1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giáo trình kinh tế học vi mô i

356 32 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 356
Dung lượng 7,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI GIỚI THIỆU Kinh tế học vi mô là một bộ phận của kinh tế học, nghiên cứu cách thức mà các tác nhân trong nền kinh tế đưa ra các quyết định lựa chọn tối ưu trong điều kiện nguồn lực

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Kinh tế học vi mô là một bộ phận của kinh tế học, nghiên cứu cách thức mà các tác nhân trong nền kinh tế đưa ra các quyết định lựa chọn tối ưu trong điều kiện nguồn lực khan hiếm trong một nền kinh tế thị trường Kinh tế học vi mô là một môn khoa học được nhiều người lựa chọn để học tập và nghiên cứu

Giáo trình Kinh tế học vi mô I được biên soạn dựa trên chương

trình môn học của Trường Đại học Thương mại và tham khảo các giáo trình khác trong và ngoài nước Các tác giả đã tham khảo nhiều giáo trình của các giáo sư ở một số trường đại học nổi tiếng trên thế giới Các

tác giả tin rằng Giáo trình Kinh tế học vi mô I sẽ đặc biệt hữu ích cho

các sinh viên Đại học Thương mại và những người quan tâm nghiên cứu khoa học Kinh tế học vi mô

Mục tiêu của cuốn sách là nhằm tạo điều kiện thuận lợi giúp người đọc nắm vững lý thuyết và biết cách vận dụng lý thuyết vào các tình huống thực hành cụ thể trong thực tiễn kinh tế - xã hội ở Việt Nam Nội dung cụ thể của giáo trình được trình bày trong 6 chương, bao gồm:

- Chương 1: Tổng quan về Kinh tế học vi mô

- Chương 2: Cung cầu và cơ chế hoạt động của thị trường

- Chương 3: Lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng

- Chương 4: Lý thuyết về hành vi của các doanh nghiệp

- Chương 5: Cấu trúc thị trường

- Chương 6: Thị trường các yếu tố sản xuất

Mỗi chương của giáo trình đều có mục tiêu của chương, tóm lược nội dung chương, các dạng câu hỏi thảo luận, câu hỏi trắc nghiệm

Trang 4

đúng/sai, bài tập thực hành tính toán và các thuật ngữ thông dụng trong Kinh tế học vi mô Cuối giáo trình là lời giải và đáp án các câu hỏi của từng chương

Cuốn sách này do PGS TS Phan Thế Công làm chủ biên và các thành viên tham gia biên soạn, bao gồm:

- PGS TS Phan Thế Công và ThS Nguyễn Thị Lệ: Chương 1 và Chương 6

- PGS TS Phan Thế Công và TS Nguyễn Ngọc Quỳnh: Chương 2

- PGS TS Phan Thế Công, TS Nguyễn Ngọc Quỳnh và TS Phạm Thị Minh Uyên: Chương 3

- ThS Ninh Thị Hoàng Lan: Chương 4

- PGS TS Phan Thế Công và ThS Ninh Thị Hoàng Lan: Chương 5

- PGS TS Phan Thế Công: các phần bài tập thực hành của các chương Các tác giả xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến quý báu của Ban giám hiệu Trường Đại học Thương mại, Phòng Quản lý Khoa học, Hội đồng thẩm định giáo trình, Bộ môn Kinh tế học và các đồng nghiệp trong và ngoài trường Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng cuốn sách sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, các tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp và phê bình của người đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong các lần tái bản sau

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về: Bộ môn Kinh tế học - Trường Đại học Thương mại - Hà Nội

Hà Nội, năm 2020

THAY MẶT NHÓM BIÊN SOẠN

Chủ biên

PGS TS Phan Thế Công

Trang 5

TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VI MÔ 17

1.1 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC 17 1.1.1 Khái niệm Kinh tế học và Kinh tế học vi mô 17 1.1.2 Kinh tế học thực chứng và Kinh tế học chuẩn tắc 19 1.1.3 Đối tượng và nội dung nghiên cứu của Kinh tế học vi mô 20

1.2 KHAN HIẾM NGUỒN LỰC VÀ ĐƯỜNG GIỚI HẠN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT 24 1.2.1 Sự khan hiếm nguồn lực và chi phí cơ hội 24

1.3 CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN VÀ HỆ THỐNG KINH TẾ 32

Chương 2

CUNG CẦU VÀ CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG 47

2.1.1 Khái niệm thị trường và giá cả thị trường 47

Trang 6

2.2.3 Các yếu tố tác động đến cầu 54

2.4.2 Trạng thái dư thừa và thiếu hụt hàng hóa trên thị trường 69

2.5 THẶNG DƯ TIÊU DÙNG VÀ THẶNG DƯ SẢN XUẤT TRONG THỊ TRƯỜNG 74

2.7 SỰ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ VÀO THỊ TRƯỜNG 86

Trang 7

Chương 3

LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 101

3.1.2 Lợi ích và quy luật lợi ích cận biên giảm dần 103

3.1.5 Một số trường hợp đặc biệt của đường bàng quan 117

3.2.2 Tác động của sự thay đổi thu nhập đến đường ngân sách 122 3.2.3 Tác động của sự thay đổi giá cả đến đường ngân sách 123

3.3.1 Tối đa hóa lợi ích ứng với mức ngân sách nhất định 123 3.3.2 Tối thiểu hóa chi tiêu ứng với một mức lợi ích nhất định 129 3.3.3 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu khi thay đổi thu nhập 130 3.3.4 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu khi giá cả thay đổi 132

Chương 4

LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 149

Trang 8

4.3 LỰA CHỌN ĐẦU VÀO TỐI ƯU 180 4.3.1 Lựa chọn đầu vào tối ưu để tối thiểu hóa chi phí khi sản xuất

4.3.2 Lựa chọn đầu vào tối ưu để tối đa hóa sản lượng khi có một mức

Chương 5

5.1.1 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo và các đặc trưng 202

5.1.3 Lựa chọn sản lượng của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo

5.1.4 Lựa chọn sản lượng của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo

5.2.2 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp độc quyền bán thuần túy

5.2.3 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp độc quyền bán thuần túy

5.3.1 Khái niệm và đặc trưng của thị trường cạnh tranh độc quyền 248 5.3.2 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền 249 5.3.3 Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành cạnh tranh độc quyền 251

Trang 9

5.4 THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN NHÓM 253

Chương 6

THỊ TRƯỜNG CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT 279

6.1 ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA THỊ TRƯỜNG CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT 279

Trang 10

Đáp án Chương 2 317

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Khả năng sản xuất lương thực và quần áo trong giới hạn nguồn lực 26

Bảng 1.2 Tính toán chi phí cơ hội giữa quần áo và lương thực 31

Bảng 2.1 Cầu về cà phê trên thị trường thành phố X trong một tháng 51 Bảng 2.2 Tổng quan về các yếu tố tác động đến cầu 59

Bảng 2.4 Tổng quan về các yếu tố tác động đến cung 67 Bảng 2.5 Cung - cầu về nước khoáng Lavie trên thị trường Y trong 1 tuần 68 Bảng 3.1 Tổng lợi ích, lợi ích cận biên khi thay đổi mức tiêu dùng bánh Chocopie 106 Bảng 3.2 Các giỏ hàng hóa tạo ra cùng một mức lợi ích 109

Bảng 3.4 Bảng xác định lượng hàng hóa tiêu dùng tối ưu 124

Bảng 4.1 Tổng sản phẩm, sản phẩm trung bình và sản phẩm cận biên

khi sản xuất trong ngắn hạn với yếu tố vốn cố định 154 Bảng 4.2 Số lượng sản phẩm đầu ra thu được từ các tập hợp đầu vào khác nhau 159 Bảng 4.3 Các chi phí sản xuất của một doanh nghiệp bánh ngọt 168 Bảng 5.1 Sản lượng, giá bán và doanh thu của doanh nghiệp độc quyền 228

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.2 Các nguyên nhân làm cho đường PPF dịch chuyển ra phía ngoài 29 Hình 1.3 Xác định chi phí cơ hội trên đường PPF 29

Hình 2.3 Cầu đối với hàng hóa thông thường và hàng hóa thứ cấp

khi thu nhập của người tiêu dùng tăng 55 Hình 2.4 Sự di chuyển và dịch chuyển đường cầu 58

Hình 2.6 Cung của một doanh nghiệp và cung thị trường 63 Hình 2.7 Cung tăng (dịch sang phải) hoặc cung giảm (dịch sang trái) 63 Hình 2.8 Sự di chuyển và dịch chuyển đường cung 66 Hình 2.9 Trạng thái cân bằng cung cầu trên thị trường 68

Hình 2.12 Sự thay đổi về giá và lượng cân bằng khi cầu thay đổi

Hình 2.13 Sự thay đổi về giá và lượng cân bằng khi cung thay đổi

Hình 2.14 Sự thay đổi về giá và lượng cân bằng khi cung tăng, cầu tăng 73

Hình 2.17 Xác định độ co dãn tại một khoảng trên đường cầu 78 Hình 2.18 Cầu càng kém co dãn theo giá, đường cầu càng dốc 79

Hình 2.20 Mối quan hệ giữa độ co dãn của cầu theo giá với doanh thu 81 Hình 2.21 Mối quan hệ giữa độ co dãn và tổng doanh thu 82

Hình 2.24 Chính phủ đánh một khoản thuế t/sản phẩm bán ra của nhà sản xuất 88 Hình 2.25 Chính phủ đánh một khoản thuế t/sản phẩm đối với người tiêu dùng 89 Hình 2.26 Chính phủ trợ cấp s/sản phẩm cho nhà sản xuất 90 Hình 3.1 Mối quan hệ giữa tổng lợi ích và lợi ích cận biên 107

Trang 14

Hình 3.3 Đường bàng quan tại mức lợi ích U1 109

Hình 3.5 Đường bàng quan càng xa gốc tọa độ, lợi ích càng tăng 112 Hình 3.6 Các đường bàng quan của một người không bao giờ cắt nhau 112 Hình 3.7 Đường bàng quan không có độ dốc dương 114 Hình 3.8 Xác định tỷ lệ thay thế cận biên trong tiêu dùng 115 Hình 3.9 Hai trường hợp đặc biệt của đường bàng quan 118

Hình 3.11 Tác động của sự thay đổi thu nhập đến đường ngân sách 122 Hình 3.12 Tác động của sự thay đổi giá cả đến đường ngân sách 123

Hình 3.14 Xác định giỏ hàng hóa tối ưu tại mức lợi ích nhất định 129 Hình 3.15 Ảnh hưởng của sự gia tăng thu nhập đối với hàng hóa thông thường 131 Hình 3.16 Thu nhập tăng làm giảm cầu của hàng thứ cấp 132 Hình 3.17 Sự lựa chọn tiêu dùng tối ưu khi giá hàng hóa X thay đổi 133 Hình 3.18 Ảnh hưởng của sự thay đổi giá hàng hóa X 134 Hình 3.19 Xây dựng đường cầu thị trường từ đường cầu cá nhân 136

Hình 4.9 Mối quan hệ giữa chi phí cận biên và chi phí bình quân 173

Hình 4.11 Mối quan hệ giữa chi phí bình quân và chi phí cận biên trong dài hạn 176 Hình 4.12 Mối quan hệ giữa LAC và LMC trong các trường hợp khác nhau

Hình 4.13 Lựa chọn quy mô nhà máy trong dài hạn 177 Hình 4.14 Đường LAC là đường bao của các đường ATC 178 Hình 4.15 Mối quan hệ giữa các đường chi phí trong ngắn hạn và dài hạn 179

Hình 4.17 Lựa chọn đầu vào tối ưu để tối thiểu hóa chi phí 181

Trang 15

Hình 4.18 Lựa chọn đầu vào tối ưu để tối đa hóa sản lượng 183 Hình 4.19 Lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán 185 Hình 4.20 Mối quan hệ giữa doanh thu cận biên và giá khi đường cầu dốc xuống 188 Hình 4.21 Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp 189 Hình 4.22 Hai mức sản lượng thỏa mãn điều kiện MR = MC 190 Hình 5.1 Đường cầu của doanh nghiệp CTHH và của thị trường CTHH 205 Hình 5.2 Xác định điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH 206

Hình 5.4 Xác định lợi nhuận cực đại của doanh nghiệp CTHH 207 Hình 5.5 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH

khi giá thị trường P0 > ATCmin 209 Hình 5.6 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH

khi giá thị trường P0 = ATCmin 210 Hình 5.7 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH

khi AVCmin < P0 < ATCmin 211 Hình 5.8 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH khi P0 = AVCmin 212 Hình 5.9 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH khi giá thị trường

Hình 5.10 Đường cung của doanh nghiệp CTHH (đường MC) trong ngắn hạn 214 Hình 5.11 Đường cung của ngành CTHH trong ngắn hạn 215 Hình 5.12 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH trong dài hạn 217 Hình 5.13 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH

Hình 5.14 Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành 219 Hình 5.15 Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí không đổi 221 Hình 5.16 Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí tăng 222 Hình 5.17 Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí giảm 223 Hình 5.18 Chi phí bình quân dài hạn đối với ngành đạt được tính kinh tế

Hình 5.19 Mối quan hệ giữa giá, doanh thu cận biên

Hình 5.20 Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp độc quyền khi P > ATC 232 Hình 5.21 Mối quan hệ giữa tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa doanh thu 233 Hình 5.22 Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp độc quyền khi P = ATC 235 Hình 5.23 Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp độc quyền khi AVC < P < ATC 236 Hình 5.24 Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp độc quyền bán khi P ≤ AVC 237 Hình 5.25 Tác động của thuế đối với doanh nghiệp độc quyền 239

Trang 16

Hình 5.26 Không tồn tại mối quan hệ 1:1 giữa giá và lượng cung

Hình 5.27 Tổn thất phúc lợi xã hội do hiện tượng độc quyền bán 243 Hình 5.28 Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp độc quyền bán thuần túy

Hình 6.2 Đường cầu lao động trong ngắn hạn và dài hạn 282 Hình 6.3 Điều kiện lựa chọn lượng lao động tối ưu MRPL = w 284 Hình 6.4 Đường MRP L chính là đường cầu của lao động 286 Hình 6.5 Tác động của năng suất lao động đến cầu lao động 288 Hình 6.6 Đường cung sức lao động cá nhân của người lao động 290

Hình 6.9 Cân bằng cung cầu trên thị trường lao động 292 Hình 6.10 Quy định mức tiền công tối thiểu W1 trên thị trường lao động 294

Hình 6.12 Tác động của tiến bộ công nghệ làm tăng năng suất vốn 299

Hình 6.16 Cân bằng trên thị trường vốn trong dài hạn 302 Hình 6.17 Đường cung về đất đai trong ngắn hạn và dài hạn 303

Hình 6.19 Cân bằng cung cầu trên thị trường đất đai 305

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VI MÔ

Hoạt động kinh tế là hoạt động thường xuyên của con người Nó bao gồm hoạt động kinh doanh hàng hóa hoặc dịch vụ, hoạt động mua bán tài sản tài chính, hoạt động tín dụng (đi vay, cho vay), Các hoạt động kinh

tế thường nhằm mục đích tạo ra sản phẩm hay dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của con người nên chúng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống, xã hội của con người Nghiên cứu kinh tế học giúp cho con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và cách thức ứng xử của từng chủ thể tham gia vào nền kinh tế nói riêng Kinh tế học quan tâm đến hành vi của toàn bộ nền kinh tế và hành vi của các chủ thể riêng lẻ trong nền kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp, hộ tiêu dùng, người lao động và chính phủ Kinh tế học vi mô là một bộ phận của kinh

tế học, thông qua nghiên cứu bộ phận này giúp chúng ta có được lời giải đáp về cách thức các doanh nghiệp làm thế nào để tối đa hóa lợi nhuận, các hộ tiêu dùng làm thế nào để tối đa hóa được lợi ích, người lao động làm thế nào để tối đa hóa tiền công

1.1 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC

1.1.1 Khái niệm Kinh tế học và Kinh tế học vi mô

Tác phẩm "Bàn về nguồn gốc của cải" của Nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith đã đánh dấu mốc quan trọng cho sự ra đời thực sự của Kinh tế học vào năm 1776 Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu cách thức mà cá nhân và xã hội lựa chọn việc sử dụng nguồn lực khan hiếm của mình như thế nào Các nhà kinh tế học thống nhất vấn đề cốt lõi trong kinh tế học là vấn đề khan hiếm Do bất kỳ một chủ thể nào trong nền kinh tế như chính phủ, doanh nghiệp, cá nhân hay nhìn chung toàn

bộ nền kinh tế cũng phải đối mặt với sự khan hiếm

Trang 18

- Đối với một nền kinh tế dù là các nước giàu hay các nước nghèo

cũng phải đối mặt với khan hiếm Ví dụ: Khan hiếm về tài nguyên thiên

nhiên để sản xuất ra các hàng hóa phục vụ cho nhu cầu của tất cả người dân Các nước vẫn phải nhập khẩu những nguyên vật liệu, hay phải nhập khẩu cả hàng tiêu dùng Các nước giàu như Mỹ, bên cạnh những ngôi nhà chọc trời vẫn có những căn nhà được ví như “Ổ chuột”

Khi đối diện với sự khan hiếm, các chủ thể trong nền kinh tế bắt buộc phải lựa chọn Kinh tế học đã giải thích được hành vi lựa chọn của các chủ thể trong nền kinh tế là như thế nào? Một nhận định khác về kinh

tế học được phát biểu: Kinh tế học là môn khoa học của sự lựa chọn trong điều kiện khan hiếm Khái niệm này nêu ra mục đích của sự ra đời của kinh tế học là để giải quyết vấn đề khan hiếm Các nguyên tắc giải quyết của kinh tế học có khả năng áp dụng vào nhiều lĩnh vực trong đời sống như thương mại, tài chính, xã hội học, Dựa trên các cấp độ nghiên cứu của kinh tế học có thể chia môn khoa học này thành hai bộ phận là kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô Kinh tế học vi mô chuyên nghiên cứu và phân tích các hành vi kinh tế của các tác nhân trong nền kinh tế như: Người tiêu dùng, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và chính phủ Kinh tế vĩ mô nghiên cứu các vấn đề kinh tế tổng hợp của một nền kinh tế như tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, các chính sách kinh tế vĩ mô,

Trang 19

Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô là hai bộ phận của kinh tế học nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau Chúng ta sẽ không thể hiểu được các hiện tượng kinh tế vĩ mô nếu không xem xét các quyết định kinh tế vi mô, vì những thay đổi trong toàn bộ nền kinh tế phát sinh

từ các quyết định của các cá nhân Ví dụ, các doanh nghiệp trong nền kinh tế hoạt động kinh doanh hiệu quả sẽ có thể góp phần vào việc cải thiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của một quốc gia như: Giải quyết thất nghiệp, đóng góp vào tăng trưởng, xuất khẩu, kiềm chế lạm phát, Do vậy, hành vi kinh tế vi mô có tác động đến việc đưa ra chính sách vĩ mô Ngược lại, các chính sách vĩ mô sẽ có ảnh hưởng tới hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế Ví dụ, Việt Nam đưa ra chính sách kích thích kinh

tế vào cuối năm 2008 đầu năm 2009 đã tác động mạnh đến tăng tiêu dùng của các cá nhân, hộ gia đình và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ở trong nước

1.1.2 Kinh tế học thực chứng và Kinh tế học chuẩn tắc

Kinh tế học thực chứng mô tả, phân tích, giải thích các sự kiện, hiện tượng kinh tế một cách khách quan, khoa học Để nhận biết đâu là nghiên cứu kinh tế học thực chứng, chúng ta xem xét nghiên cứu đó có trả lời cho các câu hỏi sau hay không: Vấn đề đó là gì? Như thế nào? Tại sao lại như vậy? Điều gì sẽ xảy ra? Khi nghiên cứu kinh tế học thực chứng chúng ta xem xét những luận điểm dưới dạng: Nếu điều này thay đổi thì điều kia sẽ xảy ra Chúng ta có thể thấy và dễ hình dung về bản chất của kinh tế học thực chứng theo quan điểm này giống như khoa học Kinh tế học vi mô Ví dụ: Khi giá xăng tăng lên, người tiêu dùng sẽ có xu hướng tiết kiệm hơn, chi tiêu về xăng sẽ giảm, giả định các yếu tố khác không đổi

Kinh tế học chuẩn tắc liên quan đến việc đánh giá chủ quan của các

cá nhân, phán xét về mặt giá trị Các nghiên cứu kinh tế học chuẩn tắc thường để trả lời cho câu hỏi: Nên làm gì? Nên làm như thế nào? Ví dụ, trường đại học cần có chính sách hỗ trợ cho sinh viên trong quá trình học

Trang 20

tập Hay để giảm thiểu những chi phí trong quá trình tổ chức thi, các trường đại học nên thực hiện quy định thi một lần

Mặc dù có sự khác biệt, nhưng kinh tế học thực chứng và chuẩn tắc

có mối quan hệ với nhau Quan điểm thực chứng được hình thành dựa trên sự thống nhất mang tính phổ biến và khách quan, nó là cơ sở cho các quan điểm về chuẩn tắc cho những quyết định, chính sách nào là nên làm Hay, kinh tế học thực chứng là trung tâm của kinh tế học và kinh tế học chuẩn tắc sẽ là nhân tố thúc đẩy và tạo ra hướng nghiên cứu mới cho kinh tế học thực chứng Ví dụ, phát biểu “Người nghèo có đời sống rất khó khăn (Thực chứng) và chính phủ nên trợ cấp cho họ (Chuẩn tắc)” hay “Lạm phát tăng cao sẽ làm cho đời sống của người dân trở nên khó khăn hơn (Thực chứng) và chính phủ cần có biện pháp giảm tỷ lệ lạm phát (Chuẩn tắc)”

1.1.3 Đối tượng và nội dung nghiên cứu của Kinh tế học vi mô

Các tác nhân trong nền kinh tế luôn phải thực hiện sự lựa chọn và hành vi đó của họ được lý giải thông qua các nghiên cứu của kinh tế học đặc biệt là trong kinh tế học vi mô Như vậy, đối tượng nghiên cứu của kinh tế vi mô là hành vi kinh tế của các tác nhân trong nền kinh tế Nội dung giáo trình nghiên cứu Kinh tế học vi mô I ở cấp độ cơ bản và hướng tới cung cấp cho người học những kiến thức, nguyên lý chính của vi mô

Từ đó, người học có căn cứ cho việc tiếp cận những lý thuyết, mô hình cao hơn trong các mức độ tiếp theo của vi mô Để hiểu hơn về đối tượng nghiên cứu, Kinh tế học vi mô I trình bày hệ thống những nội dung chủ yếu sau:

- Sử dụng công cụ đường giới hạn khả năng sản xuất để phân tích sự khan hiếm nguồn lực của nền kinh tế

- Phân tích cung và cầu về hàng hóa và dịch vụ, giá cả thị trường và các mối quan hệ qua lại giữa chúng Nghiên cứu sự can thiệp của chính phủ vào thị trường hàng hóa và dịch vụ

- Phân tích hành vi lựa chọn của người tiêu dùng để tối đa hóa lợi ích khi phải đối diện với sự khan hiếm về thu nhập

Trang 21

- Nghiên cứu và phân tích hành vi lựa chọn của nhà sản xuất: Xác định chi phí, doanh thu, lợi nhuận và việc lựa chọn đầu vào như thế nào

để tối đa hóa sản lượng, tối thiểu hóa chi phí, lựa chọn sản lượng tối đa hóa lợi nhuận

- Phân tích hành vi của doanh nghiệp trên các cấu trúc thị trường bao gồm thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền thuần túy, cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm

- Phân tích và làm rõ hành vi của các doanh nghiệp, người lao động

ở thị trường các yếu tố đầu vào bao gồm các đầu vào chủ yếu như: Lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên

1.1.4 Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô

Kinh tế học là một môn khoa học nên phương pháp nghiên cứu kinh

tế học cũng tương tự các môn khoa học tự nhiên như toán học, sinh học, hoá học hay vật lý Tuy nhiên, kinh tế học nghiên cứu hành vi kinh tế của con người, nên phương pháp nghiên cứu kinh tế học nói chung và kinh tế học vi mô nói riêng cũng có nhiều điểm khác với các môn khoa học tự nhiên khác, ví như phương pháp phân tích cận biên được giới thiệu ở nội

dung tiếp theo Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vi mô bao gồm:

- Phương pháp mô hình hóa, bao gồm việc xây dựng mô hình, phát triển mô hình bằng cách phân tích dựa trên các dữ liệu thu thập được, kiểm chứng thực tế

- Phương pháp so sánh tĩnh: Theo phương pháp này, các giả thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa các biến luôn phải đi kèm với giả định các yếu tố khác không đổi trong mô hình đưa ra

- Phương pháp phân tích cận biên: Đây là phương pháp đặc thù của Kinh tế học nói chung và Kinh tế học vi mô nói riêng Nó cũng là phương pháp cơ bản của sự lựa chọn kinh tế tối ưu bởi vì bất cứ sự lựa chọn nào cũng phải dựa trên sự so sánh giữa lợi ích mang lại và chi phí

bỏ ra Phương pháp phân tích cận biên được sử dụng để tìm ra điểm tối

ưu của sự lựa chọn Theo phương pháp này, chúng ta phải so sánh lợi ích

Trang 22

và chi phí tại mỗi đơn vị hàng hóa, dịch vụ được sản xuất (hoặc tiêu dùng) tăng thêm Lợi ích và chi phí tăng thêm đó được gọi là lợi ích cận biên và chi phí cận biên Điểm xác định mức tối ưu để đạt được lợi ích lớn nhất là điểm mà tại đó lợi ích cận biên bằng với chi phí cận biên

Mô hình kinh tế và xây dựng mô hình kinh tế:

- Xác định vấn đề nghiên cứu: Bước đầu tiên được áp dụng trong

phương pháp nghiên cứu kinh tế học là phải xác định được vấn đề nghiên cứu hay câu hỏi nghiên cứu

- Xây dựng mô hình và phát triển mô hình: Xây dựng mô hình kinh

tế để tìm được câu trả lời cho vấn đề nghiên cứu đã xác định Mô hình kinh tế là một cách thức mô tả thực tế đã được đơn giản hóa mối quan hệ của các biến số Mô hình kinh tế có thể được mô tả bằng lời, bảng số liệu,

đồ thị hay các phương trình toán học

- Mô hình kinh tế: Các mô hình thường dựa trên những giả định về

hành vi của các biến số đã được làm đơn giản hoá hơn so với thực tế Ngoài ra, mô hình chỉ tập trung vào những biến số quan trọng nhất để giải thích vấn đề nghiên cứu Ví dụ về mô hình cung - cầu trong thị trường sữa, trong thực tế, các biến số có thể liên quan đến lượng tiêu thụ sữa bao gồm giá cả của sữa, thu nhập của người tiêu dùng, giá cả các hàng hoá khác có liên quan, thị hiếu của người tiêu dùng hay điều kiện

về bảo quản, hàm lượng các chất trong sữa, Trong quá trình phân tích, các nhà kinh tế học sẽ phải lựa chọn các biến số thích hợp và loại bỏ những biến ít có liên quan hay không có ảnh hưởng đến lượng sữa Trong trường hợp đơn giản nhất, nhà kinh tế học sẽ loại bỏ sự phức tạp của thực

tế bằng cách giả định chỉ có giá của sữa quyết định đến lượng tiêu thụ sữa còn các yếu tố khác là không thay đổi

Mục tiêu của mô hình kinh tế là dự báo hoặc tiên đoán kết quả khi

các biến số thay đổi Mô hình kinh tế có hai nhiệm vụ quan trọng Thứ nhất, cho biết nền kinh tế hoạt động như thế nào Bằng cách mô tả vấn đề

nghiên cứu thông qua mô hình đơn giản, chúng ta có thể hiểu sâu hơn

một vài khía cạnh quan trọng của vấn đề Thứ hai, các mô hình kinh tế

được sử dụng để hình thành các giả thuyết kinh tế

Trang 23

- Kiểm chứng giả thuyết kinh tế: Mô hình kinh tế chỉ có ích khi và

chỉ khi nó đưa ra được những dự đoán đúng Ở bước này, các nhà kinh tế học sẽ tập hợp các số liệu để kiểm chứng lại giả thuyết Nếu kết quả thực nghiệm phù hợp với giả thuyết thì giả thuyết được công nhận còn nếu ngược lại, giả thuyết sẽ bị bác bỏ Hai vấn đề liên quan đến việc giải thích các số liệu kinh tế, đó là vấn đề liên quan đến giả định các yếu tố khác không thay đổi và vấn đề còn lại liên quan đến quan hệ nhân quả

- Giả định các yếu tố khác không thay đổi: Trong kinh tế học, muốn

kiểm tra giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến số kinh tế, các nhà kinh

tế thường phải sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê được thiết kế riêng cho trường hợp các yếu tố khác không thể cố định được Thực tế, một biến số kinh tế thường chịu tác động của rất nhiều các biến số khác

có liên quan Do đó, trong phân tích cần cố định các yếu tố không cần phân tích để chỉ ra tác động của một biến số kinh tế lên biến số mà chúng

ta đang xét Ví dụ, muốn phân tích mối quan hệ giữa giá và lượng tiêu thụ sữa cần phải cố định các yếu tố khác (giả định các yếu tố khác không đổi) như chất lượng sữa không đổi, thu nhập của người tiêu dùng không đổi Qua việc dùng giả định đó, kinh tế học sẽ chỉ ra được khi giá sữa giảm lượng tiêu thụ sữa sẽ tăng lên hay mối quan hệ giữa giá và lượng tiêu thụ là mối quan hệ tỷ lệ nghịch Nếu không sử dụng giả định các yếu

tố khác không đổi, chúng ta sẽ không thể nhận định chính xác tác động của giá đến lượng tiêu thụ sữa Bởi, giá sữa giảm nhưng sữa có hàm lượng Melamine thì lượng tiêu thụ sữa không những không tăng mà còn giảm

- Phân tích quan hệ nhân quả: Các giả thuyết kinh tế thường mô tả

mối quan hệ giữa các biến số mà sự thay đổi của biến số này là nguyên nhân khiến một (hoặc) các biến khác thay đổi theo Biến chịu sự tác động được gọi là biến phụ thuộc còn biến thay đổi tác động đến các biến khác được gọi là biến độc lập Biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc nhưng bản thân thì chịu sự tác động của các biến số khác ngoài mô hình Phương pháp cân bằng tổng quát được dùng để phân tích cân bằng chung trên các thị trường

Trang 24

1.2 KHAN HIẾM NGUỒN LỰC VÀ ĐƯỜNG GIỚI HẠN

KHẢ NĂNG SẢN XUẤT

1.2.1 Sự khan hiếm nguồn lực và chi phí cơ hội

Nguồn lực là tất cả những yếu tố được sử dụng để sản xuất hàng hóa hay dịch vụ và có thể được gọi theo một tên khác là các yếu tố sản xuất Nguồn lực đầu vào để sản xuất hàng hóa và dịch vụ được chia thành bốn nhóm: Tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật - công nghệ

- Tài nguyên thiên nhiên là tất cả các nguồn lực trong và trên mặt đất,

Ví dụ: Nhà xưởng, trang thiết bị, dây chuyền sản xuất

- Tiến bộ kỹ thuật - công nghệ là khả năng tạo ra công nghệ sản xuất mới Khả năng kết hợp vốn - lao động - đất đai, tài nguyên thiên nhiên nhằm đạt được hiệu quả Vấn đề ở đây không phải là có bao nhiêu đất đai, bao nhiêu lao động hay bao nhiêu vốn mà vấn đề là sử dụng chúng như thế nào cho hiệu quả

Khan hiếm là tình trạng hàng hóa, dịch vụ hoặc nguồn lực không đủ

so với mong muốn hay nhu cầu Nguồn lực là khan hiếm vì số lượng nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ là có hạn, ngày một cạn kiệt Chúng ta có thể thấy sự cạn kiệt tài nguyên khoáng sản, đất đai, lâm sản, hải sản Trong khi đó, nhu cầu hàng hoá và dịch vụ là vô hạn, ngày càng tăng, càng đa dạng và phong phú, nhất là chất lượng ngày càng cao Chẳng hạn, nhu cầu về phương tiện đi lại của con người từ xe đạp đến xe máy, ô tô, máy bay Do vậy, vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu ngày càng phải đặt ra một cách nghiêm túc, gay gắt và thực hiện một cách rất khó khăn

Trang 25

Con người phải đối mặt với sự khan hiếm nguồn lực nên luôn phải lựa chọn tối ưu Việc lựa chọn sẽ đưa con người tới sự đánh đổi - muốn sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa này thì phải từ bỏ một lượng hàng

hóa khác Đây chính là chi phí cơ hội để sản xuất một hàng hóa Chi phí

cơ hội là giá trị của phương án tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện sự lựa chọn Chi phí cơ hội luôn xuất hiện khi tình trạng khan hiếm nguồn lực

xảy ra, vì khi đó người ta sẽ buộc phải đánh đổi, nếu tiến hành hoạt động này thì phải bỏ qua hoạt động khác Chính vì vậy, khi đưa ra bất cứ sự lựa chọn kinh tế nào, chúng ta cũng phải cân nhắc, so sánh các phương

án với nhau dựa theo chi phí cơ hội của các phương án đó với nguyên tắc

chọn phương án có chi phí cơ hội là nhỏ nhất Ví dụ: Chi phí cơ hội của

việc tự kinh doanh hay đi làm thuê, chi phí cơ hội của sản xuất ô tô và nhập khẩu ô tô,

Chi phí cơ hội không phải là tổng giá trị các lựa chọn bị bỏ lỡ mà chỉ là giá trị của lựa chọn tốt nhất có thể, bởi vì người ta không thể nào cùng một lúc sử dụng nhiều lựa chọn thay thế được Với nguồn lực khan hiếm thì năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế sẽ được biểu diễn như thế nào Chúng ta sẽ nghiên cứu khái niệm đường giới hạn khả năng sản xuất

1.2.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất

Quá trình sản xuất luôn cần có nguồn lực nhưng những nguồn lực và công nghệ hiện có là có giới hạn chứ không phải là những con số vô hạn

Do đó, xã hội không thể có mọi thứ mà họ muốn vì bị giới hạn bởi khả năng sản xuất Xây dựng đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) sử dụng phương pháp trừu tượng hóa, đơn giản hóa để nghiên cứu bản chất vấn đề với những giả thiết

Xem xét một doanh nghiệp chỉ có 4 lao động tập trung sản xuất hai loại hàng hóa là lương thực, quần áo trong một năm với những giả định dưới đây:

- Thứ nhất: Nền kinh tế chỉ sản xuất hai loại hàng hóa (quần áo và

lương thực)

- Thứ hai: Số lượng nguồn lực sẵn có trong nền kinh tế là cố định

Trang 26

- Thứ ba: Trình độ công nghệ là cố định

Khả năng sản xuất tối đa quần áo và lương thực được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.1 Khả năng sản xuất lương thực và quần áo trong giới hạn nguồn lực

Đơn vị: Triệu sản phẩm

Khả năng Quần áo Lương thực

Lao động Sản lượng Lao động Sản lượng

N

M

Không hiệu quả

Không thể đạt tới

Đường PPF

Hình 1.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)

Trang 27

Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) là một tập hợp các phối

hợp tối đa số lượng các sản phẩm mà doanh nghiệp có thể sản xuất được,

là đường gồm tập hợp tất cả các điểm biểu thị sự kết hợp các nguồn lực thích hợp để sản xuất ra một khối lượng sản phẩm nhất định Đường PPF cho biết các mức phối hợp tối đa của sản lượng mà doanh nghiệp có thể sản xuất được khi sử dụng toàn bộ nguồn lực sẵn có

- Những phương án nằm trên đường PPF như (A, B, C, D, E) là những phương án tối ưu Đường PPF có dạng cong lõm về gốc toạ độ Các khoảng dịch chuyển từ A đến B đến C đến D, mỗi đoạn tương ứng với việc chuyển một lao động từ ngành quần áo sang ngành sản xuất lương thực và mỗi lần chuyển này làm giảm sản lượng trong ngành quần

áo nhưng lại tăng sản lượng trong ngành lương thực Với mỗi một lần chuyển lao động từ ngành quần áo sang ngành lương thực, chúng ta nhận được ít hơn sản lượng quần áo sản xuất và nhận được một lượng tăng thêm của sản lượng lương thực

- Những điểm nằm phía ngoài đường PPF (ví dụ như phương án N)

là những phương án sản xuất không thể đạt tới với nguồn lực và công nghệ hiện có do sự khan hiếm của nguồn lực So sánh phương án N với B (nằm trên đường PPF), ta thấy nền kinh tế không thể đạt được mức sản lượng sản xuất tại N Với mức sản lượng 40 triệu bộ quần áo/năm, doanh nghiệp hiện tại chỉ có thể sản xuất tối đa 11 triệu tấn lương thực/năm tức

là tối đa tại điểm B

- Sự khan hiếm về các nguồn lực buộc xã hội phải chọn các điểm nằm trong hoặc trên đường PPF Để đạt được các phương án tối ưu, cần phải tìm cách đẩy đường PPF ra phía ngoài bằng các biện pháp như: Đổi mới công nghệ, thực hiện các chính sách kinh tế,

- Các phương án (như phương án M nằm phía trong đường PPF) là phương án sản xuất không hiệu quả vì ở đó xã hội bỏ phí các nguồn lực

Lý luận tương tự như việc so sánh vị trí của M, B, với nguồn lực chỉ để

Trang 28

đầu tư sản xuất 11 triệu tấn lương thực/năm, doanh nghiệp có thể sản xuất 40 triệu bộ quần áo/năm (tại B) thay vì chỉ sản xuất được 16 triệu bộ quần áo/năm (tại M) Doanh nghiệp có thể tăng thêm sản lượng của một mặt hàng mà không đòi hỏi phải cắt bớt sản lượng mặt hàng khác, như

vậy nguồn lực chưa được sử dụng hiệu quả

Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa cho sự khan hiếm

Qua việc phân tích những điểm nằm ngoài đường PPF với giả định công nghệ là cố định là những điểm mà doanh nghiệp không thể đạt được

do nguồn lực khan hiếm Như vậy, PPF chính là công cụ để biểu diễn cho sự khan hiếm nguồn lực của doanh nghiệp

Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa cho sản xuất hiệu quả

Như chúng ta đã biết, tính hiệu quả được thể hiện khi doanh nghiệp không thể sản xuất thêm sản lượng của một hàng hóa này mà sản lượng hàng hóa kia tăng hoặc không đổi Đường PPF minh họa cho sự hiệu quả,

vì với số lượng nguồn lực có hạn, doanh nghiệp muốn tăng sản lượng lương thực phải giảm sản lượng quần áo Điều này thể hiện qua sự dịch

chuyển các phương án sản xuất từ A đến B, đến C và đến D Ví dụ, khi

chuyển từ phương án A sang phương án B, có thể tăng 11 triệu tấn lương thực, nhưng phải từ bỏ 8 triệu bộ quần áo Với những căn cứ đã đề cập có thể kết luận rằng, những điểm nằm phía trong đường PPF như điểm M là những điểm sản xuất và sử dụng nguồn lực không hiệu quả

Các yếu tố làm dịch chuyển đường PPF

Đạt được các điểm nằm ngoài đường PPF, các doanh nghiệp cần phải tìm cách lựa chọn các phương án nằm ngoài đường PPF, xác định đường PPF mới Đường PPF dịch chuyển phụ thuộc vào các yếu tố chính như: Sự tăng lên của nguồn lực về chất lượng hoặc số lượng, tiến bộ của khoa học công nghệ hay những chính sách vĩ mô của nhà nước tác động làm cải thiện nguồn lực và công nghệ

Trang 29

Số lượng nguồn lực tăng

Chất lượng nguồn lực tăng

Tiến bộ công nghệ

Hình 1.2 Các nguyên nhân làm cho đường PPF dịch chuyển ra phía ngoài

1.2.3 Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng

1.2.3.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa cho chi phí

Trang 30

- Từ điểm A đến điểm B: Để sản xuất thêm 11 triệu tấn lương thực

thì phải đánh đổi bằng việc giảm 8 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 11 triệu tấn lương thực là 8 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 1 triệu tấn lương thực = 8/11 triệu bộ quần áo

Ta có chi phí cơ hội: 1

1 1

Y tg X

 

 = | độ dốc đường PPF|

- Từ điểm B đến điểm C: Để sản xuất thêm 5 triệu tấn lương thực thì

phải đánh đổi bằng việc giảm 8 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 5 triệu tấn lương thực = 8 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 1 triệu tấn lương thực = 8/5 triệu bộ quần áo

Ta có chi phí cơ hội:

2

2 2

YtgX

 

 = | độ dốc đường PPF|

- Từ điểm C đến điểm D: Để sản xuất thêm 5 triệu tấn lương thực thì

phải đánh đổi bằng việc giảm 16 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 5 triệu tấn lương thực = 16 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 1 triệu tấn lương thực = 16/5 triệu bộ quần áo

Ta có chi phí cơ hội:

3

3 3

YtgX

 

 = | độ dốc đường PPF|

- Từ điểm D đến điểm E: Để sản xuất thêm 3 triệu tấn lương thực thì

phải đánh đổi bằng việc giảm 16 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 3 triệu tấn lương thực = 16 triệu bộ quần áo Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 1 triệu tấn lương thực = 16/3 triệu bộ quần áo

Ta có chi phí cơ hội:

4

4 4

YtgX

 

 = | độ dốc đường PPF|

Trang 31

Chi phí cơ hội sản xuất 1 tấn lương thực:

YtgX

Bảng 1.2 Tính toán chi phí cơ hội giữa quần áo và lương thực

1.2.3.2 Quy luật chi phí cơ hội

Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng được phát biểu: Để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa này, xã hội sẽ phải từ bỏ ngày càng nhiều các đơn vị của loại hàng hóa khác

Do sự chuyển hóa các nguồn lực khi chuyển từ sản xuất hàng hóa này sang sản xuất hàng hóa khác là không hoàn toàn phù hợp Có thể đó

là nguồn lực tốt để sản xuất hàng hóa này nhưng nó lại không phải là nguồn lực tốt để sản xuất hàng hóa kia Qua phân tích sự thay đổi các

Trang 32

phương án sản xuất từ A đến E (dọc theo đường PPF từ trên xuống dưới), các doanh nghiệp sẽ phải đánh đổi nhiều sản lượng quần áo hơn để có thể sản xuất thêm được 1 đơn vị lương thực, chi phí cơ hội là ngày càng tăng (xem hình 1.3)

Do quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng và chi phí cơ hội lại được tính bằng giá trị tuyệt đối |độ dốc đường PPF| nên đường giới hạn khả

năng sản xuất là một đường cong lõm về phía gốc tọa độ

1.3 CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN VÀ HỆ THỐNG KINH TẾ 1.3.1 Ba vấn đề kinh tế cơ bản

Bất kỳ nền kinh tế nào cũng phải đối diện với ba vấn đề sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai?

1.3.1.1 Sản xuất cái gì?

Trong điều kiện nguồn lực khan hiếm, các doanh nghiệp không thể sản xuất tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ mà cần có sự lựa chọn quyết định sản xuất hàng hóa gì với số lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao? Sản xuất cái gì là vấn đề cơ bản đầu tiên cần phải trả lời Vì nguồn lực khan hiếm nên không thể dễ dàng đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội Trong khả năng hiện có, nền kinh tế sẽ phải lựa chọn để sản xuất một số loại hàng hóa nhất định Việc lựa chọn loại hàng hóa, dịch vụ nào nên được ưu tiên sản xuất sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố, ví dụ như cầu của thị trường, khả năng về các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh, giá cả trên thị trường Trong nền kinh tế thị trường, giá cả sẽ là tín hiệu trực tiếp nhất giúp người sản xuất quyết định sản xuất cái gì

Sự cạnh tranh làm cho các nhà sản xuất cung cấp các sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng Trong việc tìm kiếm lợi nhuận, nhà sản xuất cố gắng cung cấp các sản phẩm có chất lượng cao hơn nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng Hầu hết, các nhà kinh tế đều thống nhất rằng mặc dù các biện pháp tiếp thị có thể ảnh hưởng đến cầu tiêu dùng, nhưng người tiêu dùng mới chính là người quyết định sản

Trang 33

phẩm và dịch vụ nào sẽ được mua Trong thị trường cạnh tranh, người tiêu dùng được gọi là “Thượng đế” Bởi, người tiêu dùng mong muốn tiêu dùng sản phẩm nhiều hơn, điều này sẽ làm tăng cầu Trong ngắn hạn,

sự gia tăng cầu có thể làm tăng giá cả, lượng sản xuất cũng tăng lên và lợi nhuận của các công ty trong ngành cũng cao hơn Lợi nhuận ngành cao sẽ hấp dẫn các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường trong dài hạn

và vì vậy cung thị trường sẽ tăng lên Sự tăng cung sẽ làm cho giá cả hàng hóa giảm trong khi đó lượng bán vẫn tiếp tục tăng lên Lợi nhuận do

sự gia tăng cầu trong ngắn hạn dần dần sẽ bị mất đi khi giá giảm xuống Ngoài ra, nhu cầu thị trường về hàng hóa rất đa dạng và phong phú, tăng cả về số lượng và chất lượng Khả năng thanh toán, sự khan hiếm về thu nhập đối với cá nhân người tiêu dùng đòi hỏi chính phủ và các doanh nghiệp cần có sự tính toán và sự lựa chọn hàng hóa phù hợp với người tiêu dùng, có lợi cho xã hội và tối đa hóa lợi nhuận

1.3.1.2 Sản xuất như thế nào?

Sau khi quyết định được loại hàng hóa, dịch vụ nào nên được sản xuất, xã hội phải trả lời câu hỏi quan trọng thứ hai là "Sản xuất như thế nào?", tức là tìm ra phương pháp, công nghệ thích hợp cho sản xuất và sự kết hợp hợp lý và hiệu quả giữa các nguồn lực đầu vào để sản xuất ra hàng hóa được lựa chọn Đồng thời, giải quyết vấn đề "Sản xuất như thế nào?" cũng chính là tìm câu trả lời cho những câu hỏi sau: Hàng hóa đó nên sản xuất ở đâu? Sản xuất bao nhiêu? Khi nào thì sản xuất và cung cấp? Tổ chức và quản lý các khâu từ lựa chọn đầu vào đến tiêu thụ sản phẩm ra sao? Vấn đề thứ hai này có thể phát biểu một cách hoàn chỉnh: "Sản phẩm

và dịch vụ được sản xuất bằng cách nào?" Vấn đề này liên quan đến việc xác định những nguồn lực nào được sử dụng và phương pháp để sản xuất

ra những sản phẩm và dịch vụ Chẳng hạn, để sản xuất ra điện, các quốc gia có thể xây dựng các nhà máy nhiệt điện, thủy điện, điện nguyên tử Tuy nhiên, việc lựa chọn phương án sản xuất nào còn phải dựa trên khía cạnh hiệu quả kinh tế - xã hội, nguồn lực và trình độ khoa học kỹ thuật của mỗi quốc gia

Trang 34

Trong nền kinh tế thị trường, các nhà sản xuất vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sẽ phải tìm kiếm các nguồn lực có chi phí thấp nhất có thể (giả định với số lượng và chất lượng sản phẩm không thay đổi) Các phương pháp và kỹ thuật sản xuất mới chỉ có thể được chấp nhận khi chúng làm giảm chi phí sản xuất Để có thể lý giải tại sao một số quốc gia lựa chọn tập trung sản xuất một số hàng hóa và trao đổi với các quốc gia khác Vấn đề ở đây liên quan đến việc xem xét chi phí cơ hội và bằng cách so sánh chi phí tương đối trong việc sản xuất các hàng hóa, các quốc gia sẽ sản xuất và trao đổi hàng hóa trên cơ sở chi phí cơ hội thấp nhất

1.3.1.3 Sản xuất cho ai?

Sau khi xác định được loại hàng hóa, dịch vụ nên sản xuất và phương pháp sản xuất các loại sản phẩm đó, xã hội còn phải giải quyết vấn đề cơ bản thứ ba là "Sản xuất cho ai?" Câu hỏi này liên quan đến việc lựa chọn phương pháp phân phối các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được sản xuất tới tay người tiêu dùng như thế nào Do nguồn lực là khan hiếm, sẽ có cạnh tranh trong tiêu dùng và trên thị trường tự do cạnh tranh thì sản phẩm sẽ thuộc về người có khả năng thanh toán cho việc mua sản phẩm Tuy nhiên, vấn đề này sẽ được chính phủ xem xét và điều tiết thông qua các chính sách về thuế, giá cả và trợ cấp, nhằm đảm bảo cho

cả những người nghèo, khó khăn, có thu nhập thấp cũng được hưởng những thành quả từ nguồn lực của xã hội

Vấn đề phải giải quyết đó là, "Ai sẽ nhận sản phẩm và dịch vụ?" Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập và giá cả xác định ai sẽ nhận hàng hóa và dịch vụ cung cấp Điều này được xác định thông qua tương tác của người mua và bán trên thị trường sản phẩm và thị trường nguồn lực Thu nhập chính là nguồn tạo ra khả năng mua sắm của các cá nhân và phân phối thu nhập được xác định thông qua: Tiền lương, tiền lãi, tiền cho thuê và lợi nhuận trên thị trường nguồn lực sản xuất Trong nền kinh

tế thị trường, những ai có nguồn tài nguyên, lao động, vốn và kỹ năng quản lý cao hơn sẽ nhận thu nhập cao hơn Với thu nhập này, các cá nhân đưa ra quyết định loại và số lượng sản phẩm sẽ mua trên thị trường và giá cả định hướng cách thức phân bổ nguồn lực cho những ai mong

muốn trả với mức giá thị trường

Trang 35

1.3.2 Các hệ thống kinh tế

Các nền kinh tế luôn đối diện với ba vấn đề cơ bản Nhưng việc giải quyết đó không hẳn giống nhau Mức độ can thiệp của nhà nước, chính phủ vào nền kinh tế thông qua việc trả lời ba câu hỏi này sẽ hình thành nên ba nền kinh tế sau:

1.3.2.1 Nền kinh tế chỉ huy

Đối với nền kinh tế chỉ huy hay nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước đứng ra giải quyết 3 vấn đề kinh tế cơ bản Thứ nhất, sản xuất cái gì? Nhà nước giao chỉ tiêu pháp lệnh cho các ngành, các địa phương

và cơ sở sản xuất kinh doanh Thứ hai, sản xuất như thế nào? Nhà nước tiến hành quốc doanh hoá và tập thể hoá, xoá bỏ tư nhân, nhà nước cấp phát vốn và vật tư cho các ngành, các địa phương và cơ sở thực hiện nhiệm vụ Thứ ba, sau khi hoàn thành nhiệm vụ phải giao nộp sản phẩm

và tích luỹ cho nhà nước theo chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước sử dụng chế

độ phân phối bằng hiện vật cho các cơ quan nhà nước, dùng chế độ tem phiếu để phân phối cho người tiêu dùng Ví dụ: Mô hình kinh tế chỉ huy

ở Việt Nam trước năm 1986

a) Ưu điểm

- Quản lý được tập trung thống nhất và giải quyết được những nhu cầu công cộng của xã hội

- Giải quyết được những vấn đề xã hội và an ninh

- Hạn chế được sự phân hoá giàu nghèo và bất công trong xã hội

- Tập trung được nguồn lực để giải quyết những cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân

b) Hạn chế

- Tập trung quan liêu, bao cấp không thúc đẩy và kích thích sản xuất phát triển Mọi vấn đề đều do nhà nước quyết định, các doanh nghiệp không được quyền chủ động trong việc sản xuất kinh doanh

Trang 36

- Phân phối bình quân không xuất phát từ nhu cầu thị trường, mang tính chủ quan, điều này sẽ dẫn tới những mất cân đối cục bộ và sự phân phối trở nên không hiệu quả

- Bộ máy nặng nề, cồng kềnh, quan liêu, kém hiệu lực

- Phân phối và sử dụng nguồn lực kém hiệu quả, các doanh nghiệp thường chờ đợi, ỷ lại, thiếu năng động sáng tạo

- Sự can thiệp của nhà nước vào những hoạt động cụ thể của doanh nghiệp

1.3.2.2 Nền kinh tế thị trường tự do

Để giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản, nền kinh tế thị trường phải thông qua hoạt động của quan hệ cung cầu trên thị trường, quan hệ cạnh tranh, giá cả thị trường Cách thức giải quyết này xuất phát từ tư tưởng

“bàn tay vô hình” của Adam Smith Giá cả thị trường có vai trò quyết định trong quá trình lựa chọn và ra quyết định, giá cả thị trường do quan

hệ cung cầu quyết định và phản ánh quan hệ cung cầu, cạnh tranh trên thị trường Nền kinh tế thị trường có những ưu điểm và hạn chế sau:

a) Ưu điểm

Các chủ thể trong nền kinh tế trở nên năng động hơn Do các quyết định từ sản xuất đến tiêu dùng là từ bản thân các doanh nghiệp nên họ luôn có sự đổi mới trong sản xuất, cải tiến công nghệ, phát triển đội ngũ nhân lực, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cũng như có những chiến lược phân phối hàng hóa phù hợp, để có thể tối đa hóa lợi nhuận

Người tiêu dùng cũng có điều kiện quyết định tiêu dùng những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình, không còn ở tình trạng bị động như trong nền kinh tế chỉ huy Từ đó, họ cũng trở nên năng động hơn, hài hòa giữa việc theo đuổi các lợi ích và thu nhập (ngân sách) để có thể tối đa hóa lợi ích của mình

b) Hạn chế

- Do tính cạnh tranh, vì động cơ lợi nhuận là mục tiêu tối ưu và duy nhất, cho nên dễ nảy sinh tình trạng ô nhiễm, phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội

Trang 37

- Mức chênh lệch giàu nghèo có thể dẫn đến những mâu thuẫn xã hội, nhiều nhu cầu công cộng rất cần cho xã hội và con người, nhưng nếu như lợi nhuận thấp hoặc không có thì những nhu cầu đó không thực hiện được

- Những yêu cầu về an ninh, quốc phòng và xã hội không được giải quyết thoả đáng

Như vậy, có thể nhận thấy rằng hai mô hình kinh tế trên đều có những điểm mạnh và điểm yếu, nói khác đi thì kinh tế thị trường có những lợi thế song nó cũng có những khuyết tật của mình

1.3.2.3 Mô hình kinh tế hỗn hợp

Nếu chỉ phát triển nền kinh tế theo mô hình nền kinh tế chỉ huy hay nền kinh tế thị trường tự do sẽ giống như là việc chúng ta vỗ tay bằng một bàn tay (theo Nhà kinh tế học Samuelson), điều này có nghĩa là sẽ có những hạn chế nhất định cho từng mô hình kinh tế này Việc vận hành nền kinh tế của mỗi quốc gia theo mô hình hỗn hợp được ví như hình ảnh

vỗ tay có đủ cả hai bàn tay

Nền kinh tế hỗn hợp đòi hỏi trước hết phải phát triển theo cơ chế thị trường (Bàn tay vô hình), có nghĩa là cần phát triển các quan hệ cung cầu, cạnh tranh, tôn trọng vai trò của giá cả thị trường, lấy lợi nhuận làm mục tiêu và động cơ phấn đấu Tuy nhiên, bàn tay hữu hình cũng rất cần

thiết đó là sự can thiệp của nhà nước

Nếu để nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường sẽ có rất nhiều khuyết tật, và những khuyết tật này sẽ được khắc phục thông qua sự điều tiết vĩ mô của nhà nước Đó là xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế các nước trên thế giới Nó có ý nghĩa quyết định đến việc lựa chọn tối ưu những vấn đề kinh tế cơ bản của một nền kinh tế, hay của doanh nghiệp

Trang 38

TÓM LƯỢC CUỐI CHƯƠNG

 Kinh tế học là môn khoa học giúp cho con người hiểu về cách vận hành của nền kinh tế nói chung và cách thức ứng xử của từng tác nhân trong nền kinh tế nói riêng Nền kinh tế là một cơ chế phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho các mục đích sử dụng khác nhau Cơ chế này nhằm giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai? Các bộ phận hợp thành nền kinh tế là người ra quyết định bao gồm: Hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ Kinh tế học bao gồm 2 bộ phận là Kinh tế vi mô và Kinh tế vĩ mô

 Kinh tế vi mô chuyên nghiên cứu và phân tích các hành vi kinh tế của các tác nhân trong nền kinh tế: Người tiêu dùng, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và chính phủ Kinh tế vĩ mô nghiên cứu các vấn đề kinh tế tổng hợp của một nền kinh tế như: Tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, các chính sách kinh tế vĩ mô,

 Kinh tế học thực chứng mô tả, phân tích, giải thích các sự kiện, hiện tượng kinh tế một cách khách quan, khoa học Để có thể nhận biết đâu là nghiên cứu kinh tế học thực chứng, chúng ta xem xét nghiên cứu

đó có trả lời cho các câu hỏi sau hay không: Vấn đề đó là gì? Là như thế nào? Tại sao lại như vậy? Điều gì sẽ xảy ra nếu? Khi nghiên cứu kinh tế học thực chứng chúng ta xem xét những luận điểm dưới dạng: Nếu điều này thay đổi thì điều kia sẽ xảy ra Kinh tế học chuẩn tắc liên quan đến việc đánh giá chủ quan của các cá nhân, phán xét về mặt giá trị Các nghiên cứu kinh tế học chuẩn tắc thường để trả lời cho câu hỏi: Nên làm gì? Nên làm như thế nào?

 Phương pháp so sánh tĩnh: Theo phương pháp này, các giả thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa các biến luôn phải đi kèm với giả định các yếu tố khác không đổi (Ceteris Paribus) trong mô hình đưa ra Phương pháp phân tích cận biên: Đây là phương pháp đặc thù của Kinh tế học nói chung và Kinh tế học vi mô nói riêng Nó cũng là phương pháp cơ bản của sự lựa chọn kinh tế tối ưu bởi vì bất cứ sự lựa chọn nào cũng phải

Trang 39

dựa trên sự so sánh giữa lợi ích mang lại và chi phí bỏ ra Phương pháp phân tích cận biên được sử dụng để tìm ra điểm tối ưu của sự lựa chọn Theo phương pháp này, chúng ta phải so sánh lợi ích và chi phí tại mỗi đơn vị hàng hóa, dịch vụ được sản xuất (hoặc tiêu dùng) tăng thêm Lợi ích và chi phí đó được gọi là lợi ích cận biên và chi phí cận biên

 Mô hình kinh tế: Các mô hình thường dựa trên những giả định về hành vi của các biến số đã được làm đơn giản hoá hơn so với thực tế Ngoài ra, mô hình chỉ tập trung vào những biến số quan trọng nhất để giải thích vấn đề nghiên cứu

 Khan hiếm là tình trạng hàng hóa, dịch vụ hoặc nguồn lực không

đủ so với mong muốn hay nhu cầu Theo David Begg, một nguồn lực khan hiếm là nguồn lực mà tại điểm giá bằng không thì lượng cầu về nó lớn hơn lượng cung sẵn có Như vậy, đối với các nguồn lực có mức giá lớn hơn không (có nghĩa là chúng ta phải trả một mức giá nhất định nào

đó để có được một sản phẩm mà chúng ta cần) thì đó là các nguồn lực khan hiếm

 Nguồn lực là khan hiếm vì số lượng nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ là có hạn và ngày một cạn kiệt Chúng ta có thể thấy sự cạn kiệt tài nguyên khoáng sản, đất đai, lâm sản, hải sản, Trong khi đó, nhu cầu hàng hoá và dịch vụ là vô hạn, ngày càng tăng, càng đa dạng và phong phú, nhất là chất lượng ngày càng cao Chẳng hạn, người ta muốn có nước máy trong nhà, hệ thống sưởi ấm, điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, học hành, lương thực, tivi, sách báo, ôtô, du lịch, thể thao, hoà nhạc, chỗ ở, quần áo, không khí trong lành,

 Chi phí cơ hội: Là giá trị của phương án tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện sự lựa chọn Chi phí cơ hội luôn xuất hiện khi tình trạng khan hiếm nguồn lực xảy ra, vì khi đó người ta sẽ buộc phải đánh đổi, nếu tiến hành hoạt động này thì phải bỏ qua hoạt động khác Chính vì vậy, khi đưa ra bất cứ sự lựa chọn kinh tế nào, chúng ta cũng phải cân nhắc, so sánh các phương án với nhau dựa theo chi phí cơ hội của các phương án đó với nguyên tắc chọn phương án có chi phí cơ hội là nhỏ nhất

Trang 40

 Đường PPF là một tập hợp các phối hợp tối đa số lượng các sản phẩm mà nền kinh tế có thể sản xuất được, là đường gồm tập hợp tất cả các điểm biểu thị sự kết hợp các nguồn lực thích hợp để sản xuất ra một khối lượng sản phẩm nhất định của nền kinh tế Đường PPF cho biết các mức phối hợp tối đa của sản lượng mà nền kinh tế có thể sản xuất được khi sử dụng toàn bộ nguồn lực sẵn có

 Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng lên cho biết: Để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa này, xã hội sẽ phải từ bỏ ngày càng nhiều các đơn vị của loại hàng hóa khác

 Nền kinh tế là một cơ chế phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho các mục tiêu cạnh tranh Cơ chế này nhằm giải quyết ba vấn đề kinh tế

cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai?

 Nền kinh tế chỉ huy (kinh tế kế hoạch hoá tập trung): Đối với nền kinh tế này, nhà nước đứng ra giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản Nhà nước giao chỉ tiêu pháp lệnh cho các ngành, các địa phương và cơ sở sản xuất kinh doanh Nhà nước tiến hành quốc doanh hoá và tập thể hoá, xoá bỏ tư nhân Nhà nước cấp phát vốn và vật tư cho các ngành, các địa phương và cơ

sở thực hiện nhiệm vụ Sau khi hoàn thành nhiệm vụ phải giao nộp sản phẩm và tích luỹ cho nhà nước theo chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước sử dụng chế độ phân phối bằng hiện vật cho các cơ quan nhà nước, dùng chế độ tem phiếu để phân phối cho người tiêu dùng

 Nền kinh tế thị trường tự do: Để giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản, nền kinh tế thị trường tự do phải thông qua hoạt động của quan hệ cung cầu trên thị trường, quan hệ cạnh tranh, giá cả thị trường Cách thức giải quyết này xuất phát từ tư tưởng “bàn tay vô hình” của Adam Smith Giá cả thị trường có vai trò quyết định trong quá trình lựa chọn và ra quyết định, giá cả thị trường do quan hệ cung cầu quyết định và phản ánh quan hệ cung cầu, cạnh tranh trên thị trường

 Mô hình kinh tế hỗn hợp: Nền kinh tế hỗn hợp, đòi hỏi trước hết phải phát triển theo cơ chế thị trường (Bàn tay vô hình), có nghĩa là cần phát triển các quan hệ cung cầu, cạnh tranh, tôn trọng vai trò của giá cả

Ngày đăng: 15/03/2022, 18:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị đường cầu là đường dốc xuống về phía phải, có độ dốc âm. Độ dốc  của đường cầu thường được xác định bằng công thức: - giáo trình kinh tế học vi mô i
th ị đường cầu là đường dốc xuống về phía phải, có độ dốc âm. Độ dốc của đường cầu thường được xác định bằng công thức: (Trang 53)
Bảng 2.2  mô tả  mối quan hệ giữa các biến số  độc lập và biến phụ  thuộc  dựa  vào  các  hệ  số  góc - giáo trình kinh tế học vi mô i
Bảng 2.2 mô tả mối quan hệ giữa các biến số độc lập và biến phụ thuộc dựa vào các hệ số góc (Trang 59)
Đồ thị đường cung: Là đường gồm tập hợp tất cả các điểm phản ánh  mối quan hệ giữa giá cả và khối lượng hàng hóa hoặc dịch vụ cung ứng  trong khi các yếu tố khác giữ nguyên - giáo trình kinh tế học vi mô i
th ị đường cung: Là đường gồm tập hợp tất cả các điểm phản ánh mối quan hệ giữa giá cả và khối lượng hàng hóa hoặc dịch vụ cung ứng trong khi các yếu tố khác giữ nguyên (Trang 62)
Hình 2.8 minh họa cho sự khác biệt giữa di chuyển và dịch chuyển  đường cung. Sự thay đổi vị trí từ điểm A đến điểm B do giá giảm từ P A xuống P B  được gọi là di chuyển (trượt dọc) trên đường cung - giáo trình kinh tế học vi mô i
Hình 2.8 minh họa cho sự khác biệt giữa di chuyển và dịch chuyển đường cung. Sự thay đổi vị trí từ điểm A đến điểm B do giá giảm từ P A xuống P B được gọi là di chuyển (trượt dọc) trên đường cung (Trang 66)
Hình 2.9 cho ta thấy đường cầu và đường cung cắt nhau tại điểm E.  Điểm E được gọi là điểm cân bằng của thị trường, là trạng thái lý tưởng  nhất cho cả người mua lẫn người bán; tương ứng với điểm cân bằng E, ta - giáo trình kinh tế học vi mô i
Hình 2.9 cho ta thấy đường cầu và đường cung cắt nhau tại điểm E. Điểm E được gọi là điểm cân bằng của thị trường, là trạng thái lý tưởng nhất cho cả người mua lẫn người bán; tương ứng với điểm cân bằng E, ta (Trang 69)
Hình 2.15 cho thấy thặng dư tiêu dùng là phần diện tích tô đậm CS. - giáo trình kinh tế học vi mô i
Hình 2.15 cho thấy thặng dư tiêu dùng là phần diện tích tô đậm CS (Trang 75)
Hình 2.19a cho thấy đường cầu D 1  là hoàn toàn không co dãn, lượng  cầu  hoàn  toàn  không  thay  đổi  khi  giá  thay  đổi - giáo trình kinh tế học vi mô i
Hình 2.19a cho thấy đường cầu D 1 là hoàn toàn không co dãn, lượng cầu hoàn toàn không thay đổi khi giá thay đổi (Trang 79)
Hình 2.19a   Cầu không co dãn - giáo trình kinh tế học vi mô i
Hình 2.19a Cầu không co dãn (Trang 80)
Hình 2.21 cho biết mối quan hệ giữa giá cả, sản lượng và doanh thu. - giáo trình kinh tế học vi mô i
Hình 2.21 cho biết mối quan hệ giữa giá cả, sản lượng và doanh thu (Trang 82)
Hình 2.24 cho thấy giá và lượng cân bằng ban đầu là P 0  và Q 0 . Giá - giáo trình kinh tế học vi mô i
Hình 2.24 cho thấy giá và lượng cân bằng ban đầu là P 0 và Q 0 . Giá (Trang 89)
Bảng 3.1 cho thấy, tổng lợi ích tăng lên khi tiêu dùng 7 chiếc bánh  đầu tiên. Đến chiếc bánh Chocopie thứ 8, sau khi người tiêu dùng đã trải  qua  tâm  lí  “cái  gì  hiếm  thì  quí”  cảm  thấy  tổng  lợi  ích  mang  lại  sau  8  chiếc  bánh  không  hề  t - giáo trình kinh tế học vi mô i
Bảng 3.1 cho thấy, tổng lợi ích tăng lên khi tiêu dùng 7 chiếc bánh đầu tiên. Đến chiếc bánh Chocopie thứ 8, sau khi người tiêu dùng đã trải qua tâm lí “cái gì hiếm thì quí” cảm thấy tổng lợi ích mang lại sau 8 chiếc bánh không hề t (Trang 106)
Hình 3.4: Bản đồ đường bàng quan - giáo trình kinh tế học vi mô i
Hình 3.4 Bản đồ đường bàng quan (Trang 110)
Đồ thị đường ngân sách là đường dốc xuống về phía phải, có độ dốc - giáo trình kinh tế học vi mô i
th ị đường ngân sách là đường dốc xuống về phía phải, có độ dốc (Trang 121)
Hình 3.11 mô tả sự thay đổi của thu nhập làm thay đổi vị trí đường  ngân sách. Khi thu nhập tăng, đường ngân sách dịch chuyển song song ra  ngoài, từ I 0  đến I 1  và khi thu nhập giảm thì đường ngân sách dịch chuyển  vào phía trong, từ I 0  đến I 2 - giáo trình kinh tế học vi mô i
Hình 3.11 mô tả sự thay đổi của thu nhập làm thay đổi vị trí đường ngân sách. Khi thu nhập tăng, đường ngân sách dịch chuyển song song ra ngoài, từ I 0 đến I 1 và khi thu nhập giảm thì đường ngân sách dịch chuyển vào phía trong, từ I 0 đến I 2 (Trang 122)
Hình 3.13 cho thấy, điểm D nằm trên đường bàng quan U 3  là đường  bàng  quan  xa  nhất  so  với  gốc  tọa  độ,  tức  là  điểm  có  độ  thỏa  dụng  cao  nhất, tuy nhiên điểm này lại không nằm trên đường ngân sách, cho nên - giáo trình kinh tế học vi mô i
Hình 3.13 cho thấy, điểm D nằm trên đường bàng quan U 3 là đường bàng quan xa nhất so với gốc tọa độ, tức là điểm có độ thỏa dụng cao nhất, tuy nhiên điểm này lại không nằm trên đường ngân sách, cho nên (Trang 127)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN