1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BTTuan6_ChungCu_Nhom2_LopDS44A2_13102001-1

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 98,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa phải được lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ Nhận định Sai Căn cứ theo Khoản 4 Điều 96 BLTTDS 2015 thì việc giao nhận chứng cứ khi có

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 6 CHỨNG CỨ, CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Giảng viên: Ths Huỳnh Quang Thuận

Lớp: DS44A2

Thành viên

NĂM HỌC 2021 - 2022

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Tp Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 10 năm 2021

BIÊN BẢN PHÂN CÔNG LÀM VIỆC NHÓM

MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

I Thành phần tham gia

1 Trần Bảo Khanh MSSV: 1953801012115

2 Phạm Lê Khiết MSSV: 1953801012119

3 Trần Thị Mỹ Linh MSSV: 1953801012138

4 Trần Thị Khánh Ly MSSV: 1953801012145

II Nội dung làm việc: Quá trình làm việc bài thảo luận môn Luật Tố Tụng Dân

sự

1 Phân công công việc:

- Thời gian: ngày 10/10/2021

- Hình thức: trao đổi qua Google Meet

- Phân công công việc:

• Phần nhận định (5 câu) : Mỹ Linh, Khánh Ly

• Phần bài tập: Lê Khiết

• Phần phân tích án: Bảo Khanh

2 Tiến độ nộp bài

- Thời gian: 8h30 ngày 13/10/2021

- Các thành viên đều nộp đúng thời hạn

3 Họp thảo luận đóng góp về bài làm của các thành viên trong nhóm

- Thời gian: 19h00 ngày 12/10/2021

- Hình thức: Trao đổi qua Google Meet

- Về phần nhận định : Mỹ Linh, Khánh Ly lần lượt đưa ra quan điểm của mình và các bạn còn lại góp ý hoàn thiện

- Về phần bài tập: Lê Khiết đưa ra quan điểm của mình và các bạn còn lại góp ý hoàn thiện

- Về phần phân tích án: Bảo Khanh trình bày bài làm

Bài thảo luận hoàn thiện

III Thời gian kết thúc cuộc họp:

Cuộc họp kết thúc vào lúc, 21h50’ ngày 12/10/2021

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

Phần 1 Nhận định

1 Bị đơn chỉ có nghĩa vụ chứng minh khi có đưa ra yêu cầu phản tố.

Nhận định Sai

Bởi vì căn cứ theo khoản 5 Điều 70 BLTTDS 2015 bị đơn không chỉ có nghĩa

vụ chứng minh khi có đưa ra yêu cầu phản tố mà còn có nghĩa vụ chứng minh khi nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Ngoài ra, bị đơn cũng có nghĩa vụ chứng minh khi đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định tại Khoản 5 Điều 71 BLTTDS 2015

2 Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản sao có công chứng.

Nhận định Sai

Bởi vì căn cứ theo khoản 1 Điều 95 BLTTDS 2015 tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp Do đó, trong trường hợp tài liệu đọc được nội dung là bản sao có công chứng không được coi là chứng cứ nếu không được công chứng hợp pháp Và tài liệu đọc được nội dung này phải thoả mãn đồng thời cả ba điều kiện tại Điều 93 “khách quan, liên quan, hợp pháp” mới có thể xem là chứng cứ

3 Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa phải được lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ

Nhận định Sai

Căn cứ theo Khoản 4 Điều 96 BLTTDS 2015 thì việc giao nhận chứng cứ khi

có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm mà đương sự mới giao tài liệu chứng cứ thì đương sự phải có lí do chính đáng cho việc giao chậm tài liệu chứng cứ của mình mà không cần phải lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ Tại Điều 19 Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP về việc giao nộp tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa bằng phương thức điện tử cũng không có yêu cầu phải lập biên bản về việc giao nộp tài liệu chứng cứ tại phiên tòa

4 Chỉ có Thẩm phán mới có quyền ra quyết định trưng cầu giám định.

Nhận định Sai

Trưng cầu giám định là hoạt động do Thẩm phán hoặc người tiến hành tố tụng thực hiện khi có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết nhằm làm chứng cứ

và cơ sở để giải quyết vụ việc dân sự Căn cứ theo Điều khoản 2 Điều 102 BLTTDS

2015 thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có quyền

Trang 5

ra quyết định trưng cầu giám định Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 102, khoản 1 Điều 103 Toà án cũng có quyền ra quyết định trưng cầu giám định

5 Trong tố tụng dân sự, Thẩm tra viên không có quyền lấy lời khai của đương sự.

Nhận định Sai

Căn cứ khoản 4 Điều 97 BLTTDS 2015 thì trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ trong đó bao gồm việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng

Phần 2 Bài tập

1 Xác định chủ thể có trách nhiệm cung cấp chứng cứ và chứng minh?

Cơ sở pháp lý: khoản 1 và khoản 2 Điều 91 BLTTDS 2015

- Nguyên đơn: bà Trang, theo khoản 1 Điều 91 thì bà Trang là người có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên bà Trang có nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp

- Bị đơn: Ông Trọng, theo khoản 2 Điều 91 thì ông Trọng là người phản đối yêu cầu của bà Trang nên ông phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng

cứ để chứng minh cho sự phản đối đó

- Nếu cả hai bên đương sự đều có thể tự mình cung cấp chứng cứ, chứng mình

và không có yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ thì Tòa án sẽ không có trách nghiệm phải chứng minh

2 Xác định những vấn đề cần phải chứng minh?

Căn cứ theo Điều 584 BLDS 2015 cần phải chứng minh các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, phải chứng minh có thiệt hại xảy ra trong trường hợp này

Thứ hai, phải chứng minh hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Thứ ba, phải chứng minh được có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành

vi trái pháp luật

- Đối với bà Trang (chủ sở hữu căn nhà số 200/40 HHT, phường N, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh) căn cứ theo khoản 1 Điều 91 BLTTDS 2015 bà phải thu nhập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án những chứng cứ chứng minh được trong quá trình thi công xây dựng hai căn nhà số 200/42 và 200/44 HHT, phường N, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh đã làm hư hỏng nghiêm trọng đến căn nhà của bà Căn cứ khoản 2 Điều 92

Trang 6

BLTTDS 2015, vì ông Trọng không phản đối những tình tiết chi phí thuê nhà nên bà Trang không phải chứng minh nữa Bà Trang chỉ cần chứng minh:

• Chi phí tháo dỡ căn nhà số 200/40 HHT: hoá đơn về chi phí tháo dỡ nhà

• Giá trị thiệt hại tài sản bên trong nhà: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất chứng minh căn nhà 200/40 HHT là của bà Trang Kết quả định giá tài sản, nhà ở bị hư hỏng thiệt hại theo đúng quy định về thủ tục của pháp luật, trong trường hợp này bà Trang nên lập ra bằng chứng về những thiệt hại do việc thi công xây dựng của ông Trọng gây ra

• Thư từ và chi phí đi lại tính từ ngày 21/8/2012: Hoá đơn Thư từ và chi phí đi lại tính từ ngày 21/8/2012

• Chi phí thuê Công ty kiểm định lần 1 ngày 22/10/2012, Chi phí thuê Công ty kiểm định lần 2 ngày 20/01/2017: Hợp đồng thuê công ty kiểm định lần I và lần

II và các chứng từ, hoá đơn liên quan

- Đối với ông Trọng thì căn cứ theo khoản 2 Điều 91 BLTTDS 2015 thì ông Trọng phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối mà ông không đồng ý với yêu cầu của bà Trang Vì ông Trọng không phản đối với một phần yêu cầu của bà Trang, ông chỉ không đồng ý với những chi phí phát sinh liên quan nên căn cứ theo khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015 thì ông không phải chứng minh đối với những thiệt hại do ông gây ra,

mà ông chỉ cần đưa ra các chứng cứ đối với yêu cầu phản đối của mình Cụ thể:

• Chi phí tháo dỡ nhà vì chi phí này đã nằm trong tổng chi phí theo kết quả kiểm định: Hợp đồng kiểm định về những chi phí đã bao gồm chi phí tháo dỡ

• Tài sản trong căn nhà thì bị đơn không đồng ý bồi thường vì tài sản này không

bị hư hỏng, còn sử dụng được: Biên bản ghi lại kết quả thẩm định về thiệt hại

về tài sản trong nhà của bà Trang

3 Xác định tài liệu, chứng cứ cần có khi các chủ thể thực hiện việc chứng minh?

*Đối với nguyên đơn – bà Trang là chủ sở hữu căn nhà số 200/40 HHT, phường N, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh (bên yêu cầu)

Đối với yêu cầu đòi bồi thường giá trị nhà bị hư hỏng bà Trang cần cung cấp chứng cứ xác minh thiệt hại này xuất phát từ quá trình thi công nhà của ông Trọng cần cung cấp kết luận giám định, định giá tài sản nhà và tài sản bên trong nhà bị hư hỏng; như văn bản giám định thiệt hại, vi bằng do cơ quan có thẩm quyền lập và giám định vào thời điểm phát sinh thiệt hại

Về chi phí tháo dỡ: 9.000.000 đồng; Giá trị thiệt hại tài sản bên trong nhà: 20.066.000 đồng; Chi phí thuê nhà ở từ ngày 01/7/2012 đến 01/01/2018 (66 tháng): 277.200.000 đồng Thư từ và chi phí đi lại tính từ ngày 21/8/2012: 6.000.000 đồng; Chi phí thuê Công ty kiểm định lần 1 ngày 22/10/2012: 12.100.000 đồng; Chi phí thuê

Trang 7

Công ty kiểm định lần 2 ngày 20/01/2017: 10.500.000 đồng: Bà Trang cần cung cấp

hóa đơn hoặc hợp đồng từ các chi phí: sửa chữa, thuê nhà; hóa đơn hợp lý của các chi phí thư từ, chi phí đi lại.

*Đối với bị đơn – ông Trọng là chủ sở hữu căn nhà số 200/40 HHT, phường

N, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh (bên phản đối yêu cầu).

Đối với (i) Tiền chi phí kiểm định vì đây là yêu cầu của nguyên đơn thì nguyên đơn tự chịu; (ii) Chi phí tháo dỡ vì chi phí này đã nằm trong tổng chi phí theo kết quả kiểm định; (iii) Chi phí thư từ, đi lại… vì đây là công việc phải làm của nguyên đơn; (iv) Tài sản trong căn nhà thì bị đơn không đồng ý bồi thường vì tài sản này không bị

hư hỏng, còn sử dụng được: Ông Trọng cần cung cấp các tài liệu, chứng cứ như: kết

quả giám định cho thấy các tài sản trong nhà không bị hư hỏng, vẫn còn sử dụng được; các chi phí thư từ, đi lại của bà Trang là không hợp lý, chỉ nhằm phục vụ cho mục đích cá nhân của bà Trang.

Phần 3 Phân tích án

1 Chứng cứ là gì? Nguyên tắc xác định chứng cứ?

Căn cứ theo Điều 93 BLTTDS 2015 thì: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là

những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục

do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.

Như vậy, nguyên tắc căn bản trong việc xác định chứng cứ thì chứng cứ trong

tố tụng dân sự phải:

Thứ nhất, phải là chứng cứ có thật.

Thứ hai, do các đương sự cung cấp giao nộp trong quá trình tố tụng

Thứ ba, phải được Tòa án sử dụng làm chứng cứ để giải quyết tranh chấp (đây

là điều kiện quan trọng nhất)

2 Anh/Chị hãy nêu nhận xét của mình theo hai hướng đồng ý và không đồng ý về việc Tòa án cấp phúc thẩm xác định nội dung ghi âm nói chuyện giữa ông H và ông S vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 24/7/2019 trong đĩa DVD mà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm không được xem

là chứng cứ hợp pháp? (Lưu ý: Nêu rõ luận cứ cho các nhận xét)

Quan điểm đồng ý về việc Tòa án cấp phúc thẩm xác định nội dung ghi âm nói chuyện giữa ông H và ông S vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 24/7/2019 trong đĩa DVD mà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm không được xem là chứng cứ hợp pháp

Trang 8

Theo quan điểm của nhóm chúng tôi, việc Tòa án cấp phúc thẩm xác định nội dung ghi âm nói chuyện giữa ông H và ông S vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 24/7/2019 trong đĩa DVD mà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm không được xem là chứng cứ hợp pháp là có cơ sở Bởi các lẽ sau đây:

Thứ nhất, căn cứ theo khoản 2 Điều 95 BLTTDS: “2 Tài liệu nghe được, nhìn

được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về

sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó”.

Ngoài ra, áp dụng theo tinh thần tại điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn xác định chứng cứ theo quy định tại Điều 83 BLDS 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2011:

“b) Các tài liệu nghe được, nhìn được phải được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, phim, ảnh … Nếu đương sự không xuất trình các văn bản nêu trên, thì tài liệu nghe được, nhìn được mà đương sự giao nộp không được coi là chứng cứ”.

Theo đó, bản ghi âm trên chỉ được coi là chứng cứ chứng minh khi nó xuất trình kèm văn bản xác nhận xuất xứ hoặc văn bản về sự việc liên quan Trường hợp không đáp ứng được các điều kiện đó thì đoạn băng ghi âm đó chỉ được xem là tài liệu liên quan đến vụ án, có giá trị tham khảo chứ không thể có giá trị chứng minh trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án Trong vụ án nói trên người đại diện theo

ủy quyền của nguyên đơn đã cung cấp 01 đĩa DVD ghi âm kèm theo bản trường tình

về nội dung ghi âm nói chuyện giữa ông H và ông Đặng Trường S vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 24/7/2019, việc ghi âm đó là do ông H tự thực hiện mà không có sự hay biết của ông S Đồng thời, ông H cũng chưa xuất trình được văn bản trình bày kèm theo về xuất xứ của tài liệu mà ông đã tự ghi âm được mà chỉ có bản trường tình về nội dung ghi âm do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp

Thứ hai, căn cứ khoản 4 Điều 96 BLTTDS thì thời hạn giao nộp tài liệu chứng

cứ phải nộp vào giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nhưng trong vụ án người đại diện của nguyên đơn lại cung cấp đoạn ghi âm tại phiên tòa xét xử phúc thẩm là chưa đúng thời hạn giao nộp chứng cứ Đồng thời, trong Bản án cũng không đề cập đến trường hợp đương sự đã chứng minh được lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa

án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng Hay đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự Do đó, chứng cứ mà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã cung cấp đã vi phạm về thời hạn nộp chứng cứ

Trang 9

Mặt khác, tại Điều 287 BLTTDS 2015 thì đương sự được quyền bổ sung tài liệu, chứng cứ trong trường hợp chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì có lý do chính đáng; hay tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm, nhưng phải cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm Trong vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã cung cấp chứng cứ tại phiên tòa phúc thẩm là không đúng

Thứ ba, TS Nguyễn Văn Tiến khi bàn về chứng cứ là ghi âm đã có quan điểm:

Nếu bên cung cấp băng ghi âm không xuất trình được văn bản xác nhận xuất xứ của băng ghi âm hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm đó thì thông thường các tòa vẫn sẽ xét xử nhưng không công nhận băng ghi âm là chứng cứ mà dựa vào các chứng cứ khác Trong bản án này, ông H cũng chưa xuất trình được văn bản trình

bày kèm theo về xuất xứ của tài liệu mà ông đã tự ghi âm được mà chỉ có bản trường tình về nội dung ghi âm do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp

Cần lưu ý thêm, nghĩa vụ chứng minh trong án dân sự thuộc về người có yêu cầu Chẳng hạn bên cung cấp băng ghi âm cho tòa có nghĩa vụ chứng minh giọng nói trong băng ghi âm là của bên kia, bên kia thì có quyền không cung cấp mẫu giọng nói

để giám định vì không có nghĩa vụ phải chứng minh Luật cũng không có quy định buộc họ phải có nghĩa vụ hợp tác với bên cung cấp băng ghi âm khi họ không muốn Chỉ khi nào họ có yêu cầu phản tố (ví dụ yêu cầu bên cung cấp băng ghi âm phải xin lỗi vì đã dùng băng ghi âm vu khống…) thì họ mới phải có nghĩa vụ chứng minh rằng giọng nói trong băng ghi âm không phải của mình Trong trường hợp này, để đảm bảo chứng cứ khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác, nếu Toà án yêu cầu ông Đặng Trường S cung cấp giọng nói để giám định một cách chính xác thì ông S cũng không

có nghĩa vụ phải cung cấp giọng nói khi ông S không muốn Như vậy sẽ không đủ căn

cứ để cho rằng bản ghi âm này là chứng cứ

Vì các lẽ trên, theo quan điểm của nhóm cho rằng đoạn băng ghi âm về nội dung nói chuyện giữa ông H và ông S mà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp tại phiên tòa xét xử phúc thẩm chỉ được xem là tài liệu liên quan đến vụ

án, có giá trị tham khảo chứ không thể có giá trị chứng minh trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án Do đó việc Tòa cấp phúc thẩm nhận định nội dung ghi âm của ông H cung cấp không được xem là chứng cứ hợp pháp là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật

Quan điểm không đồng ý về việc Tòa án cấp phúc thẩm xác định nội dung ghi âm nói chuyện giữa ông H và ông S vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 24/7/2019 trong đĩa DVD mà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm không được xem là chứng cứ hợp pháp

Theo quan điểm của nhóm chúng tôi, việc Tòa án cấp phúc thẩm xác định nội dung ghi âm nói chuyện giữa ông H và ông S vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 24/7/2019 trong đĩa DVD mà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm không được xem là chứng cứ hợp pháp là hoàn toàn không có căn cứ Điều này có thể luận giải bằng một số lý do sau đây:

Trang 10

Thứ nhất, một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTDS năm 2015 được

quy định tại Điều 6: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập giao nộp

chứng cứ cho Tòa án” Như vậy, với quy định này đương sự chính là người phát động

và giới hạn hoạt động chứng minh Pháp luật tố tụng dân sự đặt ra nghĩa vụ chứng minh của đương sự là vì quan hệ dân sự là quan hệ tư của các bên, theo đó các bên tự quyết định, tự giải quyết là chủ yếu và chỉ khi các bên không tự giải quyết được, tự quyết định được có quyền yêu cầu tòa án can thiệp hỗ trợ Mặt khác các đương sự là người hiểu rõ về sự việc của mình nhất biết rõ tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ việc của mình có những gì, đang ở đâu

Thứ hai, tài liệu nghe được, nhìn được tại khoản 2 Điều 95 BLTTDS năm 2015

quy định: “Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình

kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó” Những tài liệu nghe được, nhìn được ở đây có thể hiểu bao gồm ghi âm, đĩa

ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, phim, ảnh, băng từ, băng video, các phần mềm

các tài liệu nghe được nhìn được là một nguồn chứng cứ quan trọng vì từ các tài liệu này Tòa án có thể rút ra được tin tức, sự việc liên quan đến tình tiết của vụ việc dân sự Trước đây, theo điểm b khoản 2 Điều 3Nghị quyết 04/2012/HĐTP

-TANDTC thì “tài liệu nghe được nhìn được phải được xuất trình, kèm văn bản xác

nhận xuất xứ của tài liệu đó họăc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm thu hình đó”.

Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 và Nghị quyết 04/2012/HĐTP - TANDTC trước đây không có quy định cụ thể về văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự liên quan tới việc thu âm thu hình đó là gì?

Trong Bản án 180/2019/DS-PT ngày 06-8-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Hội đồng xét xử nhận định rằng: người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp 01 đĩa DVD ghi âm kèm theo bản tường trình về nội dung ghi âm nói chuyện giữa ông H và ông Đặng Trường S vào lúc 16 giờ 20 phút 24/7/2019 Như vậy, với sự không rõ ràng của pháp luật khi quy định về văn bản trình bày của người có tài liệu đó, thì chúng tôi xem rằng văn bản tường trình của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông H có giá trị tương đương với văn bản được quy định tại khoản

2 Điều 95 BLTTDS năm 2015

Khi bàn về chứng cứ là ghi âm TS Nguyễn Văn Tiến cho rằng: Gặp trường hợp một bên đương sự không thừa nhận giọng nói trong băng ghi âm là của mình, không

cung cấp mẫu giọng nói để đi giám định, nếu bên cung cấp băng ghi âm xuất trình

được văn bản xác nhận xuất xứ của băng ghi âm hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm đó thì tòa vẫn công nhận băng ghi âm là chứng cứ

Thứ ba, xét về ý chí cũng như sự phản đối của anh Đặng Trường S đối với

chứng cứ là đĩa DVD ghi âm do nguyên đơn cung cấp kèm theo bản tường trình về nội dung ghi âm nói chuyện giữa ông H và ông Đặng Trường S vào lúc 16 giờ 20 phút 24/7/2019 Trong bản án cho thầy khi ông H đưa ra chứng cứ này ông S không có sự phản đối mà chỉ có tình tiết ông H khai nhận nội dung ghi âm trên là do ông H tự ý

Ngày đăng: 06/03/2022, 22:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w