy chuẩn và tiêu chuẩn quốc gia mà có thể áp dụng được khi thích hợp

Cửa cống này 10 năm trước ở sát một con

đê trước khi bức ảnh này được chụp nhưng

bây giờ nó đã cách bờ biển 300m,

chứng tỏ rằng mỗi năm bị xói lở 30m

Trang 8

ICMP/CCCEP Pha I THÔNG TIN KHÁI QUÁT

Thiết lập chương trình

ICMP / CCCEP là một chương trình của chính phủ Việt Nam

do chính phủ các nước Úc, Đức và Việt Nam đồng tài trợ và

Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ triển khai thực hiện

Trong Giai đoạn I, chương trình có một hợp phần trung

ương thực hiện tại Hà Nội và 5 hợp phần cấp tỉnh tại 5 tỉnh

Đồng bằng sông Cửu Long là Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau,

Kiên Giang và An Giang Các dự án thành phần tỉnh Sóc

Trăng và Cà Mau được cấp vốn độc lập từ Bộ Hợp tác kinh

tế và Phát triển Đức (BMZ), và Bộ Môi trường Đức (BMU)

Bộ NN & PTNT là cơ quan chủ quản của chương trình và

là đối tác thực hiện quan trọng nhất bên cạnh các cơ quan

trực thuộc Bộ ở cấp tỉnh (Sở NN & PTNT) và Ủy ban nhân

dân (UBND) tỉnh Các UBND tỉnh đóng vai trò quyết định

trong việc xây dựng và triển khai các hướng dẫn và pháp

lệnh về thực hiện các biện pháp bền vững và có khả năng

chống chịu với khí hậu

Chương trình hiện đang làm việc với nhiều cơ quan trực

thuộc Bộ NN & PTNT

nghiệp trực thuộc Bộ NN & PTNT về mặt thể chế Ban

Quản lý các Dự án Lâm nghiệp chịu trách nhiệm thực

hiện các chương trình và hợp tác tài chính

tác thực hiện cấp trung ương Tổng cục Thủy lợi chịu

trách nhiệm xây dựng và triển khai các chính sách

quốc gia thuộc lĩnh vực quản lý và hệ thống thủy lợi,

quy hoạch và quản lý đê điều, phòng chống lũ lụt và

thiên tai

cấp trung ương Tổng cục Lâm nghiệp chịu trách

nhiệm xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách

quốc gia, trong đó có các chính sách về quản lý lâm

nghiệp, bao gồm đồng quản lý, quản lý và bảo vệ rừng

ven biển

Bộ NN & PTNT làm trưởng ban quản lý tổng thể

Chương trình

Ngoài ra, chương trình đang hợp tác với các bộ khác như

Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ

Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ Các Bộ này và cơ

quan trực thuộc ở cấp tỉnh đóng vai trò chủ đạo trong

việc xây dựng các chính sách có liên quan, các kế hoạch

phát triển và hướng dẫn cũng như triển khai thực hiện các hoạt động cơ sở

An Giang

Dong Thap

Long An

TP Ho Chi Minh

Tien Giang

Ben Tre Vinh Long

An Giang

Dong Thap

Long An

TP Ho Chi Minh

Tien Giang

Ben Tre Vinh Long

Tra Vinh

Trang 9

ICMP/CCCEP Pha I Lĩnh vực hoạt động

Ngăn chặn sự mất đất và mất rừng

Khái quátQuản lý các giải pháp kỹ thuật là một lĩnh vực hoạt động trọng tâm của chương trình và nhận được sự quan tâm lớn, do đó đón nhận rất nhiều chuyến tham quan của các chính trị gia, giới chuyên môn, truyền thông trong nước

và quốc tế Lí do là: chương trình đi tiên phong trong việc xây dựng các giải pháp chi phí thấp mà bền vững cho một

số vấn đề quan trọng nhất của vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long – mất đất do biển xâm thực và suy giảm nhanh chóng các khu rừng ngập mặn

Ngày nay, đai rừng ngập mặn giữa vùng nước và đất liền đang thu hẹp lại từ cả hai phía Từ phía đất liền, những người nông dân muốn chiếm các phần rừng có giá trị làm đất trồng lúa và ao nuôi tôm, và người dân địa phương hoặc những người không có đất chặt phá rừng lấy gỗ để bán kiếm tiền hoặc dùng làm củi đốt Áp lực khác đến từ các kênh thủy lợi tạo ra dòng chảy theo 2 hướng: từ sông Cửu Long đổ ra biển và từ biển đổ vào các ao nuôi tôm,

cá Khi các kênh dẫn nước đổ ra biển, thường xảy ra hiện tượng xói lở

Hiện tượng xói lở này – mất đất do biển xâm thực – là mối

đe dọa lớn đối với rừng ngập mặn ở phía biển, và là một thách thức lớn đối với người dân vùng ven biển: xâm thực đến 30 m mỗi năm nghĩa là nếu không có biện pháp can thiệp, các ngôi nhà mà hiện đang nằm cách bờ biển 300 m

sẽ nằm sát ngay trên bờ biển trong 10 năm nữa

Một biện pháp can thiệp là đê Các con đập nhân tạo giúp ngăn nước biển không tràn vào đất liền trong trường hợp

có lũ Về mặt lý thuyết, các tuyến đê là đủ để bảo vệ vùng nội địa không bị ngập lụt nếu không có điểm yếu là: các tuyến đê không chỉ làm xáo trộn hệ sinh thái ven biển tự nhiên mà còn rất tốn kém và phức tạp khi xây cũng như duy tu, sửa chữa

Do đó sự kết hợp giữa các tuyến đê được thiết kế tốt với các khu rừng ngập mặn được bảo vệ và các kỹ thuật chống xói lở cải tiến là giải pháp thích hợp nhất để bảo vệ đất

không bị biển lấn tại các vùng như Đồng bằng sông Cửu Long Cách thức hoạt động: các hàng rào chắn sóng (xem hình dưới) làm suy giảm năng lượng sóng, tạo điều kiện bồi lắng và khôi phục các bãi bồi bị mất để có thể trồng rừng ngập mặn trên đó Rừng ngập mặn là tuyến phòng

hộ đầu tiên trước lũ và bão bằng cách suy giảm hiệu quả năng lượng sóng cồn; các tuyến đê có chức năng là hàng rào bảo vệ cuối cùng mà chỉ các trận lũ lớn mới có thể vượt qua

Lợi thế này của rừng ngập mặn so với đê là có thể định lượng được Ở miền Bắc Việt Nam, nơi mà đặc điểm vùng ven biển khác với Đồng bằng sông Cửu Long nhưng vẫn

có thể sử dụng để tham khảo, rừng ngập mặn đã được phục hồi ở phía trước đê, do đó giảm áp lực lên đê và giảm chi phí cho việc tu sửa đê Theo một nghiên cứu của Hội chữ thập đỏ, “với khoản đầu tư ban đầu là 1,1 triệu USD cho phục hồi rừng ngập mặn ở miền Bắc Việt Nam đã tiết kiệm 7,3 triệu USD tu sửa đê hàng năm” (Nguồn: Báo cáo đánh giá của chương trình trồng rừng ngập mặn / phòng ngừa thảm họa 2005 do hội chữ thập đỏ Đan Mạch và Nhật Bản tài trợ) Một phân tích chi phí – lợi ích có tính khoa học, định lượng đã đánh giá các hoạt động của ICMP / CCCEP tại tỉnh Sóc Trăng và thấy rằng phương pháp tiếp cận quản lý các giải pháp kỹ thuật ven biển dựa vào hệ sinh thái rẻ hơn gấp 5 lần so với việc nâng cấp và tu sửa một tuyến đê mà không áp dụng thêm các phương pháp tiếp cận dựa vào hệ sinh thái, như là rừng ngập mặn ở phía trước đê

Bên cạnh các lợi ích về bảo vệ vùng ven biển, rừng ngập mặn cũng đóng góp đáng kể cho tính đa dạng sinh học và nền kinh tế, cụ thể 70 – 80% sản lượng cá được đánh bắt

xa bờ trải qua nửa vòng đời của chúng trong rừng ngập mặn Theo đó, mỗi ha rừng ngập mặn bị chặt phá tương ứng với việc mất đi hơn một tấn sản lượng đánh bắt ở vùng ven biển, tương đương 37.500 USD (nguồn: Viện Hải dương học Scripps)

3 CÁC LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG

Quản lý các giải pháp kỹ thuật

Sinh kế bền vững

Nâng cao nhận thức môi trường

Quản trị vùng ven biển

Các hoạt động khác

Quản lý các giải pháp kỹ thuật

Trang 10

18 0m

11 0m

ICMP/CCCEP Pha I Lĩnh vực hoạt động

Đất trống được Chương trình khôi phục

Phục hồi rừng ngập mặn trên bãi lầy (đã trồng rừng)

Tái sinh tự nhiên rừng ngập mặn sau khi trồng

N

Trang 11

ICMP/CCCEP Pha I Lĩnh vực hoạt động

đã được nhân rộng ở cả trong nước và nước ngoài và đã

nhận được sự quan tâm lớn từ các chuyên gia, giới chuyên

môn và truyền thông Chìa khóa thành công của mô hình

là sự kết hợp giữa mô hình hóa thủy văn phức tạp và các

hàng rào tre đơn giản, kết quả là giảm xói lở và phục hồi

rừng ngập mặn

Thực tế ở Đồng bằng sông Cửu Long biển đang nuốt nhiều

đất hơn là do một vài yếu tố Thứ nhất, nước biển dâng

tạo nên các con sóng mạnh hơn gây xói lở Thứ hai, các nỗ

lực phục hồi rừng ngập mặn trong quá khứ sử dụng các

loại cây không phù hợp và không có khả năng bảo vệ đất

khỏi xói lở; ví dụ loại cây rừng ngập mặn thường được

trồng là đước không phù hợp ở rìa phía biển và do đó

không phải là phương án tốt nhất để chống xói lở Nguyên

nhân tiềm tàng thứ ba là sự thay đổi của lưu lượng phù sa

dọc sông Cửu Long

Các hàng rào chắn sóng thường là các hàng rào tre chữ

T Dựa trên các nghiên cứu thủy văn phức tạp về dòng

thủy triều, phép đo sâu và chiều cao sóng, các hàng rào

chắn sóng được thiết kế và bố trí tại các địa điểm bị xói lở

nghiêm trọng ở phía trước tuyến đê Các hàng rào nằm ở

phía biển và làm giảm lực của sóng vỗ vào bờ bằng cách

biến đổi sóng, nghĩa là bằng cách nhiễu xạ, dội lại, khúc xạ

và biến dạng sóng Quá trình biến đổi sóng này giúp cho

cát và bùn lắng xuống: khi các con sóng giảm bớt năng

lượng, các hạt cát và bùn theo các con sóng sẽ lắng xuống

đáy và tạo ra quá trình bồi tụ

Trên các bãi bồi mới hình thành này, rừng ngập mặn có thể

phát triển một cách tự nhiên trong vài tháng Việc phục hồi

rừng ngập mặn cũng có thể được hỗ trợ bằng cách trồng

Hàng rào chắn sóng đã được nhân rộng bởi các tổ chức khác trong đó có Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN, tổ chức này đang xây dựng các hàng rào tương tự tại Việt Nam

và Indonesia

Phục hồi rừng ngập mặn: mang rừng trở lại bằng cách mô phỏng tự nhiên

Trong khi hàng rào chắn sóng là công cụ chính để phục hồi rừng ngập mặn, thì một lĩnh vực hoạt động quan trọng khác là củng

cố các khu vực có rừng ngập mặn bị chặt phá hoặc chưa phát huy hết sức mạnh tự nhiên của nó Trong cả hai trường hợp này, chương trình đã xây dựng thành công các giải pháp để trả lại các khu rừng ngập mặn tươi tốt và đa dạng loài bằng cách mô phỏng tự nhiên

Trong tự nhiên, rừng là các hệ sinh thái đa dạng loài, có nhiều cây và các loài thực vật khác nhau thuộc các độ tuổi, kích thước và loài khác nhau Đây là điều làm cho rừng

có sức chống chịu: nếu gặp phải các thiên tai như lũ, bão hoặc các thảm họa, tính đa dạng của rừng bảo đảm rằng trong khi một số cây có thể chết, thì các cây khác vẫn sẽ sống sót

Trái ngược lại, rừng ngập mặn được trồng bởi các cơ quan chức năng của Việt Nam không đa dạng loài mà thuần loài Điều này là do các tiêu chuẩn và định mức kinh tế nghiêm ngặt chỉ cho phép trồng chuẩn hóa một loài cây theo các hàng dài Phương pháp này hữu ích trong việc trồng một số lượng lớn cây với số tiền khá ít ỏi trong một khoảng thời gian khá ngắn, nhưng nó lại không áp dụng được trong trồng rừng ngập mặn Theo đó, các cây rừng thường yếu, không mọc cao lắm và không có khả năng chống chịu với thời tiết khắc nghiệt

Chương trình đã xây dựng một số phương pháp tiếp cận nhằm biến các khu rừng thuần loài, nhân tạo và yếu ớt thành các khu rừng đa dạng loài, khỏe mạnh và tự nhiên giúp bảo vệ bờ biển tốt hơn Phương pháp tiếp cận này

là mô phỏng quá trình trẻ hóa tự nhiên của rừng: thông thường, một số cây rất lớn trong một khu rừng có xu hướng đổ bất cứ lúc nào, tạo ra các khoảng trống trong tán rừng và phá hủy các cây nhỏ hơn và các loài thực vật mọc gần đó, tạo điều kiện cho các cây mới sinh trưởng trong phạm vi các khoảng trống đó

Chương trình đã mô phỏng quá trình tự nhiên này bằng

rừng thuần loài và trồng các loài cây và thực vật khác vào các khoảng trống đó Kết quả là dần chuyển đổi và củng

cố rừng Phương pháp này thậm chí còn thành công hơn khi tuân theo xu hướng tự nhiên khác của rừng, đó là cây thường không mọc theo các khoảng cách đều nhau như là trong các khu rừng trồng, mà những cây mới thường mọc gần các cây và thân cây đã có trước Bằng cách áp dụng

mô hình này khi trồng cây mới, các khu rừng có khả năng chống chịu hơn và đa dạng loài hơn

Nhưng rốt cuộc, các nỗ lực phục hồi rừng ngập mặn của ICMP / CCCEP chỉ có thể là bước đi đầu tiên giúp thay đổi

hệ thống của Việt Nam Đó là lí do tại sao các kỹ thuật áp dụng cần được các cơ quan lâm nghiệp thông qua Ngoài

ra, chương trình đã phối hợp thay đổi các định mức kinh

tế hiện nay cho trồng rừng ngập mặn nhằm cho phép định mức cao hơn cho mỗi hecta rừng trồng, phản ánh nhu cầu không chỉ trồng nhiều rừng hơn mà còn đa dạng hơn

Thổi sức sống mới vào đất cằn cỗi

Trong khi việc chuyển đổi khu rừng hiện có mang tính tham vọng, thách thức lớn nhất đối với cán bộ lâm nghiệp

là hồi sinh đất cằn cỗi không thể trồng cây Các tỉnh có ngành nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh mẽ có rất nhiều đất trống: nếu các ao nuôi trồng thủy sản không được quản lý một cách bền vững, chúng sẽ làm cho đất cằn cỗi và sẽ bị lấp đi sau khi sử dụng Đất ở trên các ao nuôi trồng thủy sản cũ có rất ít chất dinh dưỡng cho cây, dẫn đến đất cằn cỗi Tệ hơn nữa, các diện tích đất cằn cỗi này thường nằm ở giữa các khu rừng ngập mặn, làm suy giảm khả năng bảo vệ của các khu rừng này

Chương trình đã xây dựng kỹ thuật để hồi sinh các diện tích đất cằn cỗi này bằng cách phục hồi chế độ thủy văn

ở đây Bằng cách đào kênh, theo đó nước có thể chảy vào các cánh đồng, mang theo phù sa Việc này làm giảm hàm

“đúng” các loại cây (có khả năng chống chịu) tại vị trí phù hợp Trong vài tháng hoặc vài năm, tùy theo từng khu vực, các khu vực hoàn toàn thay đổi, với đất (bãi lầy hoặc bãi bồi) lấn xa ra biến và có thảm thực vật dày bao phủ

Chương trình đã thiết lập và duy trì các hàng rào chắn sóng trên tổng chiều dài 10,85 km, bao gồm các công trình bảo vệ sông được thực hiện tại An Giang, là tỉnh duy nhất của chương trình không nằm trên đường bờ biển

Các hàng rào này được xây dựng tại các vị trí dễ bị tổn thương nhất thuộc các tỉnh ven biển, đặc biệt ở nơi xói lở

đã ăn sâu vào đê mà không có rừng ngập mặn phía trước

để giảm nhẹ tác động của biển lên đê Tại tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng, 99% đường bờ biển hiện không còn bị đe dọa trực tiếp bởi nước tại tuyến đê – ngoại trừ một số vị trí

do kết cấu đất hoặc hình thái dòng chảy mà không thể xây dựng hàng rào chắn sóng

Hàng rào chắn sóng không chỉ ngăn chặn tình trạng biến lấn vào sâu 30 mét mỗi năm mà còn hoàn toàn đảo ngược

khuynh hướng này bằng cách thu hồi lại đất: đã lấn được 180 mét đất ra biển trong vòng 2 năm tại mỗi hiện trường Tổng cộng, chương trình đã lấn ra biển

10 ha đất, tương đương với

20 sân bóng đá Đất mới hình thành này bao gồm các bãi bồi mà rừng ngập mặn và các loài cây khác có thể sinh trưởng được

Về mặt kỹ thuật, thành công này đạt được nhờ vào lớp bồi tích dày đến

120 cm, điều này có nghĩa

là đất cao hơn 120 cm so với trước đây và do đó cao trên mực nước biển ngoại trừ lúc triều lên Bãi bồi cao hơn này giúp bảo vệ chân đê và phục hồi rừng ngập mặn Thời gian ngập của các khu vực gần đê giảm đi đáng kể, và chiều cao sóng tối đa tại chân đê cũng giảm đi

Phía sau các công trình bảo vệ thường diễn ra quá trình tái sinh tự nhiên, trong khi đó ở một số tỉnh, quá trình này được tăng cường thông qua trồng rừng ngập mặn Kết quả giám sát cho thấy tính đa dạng sinh học tự nhiên đã được khôi phục đến 70% sau 4 năm Tại một tỉnh, tính đa dạng loài có thể so sánh với một khu rừng tự nhiên sau

18 tháng

hàng rào chắn sóng hình chữ T

Trang 12

ICMP/CCCEP Pha I Lĩnh vực hoạt động

lượng muối trong đất từ 60 phần triệu xuống dưới 20

phần triệu

Trên đất được cải tạo này, chương trình trồng cây mới

theo các kỹ thuật “mô phỏng tự nhiên” như trình bày ở

trên, kết quả là tỉ lệ cây sống sót khá cao 60 – 70% trên

tổng diện tích 25 ha Chi cục Lâm nghiệp Bạc Liêu đã

không thành công trong việc cải tạo đất cằn cỗi bằng các

kỹ thuật khác trước đó, nhưng hiện đã áp dụng phương

pháp này và sử dụng nguồn ngân sách của mình để thực

hiện phương pháp này tại các địa điểm thích hợp

Các phương pháp tương tự tại tỉnh Kiên Giang cho kết quả

là 17 ha rừng ngập mặn đa dạng loài trên vùng đất cằn cỗi

được nâng cao và 7 ha đồn điền trồng loài thí điểm trên

các bãi bồi, trồng cây lấp các khoảng trống trong phạm vi

170 ha rừng phòng hộ ven biển của tỉnh

Bảo đảm đa dạng sinh học bằng cách tạo ra ngân

hàng gen tự nhiên

Đa dạng sinh học đang ngày càng suy giảm nhanh tại Đồng

bằng sông Cửu Long, khi các khu rừng tự nhiên được sử

dụng làm đất canh tác và các khu rừng mới trồng thường

là rừng thuần loài Đó là lí do tại sao chương trình đã có

một số bước đi để bảo tồn phần nào tính đa dạng sinh học

tại các tỉnh thuộc chương trình, trong đó có thiết lập một

“ngân hàng gen” tự nhiên

Một ngân hàng gen như thế tồn tại trong một diện tích

5 ha tại tỉnh Bạc Liêu, diện tích này đã được phát triển

thành vườn thực vật, khu bảo tồn trong đó 16 loài ngập

mặn khác nhau đang phát triển, tất cả đều là các loài đặc

hữu của tỉnh nhưng một vài loài trong đó đã bị tuyệt

Đồng quản lý

Các nỗ lực của ICMP / CCCEP trong việc khôi phục rừng ngập mặn thông qua hàng rào chữ T và các biện pháp khác là không bền vững nếu người dân địa phương không lưu tâm đến các khu vực cần phải bảo vệ các cây đước non mới trồng

Công tác đồng quản lý hay cùng quản trị là một thỏa thuận hợp tác trong đó người dân địa phương có quyền

sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên như rừng, cá, tôm, cùng với trách nhiệm phải quản lý và bảo vệ bền vững các nguồn tài nguyên này Nó giải quyết vấn đề về sử dụng tài nguyên không bền vững là chặt phá rừng ngập mặn Nó phục vụ cho những người dân sống dọc bờ biển

và phụ thuộc vào việc thu hoạch tài nguyên thiên nhiên

từ rừng ngập mặn để sinh sống Chương trình đến nay đã thành lập được 3 khu vực đồng quản lý, và khu vực đồng quản lý thứ tư đang được tiến hành xây dựng

Vấn đề mà công tác đồng quản lý đang giải quyết là dễ hiểu nhưng khó xử lý Các cộng đồng dân cư địa phương vào rừng ngập mặn để lấy gỗ, đánh bắt cá, tôm cua, sò và các loài thủy sản khác Sự can thiệp này của con người phá

vỡ quá trình trẻ hóa tự nhiên của rừng ngập mặn, ví dụ giăng lưới bắt cá lấy đi các hạt giống đước Để khôi phục rừng ngập mặn thành công, phải ngăn chặn tình trạng này – và việc khôi phục rừng ngập mặn phải có lợi cho cộng đồng địa phương vì diện tích rừng ngập mặn càng lớn thì càng có thêm nhiều cá, các loài thủy sản và cả gỗ

Đây là lúc để áp dụng phương pháp tiếp cận đồng quản lý

Ý tưởng là cho phép các cộng đồng địa phương sử dụng rừng ngập mặn thuộc sở hữu nhà nước để tạo sinh kế Đổi lại, các cộng đồng này phải chịu một phần trách nhiệm

trong việc bảo vệ rừng Thay vì tranh chấp giữa cán bộ kiểm lâm với người dân địa phương như trước đây, công tác đồng quản lý thiết lập một hệ thống quản trị chia sẻ giữa nhà nước và người dân Trong đó, người dân địa phương tôn trọng thực hiện điều này tại các thời điểm nhất định, họ không được vào các khu bảo vệ nhất định.Các kết quả của phương pháp tiếp cận này là đáng kể Người dân địa phương hiểu rõ về lợi ích khi bảo vệ rừng Quan trọng hơn cả, họ trực tiếp hưởng lợi từ việc bảo vệ rừng trong đó có nâng cao thu nhập

Phương pháp đồng quản lý đã được áp dụng rộng rãi và

đã được chuyển giao cho một số khu vực khác Trong đó, Ngân hàng thế giới đã đưa nội dung đồng quản lý vào trong một dự án tại Đồng bằng sông Cửu Long, và chính phủ Việt Nam đã ban hành hướng dẫn về đồng quản lý khuyến nghị sử dụng biện pháp kỹ thuật

Chi trả các dịch vụ môi trường

Một trong các yếu tố thành công của công tác đồng quản

lý là sự lồng ghép hợp phần chi trả dịch vụ môi trường Điều này là cần thiết vì các hệ sinh thái có một giá trị nhất định, nhưng không phải lúc nào người hưởng lợi cũng là người tham gia bảo vệ môi trường Để bảo vệ và duy trì các hệ sinh thái và các dịch vụ của hệ sinh thái, Chương trình xác định các đối tượng hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái, cụ thể là các hợp tác xã nuôi nghêu cần rừng ngập mặn để có thể nuôi và thu hoạch nghêu Mặt khác, chính người dân địa phương sẽ bảo vệ và quản lý các vùng đất ngập nước ven biển Đó là lí do tại sao chương trình khởi xướng đề án chia sẻ lợi ích trong đó các hợp tác xã nuôi nghêu phải chi trả cho các lợi ích họ được hưởng từ khu rừng ngập mặn được quản lý và bảo vệ tốt Tiền đó sẽ

được trả cho các thành viên của nhóm đồng quản lý

Nhưng ngoài việc chi trả trực tiếp này

ra, việc sử dụng tài nguyên bền vững cũng có lợi cho người dân địa phương

và môi trường Chỉ khi mọi người nhìn thấy điều đó trong lợi ích của mình

để bảo vệ rừng, họ mới từ bỏ các hoạt động gây hại Đây là lí do tại sao giáo dục và đào tạo có tầm quan trọng rất lớn trong việc phổ biến kiến thức về các quy trình môi trường và tại sao tính bền vững cuối cùng lại có lợi cho tất cả mọi người

chủng Khu vực hiện đang được quản lý bởi các cán bộ kiểm lâm và trong tương lai có thể sử dụng để trồng cây tại các địa điểm khác nhau trong tỉnh và nhằm bổ sung cấu trúc và tính đa dạng sinh học cho rừng

Các nỗ lực tương tự đã được thực hiện tại tỉnh Kiên Giang, bao gồm hỗ trợ một vùng 50 ha để bảo tồn các loài thực vật ngập mặn quý hiếm (loài cóc đỏ) thuộc vườn quốc gia Phú Quốc Một thành công lớn trong việc nâng cao tính

đa dạng sinh học tại Kiên Giang là sự hỗ trợ vườn quốc gia U Minh Thượng Vườn quốc gia này đang bị suy giảm

số lượng chim do thiếu nước Một hệ thống quản lý nước mới đã làm gia tăng quần thể chim lên 33% từ năm 2011 đến năm 2013 Dưới sự hỗ trợ của chương trình, vườn đã được quốc tế công nhận là Vườn di sản ASEAN thứ năm của Việt Nam

Rừng tràm

Ngoài các rừng đước gần bờ biển, Chương trình cũng hỗ trợ việc quản lý các khu rừng tràm và đất than bùn với số lượng lớn ở Kiên Giang Thông qua các nỗ lực của chương trình, UBND tỉnh Kiên Giang đã công nhận tầm quan trọng môi trường của rừng tràm đối với hệ sinh thái Một số báo cáo và luận chứng, trong đó có một báo cáo về chuỗi giá trị rừng tràm, đã được sử dụng làm cơ sở để cấp vốn và xây dựng một nhà máy chế biến gỗ tràm Nhà máy này sẽ được xây dựng với kinh phí 57 tỉ đồng, và tỉnh Kiên Giang

đã cam kết trồng thêm 30.000 ha rừng để cung ứng cho nhà máy

Người dân địa phương mò cua bắt ốc tại một khu vực đồng quản lý

Ngày đăng: 18/03/2022, 23:32

w