1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)

208 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Kinh Tế Học Vi Mô I: Phần 2
Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Kinh tế học vi mô I được biên soạn nhằm tạo điều kiện thuận lợi giúp người đọc nắm vững lý thuyết và biết cách vận dụng lý thuyết vào các tình huống thực hành cụ thể trong thực tiễn kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Giáo trình kết cấu gồm 6 chương và chia thành 2 phần, phần 2 trình bày những nội dung về: lý thuyết về hành vi của các doanh nghiệp; cấu trúc thị trường; thị trường các yếu tố sản xuất;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Chương 4

LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

Bắt đầu từ chương này, chúng ta sẽ nghiên cứu hành vi của các doanh nghiệp Trước tiên, chúng ta cần biết về những lý thuyết cơ bản khi nghiên cứu về hành vi của các doanh nghiệp, đó là lý thuyết về sản xuất, về chi phí sản xuất và lý thuyết về lợi nhuận Chúng ta đã nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng trong điều kiện khan hiếm hay hạn chế về ngân sách Các doanh nghiệp, do cũng phải đối diện với sự khan hiếm về nguồn lực, cần phải tổ chức sản xuất và sử dụng nguồn lực giới hạn của mình để đạt được những mục tiêu tối ưu đề ra? Việc nghiên cứu

về hành vi của các doanh nghiệp thông qua các lý thuyết sản xuất, chi phí

và lợi nhuận sẽ giúp chúng ta trả lời được câu hỏi này

4.1 LÝ THUYẾT SẢN XUẤT

Trước tiên, chúng ta cần phải hiểu sản xuất là gì? Sản xuất đơn giản được hiểu là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào, hay còn gọi là nguồn lực, thành hàng hóa hay dịch vụ đầu ra phục vụ cho nhu cầu của con người Đầu ra có thể là các hàng hóa (ví dụ như ô tô, máy tính, quần

áo, lúa gạo ) nhưng cũng có thể là dịch vụ Ví dụ, VNPT cung cấp cho người tiêu dùng dịch vụ viễn thông, Vietcombank cung cấp dịch vụ ngân hàng, Vietnam Airlines cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng không Các nguồn lực được sử dụng trong quá trình sản xuất như lao động, máy móc, thiết bị, đất đai, nguyên nhiên vật liệu Quá trình sản xuất có thể được

mô tả thông qua sơ đồ dưới đây:

Hình 4.1 Quá trình sản xuất

Yếu tố đầu vào

Hàng hóa, dịch vụ đầu ra

Sản xuất

Trang 2

Khi nghiên cứu về quá trình sản xuất, có một vấn đề mà chúng ta cần quan tâm, đó là mối quan hệ giữa số lượng đầu vào với số lượng đầu

ra là như thế nào? Hay nói cách khác, khi một doanh nghiệp sử dụng một lượng đầu vào nhất định thì số lượng đầu ra mà nó tạo ra là bao nhiêu? Mối quan hệ này được các nhà kinh tế học thể hiện thông qua một mô

hình toán học được gọi là hàm sản xuất

4.1.1 Hàm sản xuất

Về mặt khái niệm, hàm sản xuất là một mô hình toán học cho biết

lượng đầu ra tối đa một doanh nghiệp có thể tạo ra được từ các tập hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào tương ứng với một trình độ công nghệ nhất định

Hàm sản xuất có thể được thể hiện bằng phương trình sau:

Q = f(x 1 , x 2 , , x n ) Trong đó: Q là lượng đầu ra tối đa doanh nghiệp có thể sản xuất ra;

các đầu vào x1, x2, xn: Là số lượng đầu vào thứ nhất, thứ hai, , thứ n

doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất

Khi nói về hàm sản xuất, cần chú ý mấy vấn đề sau:

- Thứ nhất, lượng đầu ra mà hàm sản xuất thể hiện là lượng đầu ra tối đa mà doanh nghiệp có thể đạt được từ một tập hợp nhất định các yếu

tố đầu vào Với giả định này, hàm sản xuất luôn thể hiện quá trình sản xuất đạt hiệu quả về mặt kỹ thuật

- Thứ hai, mỗi hàm sản xuất ứng với một trình độ công nghệ nhất

định Khi công nghệ sản xuất thay đổi thì hàm sản xuất cũng sẽ thay đổi

Để cho đơn giản, trong chương này và các chương sau, chúng ta sẽ giả định rằng các doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động, khi đó hàm sản xuất sẽ được viết như sau: Q = f(K, L)

Trong đó: K và L lần lượt là số lượng vốn và số lượng lao động mà

doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất

Trang 3

Tùy vào tính chất của quá trình sản xuất, các nhà sản xuất đã đưa ra dạng hàm sản xuất tương ứng Ví dụ, dạng hàm sản xuất tuyến tính (hàm sản xuất thể hiện hai đầu vào thay thế hoàn hảo):

Q = aK + bL (a, b > 0) Hàm sản xuất Leontief (hàm sản xuất thể hiện hai đầu vào bổ sung hoàn hảo):

Q = min(aK, bL) (a, b > 0) Hay hàm sản xuất Cobb-Douglas:

Đối với các doanh nghiệp, yếu tố đầu vào dễ thay đổi thường là lao động Tuy nhiên, lao động không luôn luôn là yếu tố đầu vào biến đổi Việc tìm kiếm thêm một lao động lành nghề nhiều khi cũng mất khá nhiều thời gian Tương tự như vậy, vốn có thể là yếu tố đầu vào cố định nhưng cũng có thể là yếu tố đầu vào biến đổi Một doanh nghiệp có thể thay đổi rất dễ dàng số lượng các tài sản vốn nhỏ (ví dụ xe tải nhỏ, máy

Trang 4

tính cá nhân ), nhưng sẽ mất vài năm để thay đổi một tài sản vốn lớn hơn (ví dụ nhà xưởng, dây chuyền sản xuất )

Nếu giả định một doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động, nếu sản xuất trong ngắn hạn với số lượng vốn cố định, hàm sản xuất có thể được viết như sau:

)(),

Trong trường hợp vốn là yếu tố đầu vào biến đổi còn lao động là yếu

tố đầu vào cố định, ta có hàm sản xuất sau:

)(),

f

4.1.2.2 Một số chỉ tiêu sản xuất cơ bản

Để đo lường về hiệu quả trong sản xuất, người ta sử dụng một số chỉ tiêu sau:

* Sản phẩm trung bình của một yếu tố đầu vào (AP)

Sản phẩm trung bình của một yếu tố đầu vào là số sản phẩm bình quân do một đơn vị đầu vào tạo ra trong một thời gian nhất định

Sản phẩm trung bình của lao động (APL) là số sản phẩm tính bình quân

do một đơn vị đầu vào lao động tạo ra và được tính bằng công thức sau:

L

Q

AP L

Sản phẩm trung bình của vốn (APK) là số sản phẩm tính bình quân

do một đơn vị đầu vào vốn tạo ra và được tính bằng công thức:

Trang 5

Q

AP K

* Sản phẩm cận biên của một yếu tố đầu vào (MP)

Sản phẩm cận biên của một yếu tố đầu vào là sự thay đổi trong tổng

số sản phẩm sản xuất ra khi yếu tố đầu vào đó tăng thêm một đơn vị Sản phẩm cận biên của lao động (MPL) phản ánh sự thay đổi trong tổng số sản phẩm sản xuất ra khi yếu tố đầu vào lao động thay đổi một đơn vị

Trong đó: ΔQ phản ánh sự thay đổi trong tổng số sản phẩm sản xuất

ra và ΔL phản ánh sự thay đổi trong số lượng lao động

Khi biểu diễn mối quan hệ giữa số lượng đầu ra và đầu vào thông qua hàm sản xuất, chúng ta có thể tính được sản phẩm cận biên của lao động theo công thức đạo hàm như sau:

MPL = Q’(L)Tương tự như vậy, ta có công thức tính sản phẩm cận biên của vốn (MPK):

4.1.2.3 Quy luật sản phẩm cận biên giảm dần

Khi nghiên cứu về sản xuất trong ngắn hạn, các nhà kinh tế học nhận

ra một quy luật liên quan đến sự biến động của sản phẩm cận biên của

yếu tố đầu vào biến đổi Quy luật đó được các nhà kinh tế học gọi là Quy

Trang 6

luật sản phẩm cận biên giảm dần hay còn được gọi với một cái tên khác

là Quy luật hiệu suất sử dụng các yếu tố đầu vào có xu hướng giảm dần

Quy luật này được phát biểu như sau: Khi gia tăng liên tiếp những đơn vị của một yếu tố đầu vào biến đổi trong khi cố định các yếu tố đầu vào khác thì đến một lúc nào đó, sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào biến đổi đó sẽ giảm dần

Chúng ta cùng nghiên cứu một ví dụ: Giả sử một doanh nghiệp sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động với yếu tố vốn là yếu tố cố định Sản lượng đầu ra tương ứng với số lượng lao động và giá trị của các chỉ tiêu APL và MPL được thể hiện ở Bảng 4.1

Trang 7

Nếu chỉ có một người lao động, để làm ra sản phẩm hoàn chỉnh, người này phải thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình sản xuất, đó

là đo, cắt, may và hoàn thiện sản phẩm Tuy nhiên, khi có thêm lao động, xưởng may này có thể thực hiện phân công lao động (chuyên môn hóa sản xuất), ví dụ một lao động chuyên đo, cắt và một lao động chuyên may và hoàn thiện sản phẩm Nhờ việc chuyên môn hóa này năng suất lao động của tất cả những người lao động khi đó sẽ tăng lên Đây chính

là lý do giải thích tại sao người lao động thứ hai lại có sản phẩm cận biên cao hơn so với người lao động thứ nhất

Tuy nhiên, việc chuyên môn hóa sản phẩm chỉ giúp cho sản phẩm cận biên của lao động tăng lên vào giai đoạn đầu Nếu cứ tiếp tục gia tăng lao động trong khi số lượng máy may cố định (vốn cố định) những lao động tăng thêm sẽ phải chờ đợi (họ phải chờ người khác làm xong mới có thể sử dụng máy may để sản xuất), và do vậy không tận dụng hết năng suất của những người lao động tăng thêm này Điều đó khiến cho sản phẩm cận biên của những đơn vị lao động được tăng thêm giảm dần

Ở trong ví dụ của chúng ta, sự giảm này xảy ra từ đơn vị lao động thứ ba Đây chính là điểm mà quy luật sản phẩm cận biên giảm dần bắt đầu tác động đến quá trình sản xuất

Nếu vẫn tiếp tục gia tăng lao động trong khi lượng máy may không đổi, thì thời gian chết này sẽ tăng lên khiến những lao động tăng thêm sẽ tạo ra ngày càng ít sản phẩm, và thậm chí đến một lúc nào đó, người lao động tăng thêm không tạo ra sản phẩm mà sự có mặt của họ còn làm ảnh hưởng đến quá trình lao động của những người khác Lúc này khi có thêm lao động, số lượng sản phẩm đầu ra không tăng lên mà có xu hướng giảm đi Khi đó sản phẩm cận biên sẽ mang giá trị âm (đối với lao động thứ 9 và thứ 10 trong ví dụ ở trên)

Quy luật sản phẩm cận biên giảm dần có thể được giải thích tổng quát như sau Trong quá trình sản xuất, cần có sự phối hợp giữa các yếu

tố đầu vào Năng suất của một yếu tố đầu vào không chỉ phụ thuộc vào bản thân đầu vào đó mà còn phụ thuộc vào yếu tố đầu vào khác cùng sử

Trang 8

dụng với nó và mối quan hệ này là mối quan hệ thuận Ban đầu, khi gia tăng yếu tố đầu vào biến đổi, sự tăng lên của các yếu tố đầu vào sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thể thực hiện chuyên môn hóa sản xuất và làm cho năng suất tăng lên Tuy nhiên, khi các yếu tố đầu vào khác là cố định trong khi cho một yếu tố đầu vào biến đổi tăng lên, yếu tố đầu vào biến đổi này sẽ được làm việc với ngày càng ít hơn các yếu tố đầu vào cố định

và do vậy làm cho năng suất của nó (được thể hiện bằng sản phẩm cận biên) sẽ bị giảm dần Chính vì vậy, trong sản xuất ngắn hạn, sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào biến đổi ban đầu tăng lên và sau đó bắt đầu giảm đi khi bị quy luật này chi phối Một lưu ý quan trọng nữa, đó là do phân tích trong điều kiện có những yếu tố sản xuất cố định nên quy luật này là quy luật của sản xuất trong ngắn hạn chứ không phải dài hạn

4.1.2.4 Mối quan hệ giữa sản phẩm trung bình và sản phẩm cận biên của yếu tố đầu vào

Giả sử xét một doanh nghiệp sản xuất trong ngắn hạn, chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động với vốn là yếu tố cố định Bây giờ chúng ta sẽ biểu diễn sự biến đổi của sản lượng khi số lượng lao động tăng lên (Hình 4.2)

Như đã phân tích ở trên, do sự tác động của quy luật sản phẩm cận biên giảm dần nên sản phẩm cận biên của lao động ban đầu sẽ tăng lên rồi sau đó giảm đi Vì thế, đường biểu diễn sản phẩm cận biên ban đầu đi lên (trong khoảng lao động từ 0-L1) và khi số lượng lao động vượt quá L1thì bắt đầu đi xuống, thậm chí, nếu số lượng lao động vượt quá L3 thì sản phẩm cận biên của lao động nhận giá trị âm và đường MPL cắt trục hoành

đi xuống dưới (xem Hình 4.2)

Về mặt giá trị, độ dốc của đường tổng sản phẩm chính là sản phẩm cận biên của lao động Do vậy, trong khoảng lao động từ 0-L3, khi MPL> 0 thì đường tổng sản phẩm sẽ có độ dốc dương, nhưng có độ dốc thay đổi

Cụ thể trong khoảng lao động từ 0-L1, đường tổng sản phẩm có độ dốc tăng dần, nhưng từ L1-L3, đường tổng sản lượng có độ dốc giảm dần Khi

số lượng lao động bằng đúng L3, MPL = 0 và sản lượng sẽ đạt giá trị lớn

Trang 9

nhất Nếu vượt quá L3, MPL< 0, đường tổng sản phẩm có độ dốc âm và

đi xuống dưới về phía phải

Hình 4.2 Mối quan hệ giữa sản phẩm trung bình và sản phẩm cận biên

trong ngắn hạn

Điểm A trên đường tổng sản phẩm (tương ứng với số lượng lao động

L1) biểu thị sự biến đổi trong độ dốc của đường tổng sản phẩm từ tăng dần chuyển sang thoải dần Điểm C (tương ứng khi số lượng lao động là

L3) là điểm mà tại đó tổng sản lượng đạt giá trị lớn nhất Trên đường tổng sản lượng, chúng ta xác định thêm điểm B bằng cách từ gốc tọa độ

kẻ một đường thẳng tiếp xúc với đường tổng sản phẩm, điểm tiếp xúc đó chính là điểm B, tương ứng với số lượng lao động L2

Từ công thức tính sản phẩm trung bình của lao động (APL = Q/L), ta thấy, về mặt giá trị, APL chính là độ dốc của đường thẳng xuất phát từ gốc tọa độ nối với điểm nằm trên đường tổng sản lượng tương ứng tại mức lao động đó

0

Trang 10

Với hình dáng của đường tổng sản phẩm được biểu diễn trên Hình 4.2, APL ban đầu sẽ tăng lên khi số lượng lao động gia tăng, đạt giá trị lớn nhất khi số lượng lao động là L2 và khi vượt quá mức lao động này

APL sẽ bắt đầu giảm dần Chính vì vậy, đường APL ban đầu cũng đi lên rồi sau đó sẽ đi xuống APL sẽ đạt giá trị lớn nhất ở mức lao động là L2

Có một điểm đặc biệt là khi số lượng lao động bằng L2, độ dốc đường

OB chính là giá trị của APL, nhưng lúc này OB cũng đồng thời là đường tiếp tuyến với đường tổng sản lượng tại điểm B, và do vậy độ dốc đường

OB cũng chính bằng giá trị sản phẩm cận biên của lao động Hay nói cách khác, khi số lượng lao động là L2 thì MPL = APL Do đó, trên đồ thị khi số lượng lao động là L2 thì hai đường APL và MPL sẽ cắt nhau

Nhìn trên đồ thị ta thấy, khi đường MPL nằm trên đường APL, nó sẽ kéo đường APL đi lên, còn khi MPL nằm dưới đường APL, nó lại kéo đường APL đi xuống và khi hai đường cắt nhau thì APL sẽ đạt giá trị lớn nhất Mối quan hệ này được cụ thể hóa như sau:

- Nếu MPL> APL thì khi gia tăng sản lượng, giá trị của APL sẽ tăng

- Ngược lại nếu MPL< APL thì khi gia tăng sản lượng, giá trị của

APL sẽ giảm

- Và khi MPL = APL thì APL đạt giá trị lớn nhất

Mối quan hệ giữa APL và MPL thực chất khá đơn giản, nó cũng giống như mối quan hệ giữa một số cộng thêm với giá trị trung bình của tổng Số cộng thêm chính là giá trị MPL, còn giá trị trung bình của tổng chính là APL Khi ta cộng thêm một số vào một tổng, nếu số đó có giá trị lớn hơn giá trị trung bình của tổng, thì kết quả là giá trị trung bình của tổng mới sẽ tăng lên Ngược lại, nếu số cộng thêm có giá trị nhỏ hơn giá trị trung bình của tổng thì kết quả là giá trị trung bình của tổng mới sẽ giảm đi

4.1.3 Sản xuất trong dài hạn

Bây giờ chúng ta sẽ phân tích về sản xuất trong dài hạn, khi tất cả các yếu tố đầu vào đều có thể thay đổi được

Trang 11

4.1.3.1 Hàm sản xuất trong dài hạn

Nếu giả định doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động, trong dài hạn, khi tất cả các yếu tố đầu vào đều có thể thay đổi thì số lượng đầu ra sẽ phụ thuộc vào đồng thời cả số lượng vốn và số lượng lao động

Hàm sản xuất khi đó sẽ có dạng:

Q = f(K,L) Trong sản xuất dài hạn, để tạo ra một lượng đầu ra nhất định, doanh nghiệp có thể có nhiều phương án sử dụng lao động và vốn khác nhau Hay nói cách khác, sản xuất trong dài hạn mang tính linh hoạt hơn nhiều

so với sản xuất trong ngắn hạn Có thể xem xét điều này thông qua Bảng 4.2 - Số lượng sản phẩm đầu ra thu được từ các tập hợp đầu vào khác nhau

Bảng 4.2 Số lượng sản phẩm đầu ra thu được

từ các tập hợp đầu vào khác nhau

Trang 12

Bảng 4.2 thể hiện số lượng đầu ra mà một doanh nghiệp có thể sản xuất tương ứng với các tập hợp khác nhau của yếu tố đầu vào (gồm vốn

và lao động) Hàng thể hiện số lượng vốn và cột thể hiện cho số lượng lao động mà doanh nghiệp này sử dụng Theo cách kết hợp giữa vốn và lao động, số lượng sản phẩm tạo ra được thể hiện tương ứng theo hàng và cột của bảng số liệu Ví dụ, 8K kết hợp với 2L sẽ tạo ra 258 sản phẩm Như vậy, nếu trong ngắn hạn, khi lượng vốn bằng 8 không thể thay đổi,

để sản xuất ra 258 sản phẩm doanh nghiệp sẽ chỉ có một sự lựa chọn đầu vào duy nhất, đó là sử dụng 2 đơn vị lao động Tuy nhiên, nếu sản xuất trong dài hạn, vốn có thể thay đổi, doanh nghiệp có thể lựa chọn tập hợp đầu vào khác, ví dụ 2K và 5L, do có nhiều lựa chọn trong việc sử dụng các tập hợp đầu vào khác nhau để tạo ra số lượng sản phẩm đầu ra mong muốn, sản xuất trong dài hạn mang tính linh hoạt hơn nhiều so với sản xuất trong ngắn hạn

4.1.3.2 Đường đồng lượng

Để mô tả khả năng sản xuất trong dài hạn của doanh nghiệp, các nhà

kinh tế học sử dụng công cụ đường đồng lượng Đường đồng lượng là

tập hợp các điểm phản ánh các tập hợp đầu vào khác nhau nhưng có khả năng sản xuất cùng một mức sản lượng đầu ra Đường đồng lượng được

ký hiệu là Q Trên hình 4.3, tập hợp đầu vào A và B có số lượng đầu vào vốn và lao động khác nhau nhưng đều tạo ra số lượng sản phẩm đầu ra là

Q1 Theo đúng khái niệm, hai tập hợp đầu vào A và B này sẽ cùng nằm trên một đường đồng lượng

Hình 4.3 Đường đồng lượng

Trang 13

Mỗi đường đồng lượng sẽ phản ánh mức sản lượng tối đa mà doanh nghiệp có thể sản xuất được từ các tập hợp đầu vào tương ứng với một trình độ công nghệ nhất định Vì doanh nghiệp sẽ tạo ra các mức sản lượng khác nhau nên khả năng sản xuất của doanh nghiệp không chỉ được thể hiện thông qua một đường đồng lượng duy nhất, mà thông qua

vô số đường đồng lượng khác nhau tạo thành một họ các đường đồng lượng Họ các đường đồng lượng chính là một cách để biểu thị hàm sản

xuất trong dài hạn của các doanh nghiệp (với giả định doanh nghiệp chỉ

sử dụng hai yếu tố đầu vào)

Về mặt khái niệm hay hình vẽ, đường đồng lượng gợi ý cho chúng ta liên tưởng đến đường bàng quan, tất nhiên giữa chúng có những sự khác nhau cơ bản Đường đồng lượng cũng có bốn tính chất giống như bốn tính chất của đường bàng quan, có thể đề cập đến đó là:

- Các đường đồng lượng luôn có độ dốc âm

- Các đường đồng lượng không bao giờ cắt nhau

- Đường đồng lượng càng xa gốc tọa độ thể hiện cho mức sản lượng đầu ra càng lớn và ngược lại

- Đi từ trên xuống dưới, đường đồng lượng có độ dốc giảm dần

Tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên đo lường mức độ thay thế được cho

nhau giữa các yếu tố đầu vào Cụ thể, tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên giữa vốn và lao động (ký hiệu là MRTSL/K) phản ánh một đơn vị lao động có thể thay thế được cho bao nhiêu đơn vị vốn mà sản lượng đầu ra không đổi

Do vốn và lao động có thể thay thế cho nhau nhưng vẫn tạo ra cùng lượng sản phẩm đầu ra nên hai tập hợp đầu vào trước và sau khi lao động

và vốn thay thế cho nhau vẫn nằm trên cùng một đường đồng lượng Cụ thể như trong Hình 4.4, khi lượng lao động tăng lên từ L1 đến L2 để thay thế cho lượng vốn giảm đi từ K1 xuống K2 thì số lượng đầu ra tạo ra vẫn không thay đổi Ta có thể nói rằng, ΔL đơn vị lao động có thể thay thế

Trang 14

được cho ΔK đơn vị vốn mà sản lượng đầu ra không đổi Vì vậy, theo khái niệm ta có:

Hình 4.4 Xác định tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên

trên đường đồng lượng

Khi thay đổi số lượng lao động từ L1 đến L2, số lượng sản phẩm tăng lên do sự thay đổi lao động có thể tính bằng (MPL)(ΔL), tương tự như vậy, khi số lượng vốn giảm ΔK đơn vị (từ K1 xuống còn K2) thì số lượng sản phảm giảm đi do vốn giảm sẽ bằng (MPK)(ΔK) Để sự thay đổi lao động và vốn này không gây ra sự thay đổi trong số lượng sản phẩm đầu

ra, ta phải có:

(MPL)(ΔL) + (MPK)(ΔK) = 0 Hay:

Trang 15

Như vậy, tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên giữa lao động cho vốn vừa bằng trị tuyệt đối độ dốc của đường đồng lượng, vừa bằng tỷ lệ giữa sản phẩm cận biên của lao động và sản phẩm cận biên của vốn

Với công thức này, ta có thể chứng minh tại sao khi đi từ trên xuống dưới, độ dốc của đường đồng lượng giảm dần, hay nói cách khác, giải thích cho hình dáng lồi của đường đồng lượng tương tự như khi ta chứng minh hình dáng lồi của đường bàng quan

Hình dáng đường đồng lượng thông thường là một đường cong lồi như Hình 4.4 thể hiện, nó nói lên rằng khi thay thế vốn bằng lao động thì một đơn vị lao động sẽ thay thế được ngày càng ít hơn đơn vị vốn Hay nói cách khác, để giảm một đơn vị vốn, các doanh nghiệp sẽ phải tăng thêm ngày càng nhiều đơn vị lao động Điều này hàm ý rằng, vốn và lao động có thể thay thế được cho nhau, nhưng sự thay thế này không phải là hoàn hảo

Ngoài trường hợp thông thường, có một số trường hợp đặc biệt của đường đồng lượng như sau:

Hình 4.5 Các trường hợp đặc biệt của đường đồng lượng

+ Trường hợp hai đầu vào thay thế hoàn hảo cho nhau: Trong

trường hợp này, một đơn vị lao động sẽ luôn luôn thay thế được cho một

Trang 16

lượng vốn nhất định, hay nói cách khác tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên giữa lao động và vốn luôn luôn không đổi Do vậy, độ dốc của đường đồng lượng không đổi Đường đồng lượng trở thành đường thẳng dốc xuống như hình 4.5a

+ Trường hợp hai đầu vào bổ sung hoàn hảo cho nhau: Quá trình

sản xuất lại thể hiện rằng một đơn vị đầu vào này luôn luôn phải kết hợp với một lượng nhất định đầu vào khác mới tạo ra sản phẩm, còn nếu tăng đầu vào này mà không thay đổi đầu vào kia hoặc ngược lại, sẽ không thể làm gia tăng số lượng sản phẩm Khi đó các đường đồng lượng có dạng hình chữ “L” như trong hình 4.5b

4.1.3.3 Hiệu suất kinh tế theo quy mô

Do trong dài hạn, tất cả các đầu vào đều có thể thay đổi cho nên sẽ đặt ra vấn đề nếu ta gia tăng tất cả các yếu tố đầu vào lên cùng một tỷ lệ thì số lượng sản phẩm đầu ra sẽ thay đổi như thế nào, hay nói cách khác,

ta đang đề cập đến vấn đề hiệu suất kinh tế theo quy mô

 Nếu tăng tất cả các yếu tố đầu vào lên t lần (t > 1) khiến cho số lượng sản phẩm đầu ra tăng lớn hơn t lần f(tK,tL) > t.f(K,L) thì hàm sản xuất phản ánh hiệu suất kinh tế tăng theo quy mô

 Ngược lại, tăng tất cả các yếu tố đầu vào lên t lần (t > 1) khiến cho

số lượng sản phẩm đầu ra tăng ít hơn t lần f(tK,tL) < t.f(K,L) thì hàm sản xuất phản ánh hiệu suất kinh tế giảm theo quy mô

 Còn khi tăng tất cả các yếu tố đầu vào lên t lần (t > 1) khiến cho

số lượng sản phẩm đầu ra tăng đúng t lần f(tK,tL) = t.f(K,L) thì hàm sản

xuất phản ánh hiệu suất kinh tế không đổi theo quy mô

Hiệu suất tăng theo quy mô là do hiệu quả đạt được từ sự chuyên môn hóa lao động, tìm được nguồn đầu vào rẻ Hiệu suất giảm theo quy

mô là do quy mô của doanh nghiệp lớn, bộ máy cồng kềnh, chi phí quản

lý doanh nghiệp tăng Thông thường, khi quy mô của doanh nghiệp còn nhỏ, việc mở rộng quy mô sản xuất có thể giúp các doanh nghiệp đạt được hiệu suất tăng theo quy mô, nhưng nếu cứ tiếp tục mở rộng quy mô,

Trang 17

đến một lúc nào đó các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với vấn đề hiệu suất giảm theo quy mô

Đối với hàm sản xuất Cobb - Douglas có dạng: QA.KL (với A,

α, β > 0), tùy thuộc vào α và β mà hàm có thể thể hiện hiệu suất tăng theo quy mô, giảm theo quy mô hoặc không đổi theo quy mô, cụ thể:

- Khi α + β > 1 hàm thể hiện hiệu suất kinh tế tăng theo quy mô

- Khi α + β < 1 hàm thể hiện hiệu suất kinh tế giảm theo quy mô

- Khi α + β = 1 hàm thể hiện hiệu suất kinh tế không đổi theo quy mô

4.2 LÝ THUYẾT CHI PHÍ SẢN XUẤT

Chúng ta biết rằng con người luôn phải đối mặt với vấn đề khan hiếm và các doanh nghiệp sản xuất cũng vậy Khi một doanh nghiệp sử dụng các yếu tố đầu vào để tiến hành sản xuất, nó phải từ bỏ cơ hội để sử dụng các nguồn lực đó theo một cách khác, điều này làm phát sinh chi phí sản xuất đối với các doanh nghiệp Sau đây, chúng ta sẽ đi nghiên cứu chi tiết các vấn đề về chi phí sản xuất

4.2.1 Chi phí và cách tiếp cận chi phí

Chi phí sản xuất là toàn bộ các phí tổn để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh mà các doanh nghiệp phải bỏ ra, phải gánh chịu trong một thời kỳ nhất định Ví dụ như, các chi phí để mua nguyên nhiên vật liệu, chi phí để trả lương cho người lao động, chi phí cho bộ phận quản lý, chi phí khấu hao máy móc

Chi phí kinh tế khác với chi phí kế toán Chi phí kế toán là toàn bộ

các khoản chi được thực hiện bằng một số tiền cụ thể mà các doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất kinh doanh, các chi phí kế toán sẽ được

hạch toán trong các sổ sách kế toán Chi phí này còn được gọi là chi phí hiện Còn chi phí kinh tế là toàn bộ các chi phí cơ hội của tất cả các

nguồn lực được đưa vào trong sản xuất Nó bao gồm cả chi phí cơ hội hiện (chi phí hiện) và chi phí cơ hội ẩn (chi phí ẩn) - tức các chi phí cơ

Trang 18

hội của việc sử dụng nguồn lực nhưng không được thể hiện bằng một khoản chi trực tiếp bằng tiền

Để hiểu rõ sự khác biệt giữa chi phí kinh tế và chi phí kế toán ta nghiên cứu ví dụ sau: Giả sử sau hai năm ra trường, bạn đang có một công việc với mức lương là 72 triệu VNĐ/năm, bạn đang sở hữu một căn nhà cho thuê với số tiền 60 triệu/năm và bạn có một sổ tiết kiệm với mức lãi nhận được hàng năm là 30 triệu Tuy nhiên, năm nay bạn quyết định

tự đứng ra kinh doanh, bạn từ bỏ công việc, lấy lại căn nhà cho thuê để làm địa điểm kinh doanh, sử dụng số tiền tiết kiệm để đầu tư cho công việc này và thuê người làm Sau một năm, những số tiền thực chi cho công việc kinh doanh của bạn như sau:

Nguyên nhiên vật liệu, khấu hao máy móc 80 triệu

Chi phí trả lương cho nhân viên 50 triệu

Giá trị 170 triệu chính là chi phí kế toán, các khoản trả trực tiếp bằng tiền để tiến hành kinh doanh Tuy nhiên, khi tính toán chi phí kinh tế, bạn phải tính đến chi phí cơ hội của tất cả các nguồn lực bạn đã sử dụng vào kinh doanh Có những nguồn lực bạn sử dụng vào trong quá trình kinh doanh nhưng không thể hiện bằng các khoản trả trực tiếp, ví dụ do mở cửa hàng bạn đã phải từ bỏ công việc với mức lương hàng năm là 72 triệu, bạn không còn được nhận số tiền cho thuê nhà là 60 triệu và bạn cũng không còn được nhận tiền lãi 30 triệu Đây chính là những chi phí

ẩn, xuất hiện do bạn sử dụng chính những nguồn lực mà bạn là chủ sở hữu Mặc dù bạn không phải trả tiền trực tiếp cho ai nhưng trên thực tế, bạn đã từ bỏ cơ hội được nhận số tiền này do bạn đã đưa các nguồn lực

do mình sở hữu vào kinh doanh

Trang 19

Như vậy, bạn cần tính thêm (72 triệu + 60 triệu + 30 triệu) = 162 triệu vào chi phí kinh tế của mình Thực chất, tổng chi phí kinh tế của bạn là: 170 triệu + 162 triệu = 332 triệu lớn hơn so với chi phí kế toán

4.2.2 Chi phí sản xuất trong ngắn hạn

Chi phí sản xuất trong ngắn hạn là các chi phí mà doanh nghiệp gánh chịu trong giai đoạn mà trong đó có ít nhất một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất không thay đổi

4.2.2.1 Tổng chi phí sản xuất ngắn hạn

Tổng chi phí sản xuất ngắn hạn có thể được ký hiệu là TC hoặc STC

Nó là toàn bộ những phí tổn dùng để tiến hành sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn Do ngắn hạn có yếu tố đầu vào cố định và yếu tố đầu vào biến đổi nên tổng chi phí trong ngắn hạn của doanh nghiệp sẽ bao gồm hai bộ phận:

Chi phí cố định (TFC): Được hình thành từ các yếu tố đầu vào cố

định, ví dụ như các chi phí liên quan đến tiền thuê, tiền khấu hao nhà xưởng, nhà máy, khấu hao máy móc Đúng như tên gọi, chi phí cố định không thay đổi khi sản lượng đầu ra thay đổi Điều này cũng hàm ý rằng, ngay cả khi doanh nghiệp không sản xuất, doanh nghiệp vẫn phải chịu chi phí cố định Ví dụ, một doanh nghiệp bánh thuê cửa hàng là 20 triệu đồng/tháng Khi đó, dù doanh nghiệp có sản xuất 500 hay 1.000 chiếc bánh thì doanh nghiệp vẫn phải trả 20 triệu đồng/tháng, và thậm chí ngay

cả khi doanh nghiệp không sản xuất (Q = 0) doanh nghiệp vẫn phải chịu chi phí này

Chi phí biến đổi (TVC): Được hình thành từ các yếu tố đầu vào biến

đổi Khi sản lượng đầu ra tăng lên, doanh nghiệp phải dùng nhiều yếu tố đầu vào biến đổi hơn và do vậy chi phí biến đổi cũng tăng lên, còn khi không sản xuất thì chi phí biến đổi của doanh nghiệp bằng 0 Những chi phí biến đổi như: Chi phí liên quan đến nguyên nhiên vật liệu, chi phí trả lương cho người lao động trực tiếp sản xuất

Như vậy, ta có: TC = TFC + TVC

Trang 20

Để hiểu được các chi phí này, ta nghiên cứu tình huống của một doanh nghiệp bánh ngọt Các chi phí sản xuất của doanh nghiệp tương ứng với mức sản lượng được cho ở Bảng 4.3

Bảng 4.3 Các chi phí sản xuất của một doanh nghiệp bánh ngọt

Trang 21

Hình 4.6 Các đường tổng chi phí, chi phí cố định và chi phí biến đổi

Khi biểu diễn trên đồ thị, do không thay đổi theo sản lượng nên đường chi phí cố định sẽ luôn cách trục hoành một khoảng không đổi, đường TFC song song với trục hoành và cắt trục tung ở giá trị chi phí cố định C0 (Hình 4.6)

Đường chi phí biến đổi sẽ bắt đầu từ gốc tọa độ và có độ dốc dương, thể hiện rằng khi sản lượng tăng thì chi phí biến đổi cũng tăng Thông thường, trong ngắn hạn đường chi phí biến đổi giống một đường cong bậc 3 hình chữ S ngược Nguyên nhân của điều này là do sự tác động của quy luật sản phẩm cận biên giảm dần

Đường tổng chi phí trong ngắn hạn sẽ được hình thành bằng cách cộng theo chiều dọc hai đường TFC và TVC Vì vậy, đường TC sẽ bắt đầu từ điểm mà đường TFC cắt với trục tung và luôn cách đường TVC một khoảng không đổi, khoảng cách này chính là chi phí cố định

Trang 22

định bình quân sẽ luôn luôn giảm Do đó, khi biểu diễn trên đồ thị, đường AFC sẽ là một đường có độ dốc dương Hình dáng của đường AFC giống như một đường hyperbol tiệm cận với hai trục (xem Hình 4.7)

Chi phí biến đổi bình quân (AVC) là mức chi phí biến đổi tính bình quân cho một đơn vị sản phẩm,

Q

TVC AVC

Ở Bảng 4.3, giá trị của AVC được tính bằng cách lấy giá trị TVC ở cột thứ ba chia cho mức sản lượng ở cột thứ nhất Xem xét sự biến động của AVC, ta thấy rằng ban đầu chi phí biến đổi bình quân giảm dần sau

đó lại tăng lên Điều này một lần nữa lại do tác động của quy luật sản phẩm cận biên giảm dần Chính vì sự biến động này nên đường AVC có dạng hình chữ U hay hình lòng chảo, ban đầu đi xuống và sau đó đi lên như trên Hình 4.7

Hình 4.7 Các đường chi phí bình quân ATC, AFC và AVC

Tổng chi phí bình quân (ATC, hoặc SATC) là mức chi phí tính bình quân cho một đơn vị sản phẩm,

Q

TC ATC

TFC Q

TVC

Trang 23

Trong ví dụ ở bảng 4.3, giá trị của ATC có thể được tính theo hai cách, hoặc lấy giá trị TC ở cột thứ 4 chia cho giá trị sản lượng ở cột thứ nhất, hoặc lấy giá trị AFC và AVC (ở cột thứ năm và sáu) cộng vào nhau Qua bảng số liệu ta thấy giá trị của ATC ban đầu cũng giảm nhưng sau

đó lại tăng lên Sở dĩ xảy ra điều này là do ở giai đoạn đầu, cả AFC và AVC đều có xu hướng giảm xuống nên kết quả là ATC cũng giảm Ở giai đoạn tiếp theo AVC bắt đầu tăng lên, nhưng sự giảm xuống của AFC

có xu hướng mạnh hơn sự tăng lên của AVC nên ATC vẫn có xu hướng giảm xuống Chỉ đến khi sự tăng lên của AVC chiếm ưu thế thì giá trị của ATC mới bắt đầu tăng lên

Nếu biểu diễn trên đồ thị, đường ATC cũng có dạng chữ U, dạng lòng chảo Và cụ thể, đường ATC được xác định bằng cách cộng theo chiều dọc hai đường AFC và AVC Trên Hình 4.7, ở mức sản lượng Q1

ta có AFC bằng độ dài đoạn AQ1, còn AVC bằng độ dài đoạn BQ1 Nếu I

là điểm nằm trên đường ATC ứng với mức sản lượng Q1 thì IQ1=

1

AQ +BQ1, do vậy ta cần xác định điểm I sao cho IB=AQ1 Tương tự như vậy, ở các mức sản lượng Q2 và Q3 ta sẽ xác định được các lần lượt các điểm H và G nằm trên đường ATC tương ứng với các mức sản lượng này

Rõ ràng, khoảng cách theo chiều dọc giữa hai đường ATC và AVC chính là giá trị của AFC Do AFC giảm dần khi mức sản lượng gia tăng nên khoảng cách giữa ATC và AVC cũng ngày càng thu hẹp về phía bên phải

4.2.2.3 Chi phí cận biên ngắn hạn

Chi phí cận biên trong ngắn hạn (MC hay SMC) là sự thay đổi trong

tổng chi phí khi doanh nghiệp sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm Giá trị của chi phí cận biên trả lời cho câu hỏi khi doanh nghiệp sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm thì doanh nghiệp tốn thêm một chi phí là bao nhiêu

Trang 24

) (

'Q

TC Q

Trong đó: ΔTC là sự thay đổi trong tổng chi phí

ΔQ là sự thay đổi trong tổng số sản phẩm sản xuất ra Trong ngắn hạn, do chi phí cố định không thay đổi nên nếu tổng chi phí thay đổi thì sự thay đổi đó hoàn toàn do chi phí biến đổi gây ra, hay ΔTC = ΔVC Do vậy, chi phí cận biên có thể tính theo chi phí biến đổi như sau:

Để hiểu được sự tác động của quy luật sản phẩm cận biên giảm dần đến hình dáng của đường MC, ta nghiên cứu một doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động, với yếu tố vốn cố định Nếu doanh nghiệp thuê thêm ΔL đơn vị lao động, doanh nghiệp sẽ tạo thêm được ΔQ đơn vị sản phẩm và chi phí của doanh nghiệp tăng thêm một lượng là w.ΔL (trong đó w là mức tiền công trả cho mỗi đơn vị lao động) Khi đó ta có:

L

MP

w L Q

w Q

L w Q

Trang 25

Hình 4.8 Đường chi phí cận biên trong ngắn hạn

4.2.2.4 Mối quan hệ giữa chi phí cận biên và chi phí bình quân

Giữa chi phí cận biên và chi phí bình quân (ở đây nói đến chi phí biến đổi bình quân và tổng chi phí bình quân) cũng có mối quan hệ tương

tự như mối quan hệ giữa sản phẩm cận biên và sản phẩm trung bình Đó

là khi đường chi phí cận biên (MC) ở dưới đường chi phí bình quân, nó

sẽ kéo đường chi phí bình quân đi xuống dưới, ngược lại khi chi phí cận biên nằm trên đường chi phí bình quân nó sẽ kéo đường chi phí bình quân đi lên; tại điểm giao nhau giữa đường chi phí bình quân và chi phí cận biên thì chi phí bình quân đạt giá trị nhỏ nhất (xem Hình 4.9)

Hình 4.9 Mối quan hệ giữa chi phí cận biên và chi phí bình quân

Trang 26

4.2.3 Chi phí sản xuất trong dài hạn

Chúng ta sẽ phân tích các chi phí sản xuất trong dài hạn, khi tất cả các yếu tố đầu vào đều có thể thay đổi được

4.2.3.1 Tổng chi phí sản xuất trong dài hạn

Tổng chi phí dài hạn (LTC) bao gồm toàn bộ những phí tổn mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh các hàng hóa hay dịch vụ trong điều kiện các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất đều

có thể thay đổi

Trong dài hạn các doanh nghiệp có thể có nhiều phương án kết hợp đầu vào khác nhau để sản xuất ra một mức sản lượng đầu ra, cho nên để đảm bảo hiệu quả, các doanh nghiệp sẽ luôn chọn phương án kết hợp đầu vào có chi phí thấp nhất Do vậy, có thể nói chi phí trong dài hạn chính là chi phí ứng với khả năng sản xuất trong ngắn hạn tốt nhất (có chi phí trong ngắn hạn là thấp nhất) tương ứng với từng mức sản lượng đầu ra Trong dài hạn, không còn yếu tố đầu vào cố định mà tất cả các yếu

tố đầu vào đều là yếu tố biến đổi Vì vậy, đường tổng chi phí trong dài hạn LTC sẽ xuất phát từ gốc tọa độ (khi doanh nghiệp không sản xuất, doanh nghiệp không mất chi phí) và có độ dốc dương để thể hiện rằng khi sản lượng tăng lên thì tổng chi phí cũng tăng Về mặt hình dạng, thông thường, đường LTC cũng có dạng một đường cong bậc 3 hình chữ

S ngược nhưng thoải hơn so với đường tổng chi phí trong ngắn hạn (xem Hình 4.10) Sở dĩ đường LTC có hình dáng như vậy là do sự thay đổi của tính kinh tế theo quy mô Ban đầu khi tốc độ tăng của chi phí đầu vào nhỏ hơn tốc độ tăng của đầu ra, lúc này quá trình sản xuất thể hiện hiệu suất tăng theo quy mô và đường chi phí dài hạn có độ dốc tăng dần Tuy nhiên, khi quy mô được mở rộng đến một mức độ nhất định thì tốc độ tăng của chi phí đầu vào lại tăng nhanh hơn tốc độ tăng của số lượng đầu

ra, lúc này quá trình sản xuất thể hiện hiệu suất kinh tế giảm theo quy mô

và đường LTC có độ dốc tăng dần

Trang 27

Hình 4.10 Đường tổng chi phí trong dài hạn

4.2.3.2 Chi phí bình quân và chi phí cận biên trong dài hạn

Chi phí bình quân dài hạn (LAC) là mức chi phí bình quân tính trên mỗi đơn vị sản phẩm trong dài hạn

Q

LTC LAC

Chi phí cận biên dài hạn (LMC) là sự thay đổi trong tổng chi phí dài hạn khi doanh nghiệp sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm

) (

'Q

LTC Q

Trong dài hạn, hình dáng của các đường chi phí do sự tác động của

tính kinh tế theo quy mô Nếu khi sản lượng tăng lên làm cho chi phí bình quân giảm thì doanh nghiệp có tính kinh tế theo quy mô, còn nếu làm cho chi phí bình quân tăng thì doanh nghiệp chịu tính phi kinh tế theo quy mô

Theo khảo sát, các nhà kinh tế học thấy rằng trong dài hạn, ban đầu khi quy mô nhỏ các doanh nghiệp thường có tính kinh tế của quy mô, nhưng khi mở rộng đến một quy mô nào đó thì doanh nghiệp lại chịu tính phi kinh tế của quy mô Chính vì thế, thông thường, đường chi phí bình quân dài hạn LAC có dạng hình chữ U, ban đầu sẽ đi xuống và sau đó sẽ đi lên Khi đó, nó quyết định hình dáng của đường tổng chi phí dài hạn LTC có dạng hình chữ S ngược và đường chi phí cận biên cũng có dạng chữ U

Trang 28

Trong trường hợp thông thường, giữa LAC và LMC cũng có mối quan hệ như mối quan hệ giữa chi phí cận biên và chi phí bình quân trong ngắn hạn Tức là khi LMC < LAC thì khi gia tăng sản lượng sẽ làm cho giá trị của LAC giảm xuống, ngược lại, nếu LMC > LAC thì khi gia tăng sản lượng sẽ làm cho giá trị của LAC tăng lên, còn khi LMC = LAC thì LAC đạt giá trị nhỏ nhất Điều này được thể hiện rõ ở Hình 4.11

Hình 4.11 Mối quan hệ giữa chi phí bình quân và chi phí cận biên trong dài hạn

Tuy nhiên, không phải lúc nào quá trình sản xuất của một doanh nghiệp ban đầu cũng thể hiện tính kinh tế theo quy mô và sau đó là tính phi kinh tế theo quy mô Nếu một doanh nghiệp luôn luôn đối mặt với tính kinh tế theo quy mô thì đường LAC của doanh nghiệp sẽ luôn luôn

đi xuống dưới, và khi đó, đường LMC của doanh nghiệp sẽ nằm bên dưới đường LAC như trên Hình 4.12

Hình 4.12 Mối quan hệ giữa LAC và LMC trong các trường hợp khác nhau

của tính kinh tế theo quy mô

C

Q

Trang 29

Ngược lại, nếu một doanh nghiệp luôn đối mặt với tính phi kinh tế theo quy mô thì đường LAC của doanh nghiệp sẽ luôn đi lên và đường LMC khi đó sẽ nằm trên đường LAC Trong trường hợp tính kinh tế không đổi theo quy mô thì đường LAC sẽ là một đường nằm ngang song song với trục hoành và đường LMC trùng đúng với đường LAC

4.2.3.3 Mối quan hệ giữa chi phí bình quân dài hạn và chi phí bình quân ngắn hạn

Như đã đề cập ở trên, chi phí trong dài hạn thực chất được hình thành

từ chi phí trong ngắn hạn thấp nhất tương ứng với từng mức sản lượng Vậy, giữa chi phí bình quân dài hạn và bình quân ngắn hạn có mối quan hệ như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này, ta cùng nghiên cứu tình huống sau: Giả sử một doanh nghiệp đang tiến hành xây dựng một nhà máy mới, doanh nghiệp có ba sự lựa chọn về quy mô: Quy mô nhỏ, quy mô vừa và quy mô lớn Lưu ý rằng, khi doanh nghiệp còn đang lên kế hoạch xây dựng nhà máy, có nghĩa là doanh nghiệp có thể thay đổi lựa chọn về quy

mô thì lúc đó doanh nghiệp đang đối mặt với sản xuất trong dài hạn Còn một khi doanh nghiệp đã lựa chọn một quy mô nào đó và tiến hành xây dựng nhà máy thì khi đó doanh nghiệp không thể thay đổi được quy mô nữa và doanh nghiệp đối mặt với sản xuất trong ngắn hạn Chính vì vậy, các đường chi phí bình quân ứng với ba quy mô nhỏ, vừa và lớn ta có thể coi là các đường chi phí bình quân trong ngắn hạn tương ứng là ATC1, ATC2 và ATC3

Hình 4.13 Lựa chọn quy mô nhà máy trong dài hạn

Trang 30

Việc doanh nghiệp lựa chọn quy mô nhà máy nào phụ thuộc vào việc doanh nghiệp dự kiến sản xuất bao nhiêu sản phẩm Ví dụ, trên Hình 4.13, nếu doanh nghiệp dự kiến sản xuất ở mức sản lượng Q1, doanh nghiệp sẽ lựa chọn xây dựng nhà máy quy mô nhỏ, vì đây là quy mô có chi phí thấp nhất để sản xuất ra mức sản lượng Q1 Còn nếu doanh nghiệp

dự kiến sản xuất ở mức sản lượng Q2, thì doanh nghiệp sẽ chọn xây dựng nhà máy quy mô vừa

Như vậy, doanh nghiệp sẽ luôn lựa chọn quy mô nhà máy có mức chi phí sản xuất thấp nhất tương ứng với từng mức sản lượng Khi được lựa chọn với ba quy mô nhà máy, đường chi phí bình quân trong dài hạn của doanh nghiệp sẽ là phần đường hình thành kết hợp từ các phần không

bị gạch trên ba đường ATC1, ATC2 và ATC3 (xem Hình 4.13)

Nếu số quy mô nhà máy của doanh nghiệp được chọn lớn hơn, đường chi phí bình quân dài hạn của doanh nghiệp sẽ bớt gấp khúc hơn Trong trường hợp doanh nghiệp có thể chọn lựa bất kỳ quy mô nhà máy nào, đường LAC của doanh nghiệp sẽ trở nên mịn, phẳng và là đường bao phía dưới của các đường chi phí bình quân trong ngắn hạn (xem Hình 4.14) Đường LAC này có dạng hình chữ U, thoải hơn các đường chi phí bình quân trong ngắn hạn

Hình 4.14 Đường LAC là đường bao của các đường ATC

Trang 31

Một điểm dường như đáng ngạc nhiên, đó là đường chi phí bình quân dài hạn không nhất thiết phải đi qua tất cả các điểm cực tiểu của các đường chi phí bình quân trong ngắn hạn Chỉ trong duy nhất trường hợp quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn thể hiện tính kinh tế không đổi theo quy mô thì khi đó đường LAC mới đi qua tất cả các điểm cực tiểu của các đường ATC và lúc này đường LAC là một đường thẳng song song với trục hoành

Chú ý rằng, đường chi phí cận biên dài hạn không phải là đường bao của các đường chi phí cận biên trong ngắn hạn vì chi phí cận biên ngắn hạn áp dụng cho một quy mô nhà máy, trong khi đó chi phí cận biên dài hạn áp dụng cho những quy mô nhà máy mà doanh nghiệp có thể lựa chọn Mối quan hệ giữa chi phí bình quân, chi phí cận biên trong ngắn hạn và dài hạn được minh họa chi tiết trên Hình 4.15

Hình 4.15 Mối quan hệ giữa các đường chi phí trong ngắn hạn và dài hạn

4.2.3.4 Đường đồng phí

Đường đồng phí cho biết các tập hợp đầu vào mà doanh nghiệp có

thể mua hay thuê với một lượng chi phí nhất định và giá cả của đầu vào

là biết trước

Nếu một doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động với giá thuê vốn và giá thuê lao động lần lượt được ký hiệu là r và

Trang 32

w, doanh nghiệp có một mức chi phí nhất định là C (hoặc TC), khi đó ta

có phương trình đường đồng phí của doanh nghiệp như sau:

C = w.L + r.K

Hình 4.16 Đường đồng phí

Đường đồng phí được ký hiệu là C, với hai điểm cắt trục hoành và trục tung lần lượt có tọa độ là (C/w, 0) và (0, C/r) Mỗi điểm trên đường đồng phí phản ánh một tập hợp đầu vào có mức chi phí cố định

Đường đồng phí có thể được viết là: K = C/r - (w/r).L, do vậy, độ dốc của đường đồng phí bằng -w/r Giá trị độ dốc này phản ánh một đơn

vị lao động có thể thay thế được cho bao nhiêu đơn vị vốn để tổng chi phí là không đổi

Khi giá của các yếu tố đầu vào và mức chi phí thay đổi sẽ làm cho đường đồng phí thay đổi tương tự như đường ngân sách trong Chương 3 -

Lý thuyết hành vi người tiêu dùng mà ta đã nghiên cứu

4.3 LỰA CHỌN ĐẦU VÀO TỐI ƯU

Khi nghiên cứu về quá trình sản xuất của các doanh nghiệp, các nhà kinh tế học đã giả định rằng các doanh nghiệp đều đạt hiệu quả về mặt kỹ thuật, tức là tương ứng với các tập hợp đầu vào khác nhau, các doanh nghiệp đều tạo ra được số lượng sản phẩm đầu ra là tối đa Tuy nhiên, đạt hiệu quả về mặt kỹ thuật không đồng nghĩa với đạt hiệu quả về mặt kinh

Trang 33

tế Các doanh nghiệp đều mong muốn rằng có thể sản xuất ra sản phẩm với mức chi phí thấp nhất hoặc với cùng một mức chi phí có thể tạo ra được số lượng sản phẩm lớn nhất Chúng ta sẽ sử dụng công cụ đường đồng phí và đường đồng lượng để xây dựng nguyên tắc lựa chọn đầu vào tối ưu cho các doanh nghiệp

4.3.1 Lựa chọn đầu vào tối ưu để tối thiểu hóa chi phí khi sản xuất một mức sản lượng nhất định

Ta nghiên cứu một tình huống sau Giả sử một doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động Giá của vốn và lao động lần lượt là r và w đã biết trước Nếu doanh nghiệp muốn sản xuất ra một mức sản lượng Q0 (Hình 4.17) thì doanh nghiệp sẽ lựa chọn tập hợp đầu vào như thế nào?

Để trả lời cho câu hỏi này, ta sẽ sử dụng đồ thị đường đồng phí và đường đồng lượng Chúng ta biết rằng, để sản xuất ra mức sản lượng Q0thì doanh nghiệp sẽ chọn bất kỳ một tập hợp đầu vào nào nằm trên đường đồng lượng Q0 Vấn đề là có vô số tập hợp đầu vào có thể sản xuất ra mức sản lượng Q0, vậy doanh nghiệp phải chọn tập hợp đầu vào nào?

Hình 4.17 Lựa chọn đầu vào tối ưu để tối thiểu hóa chi phí

Do giá của hai yếu tố đầu vào lao động và vốn là đã biết, cho nên chúng ta sẽ xác định được độ dốc của đường đồng phí (bằng -w/r) Khi

Trang 34

đó tùy thuộc vào mức chi phí, ta sẽ xác định được đường đồng phí Và nhớ một đặc điểm của đường đồng phí rất cần thiết để ta phân tích trong trường hợp này, đó là đường đồng phí càng gần gốc tọa độ thì có mức chi phí càng thấp và ngược lại

Nguyên tắc để giải quyết bài toán này là chúng ta phải lựa chọn tập hợp đầu vào tối ưu sao cho tập hợp đó phải nằm trên đường đồng lượng

Q0 (để sản xuất ra được mức sản lượng Q0) và nằm trên đường đồng phí càng gần gốc tọa độ càng tốt (để có mức chi phí là thấp nhất)

Trên Hình 4.17, rất dễ dàng nhận thấy tập hợp đầu vào thỏa mãn đồng thời cả hai điều kiện trên là tập hợp E Lý do là E nằm trên đường đồng lượng Q0 và nằm trên đường đồng phí C2 gần gốc tọa độ nhất có thể Nếu dịch chuyển đường đồng phí C2 vào gần gốc tọa độ hơn một chút thì

sẽ không có một tập hợp đầu vào nào có thể tạo ra mức sản lượng Q0 E chính là điểm tiếp xúc giữa đường đồng lượng Q0 và đường đồng phí C2 Như vậy, chúng ta có thể đưa ra tập hợp đầu vào tối ưu để tối thiểu hóa chi phí chính là điểm tiếp xúc giữa đường đồng phí và đường đồng lượng

Do là điểm tiếp xúc nên tại E, độ dốc của đường đồng phí bằng với

độ dốc đường đồng lượng Từ đây chúng ta suy ra:

K

L

MP

MP r

w 

r

MP w

MP LK

Đây chính là điều kiện cần để tối thiểu hóa chi phí Ý nghĩa của điều kiện này là, để tối thiểu hóa chi phí, các doanh nghiệp phải lựa chọn tập hợp đầu vào sao cho số sản phẩm tạo ra trên mỗi một đơn vị chi tiêu cho các đầu vào khác nhau phải như nhau

Kết hợp với điều kiện đủ là tập hợp đầu vào đó phải sản xuất ra được mức sản lượng Q0, tức là f(K,L) = Q0, ta có điều kiện cần và đủ để tối thiểu hóa chi phí là:

MP w

Trang 35

4.3.2 Lựa chọn đầu vào tối ưu để tối đa hóa sản lượng khi có một mức chi phí nhất định

Khi lựa chọn đầu vào tối ưu để tối đa hóa sản lượng, vấn đề đặt ra ở đây là để sản xuất ra mức sản lượng lớn nhất ứng với mức chi phí này, doanh nghiệp cần lựa chọn đầu vào như thế nào? Chúng ta nghiên cứu qua một ví dụ, giả sử một doanh nghiệp chỉ sử dụng hai yếu tố đầu vào là

vốn và lao động Giá của vốn và lao động lần lượt là r và w đã biết trước

và doanh nghiệp có một mức chi phí cố định C0

Do giá của hai yếu tố đầu vào và chi phí đã biết nên chúng ta hoàn toàn xác định được đường đồng phí C0 của doanh nghiệp (xem Hình 4.18) Vấn đề là có vô số các tập hợp đầu vào có mức chi phí xác định C0, nhưng tập hợp đầu vào nào mới tạo ra số lượng sản phẩm lớn nhất?

Tập hợp đầu vào tối ưu trong trường hợp này là tập hợp đầu vào nằm trên đường đồng phí C0 (để có mức chi phí C0) và phải nằm trên đường đồng lượng xa gốc tọa độ nhất có thể (để tạo ra mức sản lượng lớn nhất) Theo nguyên tắc này, tập hợp đầu vào đó phải là tập hợp được xác định tại điểm tiếp xúc giữa đường đồng phí C0 và đường đồng lượng Q2, tức là tập hợp E trên Hình 4.18

Hình 4.18 Lựa chọn đầu vào tối ưu để tối đa hóa sản lượng

Giống như phần trên, do E là điểm tiếp xúc giữa đường đồng phí và đường đồng lượng nên ta rút ra điều kiện cần để tối đa hóa sản lượng sẽ

Trang 36

là:

r

MP

w

MP LK , kết hợp với điều kiện đủ là doanh nghiệp có mức chi phí

cố định C0, ta có điều kiện cần và đủ như sau:

MP w

4.4 LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN

4.4.1 Khái niệm và công thức tính lợi nhuận

Lợi nhuận được ký hiệu là π Nó là phần chênh lệch giữa doanh thu

và chi phí Ta có công thức tính lợi nhuận như sau:

π = TR - TC Chú ý rằng, tổng chi phí và tổng doanh thu phụ thuộc vào mức sản lượng, do vậy lợi nhuận cũng sẽ phụ thuộc vào sản lượng, tức là:

π(Q) = TR(Q) - TC(Q)Ngoài công thức tính lợi nhuận theo tổng doanh thu và tổng chi phí,

ta có thể tính theo giá trị bình quân:

π = TR - TC = P.Q - ATC.Q = (P-ATC).Q

Ở phần chi phí, chúng ta đã phân biệt sự khác nhau giữa chi phí kế toán và chi phí kinh tế Đến đây chúng ta lại phân biệt giữa lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán

Lợi nhuận kế toán = Doanh thu - Chi phí kế toán

Lợi nhuận kinh tế = Doanh thu - Chi phí kinh tế

Do chi phí kinh tế lớn hơn chi phí kế toán nên lợi nhuận kinh tế nhỏ hơn lợi nhuận kế toán

Để có thể hiểu rõ sự khác biệt giữa chi phí kinh tế và chi phí kế toán, lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán, chúng ta có thể xem hình 4.19 dưới đây:

Trang 37

Hình 4.19 Lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán

Tiếp tục với ví dụ từ phần 4.2.1 Nếu doanh thu một năm của cửa hàng của bạn là 300 triệu thì:

Lợi nhuận kế toán = 300 triệu - 170 triệu = 130 triệu

Tuy nhiên, nếu xét đến lợi nhuận kinh tế thì bạn có mức lợi nhuận là: Lợi nhuận kinh tế = 300 triệu - 332 triệu = -32 triệu

Nếu nhìn dưới góc độ kế toán, bạn có mức lãi/năm không hề nhỏ, nhưng dưới góc độ kinh tế thì bạn lại thua lỗ Vậy lợi nhuận kinh tế âm ở đây thể hiện điều gì? Nó cho biết rằng, về mặt kinh tế, phương án mà bạn chọn chưa mang lại lợi ích lớn nhất cho bạn Hãy tưởng tượng rằng, nếu bạn không bắt tay vào việc tự kinh doanh, bạn sẽ vẫn đi làm và nhận được mức lương 72 triệu, bạn sẽ vẫn nhận được tiền cho thuê nhà là 60 triệu và bạn vẫn còn số tiền tiết kiệm giúp bạn nhận được 30 triệu mỗi năm Như vậy, tổng số tiền mà bạn nhận được lên tới 162 triệu lớn hơn

so với số tiền lãi bạn nhận được từ việc tự mở cửa hàng kinh doanh Trong trường hợp lợi nhuận kinh tế dương, nó phản ánh rằng phương án kinh doanh mà bạn chọn đã mang lại lợi nhuận cao nhất Còn nếu lợi nhuận kinh tế bằng 0 thì lại phản ánh rằng phương án kinh doanh

mà bạn chọn cũng mang lại lợi ích giống như phương án kinh doanh tốt nhất mà bạn đã bỏ qua Mở rộng ra, đối với một ngành, nếu lợi nhuận

Lợi nhuận kinh tế Chi phí ẩn

Trang 38

kinh tế của ngành dương thì ngành đó đạt được mức lợi nhuận lớn hơn lợi nhuận thông thường, còn nếu lợi nhuận kinh tế của ngành âm thì có nghĩa là lợi nhuận của ngành đang thấp hơn với mức lợi nhuận thông thường Khi lợi nhuận kinh tế của một ngành bằng 0 thì điều đó nói lên rằng ngành này đạt mức lợi nhuận bằng với lợi nhuận thông thường

4.4.2 Ý nghĩa của lợi nhuận

Dưới góc độ của từng doanh nghiệp, lợi nhuận thường được xem như mục tiêu kinh tế cao nhất của các doanh nghiệp Tất nhiên trong thực

tế, ở một số trường hợp, các doanh nghiệp có thể chỉ quan tâm đến doanh thu, quy mô sản xuất hay muốn giảm thiểu rủi ro Nhưng xét cho cùng, tất cả những mối quan tâm này thực chất đều hướng đến mục tiêu lợi nhuận trong dài hạn Chính vì thế, việc giả định là các doanh nghiệp hướng tới mục tiêu lợi nhuận vẫn là một giả định hợp lý

Dưới góc độ nền kinh tế, lợi nhuận kinh tế cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng Một ngành có mức lợi nhuận lớn hơn mức lợi nhuận trung bình sẽ khiến cho các doanh nghiệp mới tìm cách gia nhập vào ngành để cũng đạt được lợi nhuận cao Ngược lại, trong dài hạn, nếu một ngành có mức lợi nhuận thấp hơn so với mức trung bình lại khiến các doanh nghiệp trong ngành tìm cách rút lui khỏi ngành đó để chuyển sang những ngành khác có mức lợi nhuận cao hơn Như vậy, lợi nhuận kinh tế chính

là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế Lợi nhuận kinh tế dương còn được xem như phần thưởng cho sự đổi mới và hiệu quả, ngược lại, lợi nhuận kinh tế âm lại như một hình thức phạt cho sự trì trệ và không hiệu quả Lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng tạo động lực cho sự đổi mới và sản xuất hiệu quả và trong phân phối nguồn lực khan hiếm

4.4.3 Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận

Như đã nói ở trên, giả định tối đa hóa lợi nhuận thường được sử dụng trong kinh tế vi mô vì nó giúp dự đoán được hành vi của các doanh nghiệp một cách chính xác và tránh những phức tạp không cần

Trang 39

thiết trong phân tích kinh tế Để có thể đưa ra được điều kiện tối đa

hóa lợi nhuận, ta cần làm quen với một khái niệm mới, đó là doanh thu cận biên (MR)

Doanh thu cận biên là sự thay đổi trong tổng doanh thu khi doanh nghiệp bán thêm một đơn vị hàng hóa Doanh thu cận biên cũng chính là đạo hàm bậc nhất của hàm tổng doanh thu theo biến sản lượng (Q)

Doanh thu bình quân (AR) chính là mức doanh thu tính bình quân cho một đơn vị sản phẩm bán ra

Q

Q P Q

TR  . 

Như vậy, giá bán sản phẩm phản ánh mức doanh thu bình quân khi bán một đơn vị sản phẩm và có tính chất cào bằng các đơn vị sản phẩm, trong khi đó, doanh thu cận biên lại phản ánh doanh thu của riêng từng đơn vị sản phẩm

Trong trường hợp số lượng sản phẩm bán ra của doanh nghiệp không phụ thuộc vào giá bán, hay nói cách khác, ngay cả khi doanh nghiệp gia tăng sản lượng, doanh nghiệp vẫn có thể bán với mức giá không đổi Khi đó, doanh thu tăng thêm do bán thêm một đơn vị sản phẩm (MR) sẽ luôn luôn bằng với giá Tức là MR = P

Ngược lại, nếu số lượng sản phẩm bán ra của doanh nghiệp thay đổi phụ thuộc vào giá bán thì doanh thu cận biên sẽ luôn nhỏ hơn giá bán,

Trang 40

ngoại trừ tại mức sản lượng đầu tiên Điều này được thể hiện trên Hình 4.20 là đường doanh thu cận biên luôn nằm dưới đường cầu, trừ điểm đầu tiên

Ta xét trường hợp tổng quát, nếu một doanh nghiệp có đường cầu với phương trình: P = a - bQ, khi đó tổng doanh thu của doanh nghiệp

TR = P.Q = aQ - bQ2 → MR = a - 2bQ

Hình 4.20 Mối quan hệ giữa doanh thu cận biên

và giá khi đường cầu dốc xuống

Biểu diễn đường cầu và đường MR lên cùng một đồ thị (Hình 4.20)

ta thấy đường doanh thu cận biên luôn nằm dưới đường cầu trừ duy nhất điểm đầu tiên

Như đã phân tích ở trên, các nhà kinh tế học luôn giả định các doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Muốn vậy, các doanh nghiệp cần phải lựa chọn mức sản lượng như thế nào?

Về mặt toán học, muốn lợi nhuận lớn nhất thì đạo hàm bậc nhất của hàm lợi nhuận theo biến sản lượng Q phải bằng 0 (với giả định là đạo hàm bậc hai mang dấu âm)

Để πmax thì π’(Q) = 0, hay (TR - TC)’(Q) = 0, suy ra: TR’(Q) - TC’(Q) = 0 hay MR = MC

Ngày đăng: 15/07/2022, 14:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.2. Mối quan hệ giữa sản phẩm trung bình và sản phẩm cận biên - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 4.2. Mối quan hệ giữa sản phẩm trung bình và sản phẩm cận biên (Trang 9)
Hình 4.15. Mối quan hệ giữa các đường chi phí trong ngắn hạn và dài hạn - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 4.15. Mối quan hệ giữa các đường chi phí trong ngắn hạn và dài hạn (Trang 31)
Hình 4.19. Lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 4.19. Lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán (Trang 37)
Hình 5.1. Đường cầu của doanh nghiệp CTHH và của thị trường CTHH - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.1. Đường cầu của doanh nghiệp CTHH và của thị trường CTHH (Trang 57)
Hình 5.2. Xác định điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.2. Xác định điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH (Trang 58)
Hình 5.4. Xác định lợi nhuận cực đại của doanh nghiệp CTHH - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.4. Xác định lợi nhuận cực đại của doanh nghiệp CTHH (Trang 59)
Hình 5.5. Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.5. Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH (Trang 61)
Hình 5.9. Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.9. Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH (Trang 65)
Hình 5.10. Đường cung của doanh nghiệp CTHH (đường MC) trong ngắn hạn - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.10. Đường cung của doanh nghiệp CTHH (đường MC) trong ngắn hạn (Trang 66)
Hình 5.11. Đường cung của ngành CTHH trong ngắn hạn - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.11. Đường cung của ngành CTHH trong ngắn hạn (Trang 67)
Hình 5.12. Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH trong dài hạn - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.12. Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp CTHH trong dài hạn (Trang 69)
Hình 5.14. Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.14. Cân bằng cạnh tranh dài hạn của ngành (Trang 71)
Hình 5.15. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí không đổi - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.15. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí không đổi (Trang 73)
Hình 5.16. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí tăng - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.16. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí tăng (Trang 74)
Hình 5.17. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí giảm - Giáo trình Kinh tế học vi mô I: Phần 2 - PGS. TS. Phan Thế Công (Chủ biên)
Hình 5.17. Đường cung dài hạn của ngành CTHH có chi phí giảm (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm