Tuy nhiên, chủ thể của ngành Luật kinh tế lúc bấy giờ được mở rộng một cách đáng kể bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.... Đối tượng điều chỉnh Tr
Trang 1NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
I-KHÁI NIỆM
Ở Việt Nam, khái niệm Luật thương mại, Luật kinh doanh và Luật kinh tế trong các chế độ xã hội, các thời kỳ lịch sử khác nhau được sử dụng không thống nhất
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Luật kinh tế được coi là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình quản lý và thực hiện các hoạt động sản xuất - kinh doanh giữa các tổ chức kinh tế quốc doanh
Tuy nhiên, chủ thể của ngành Luật kinh tế lúc bấy giờ được mở rộng một cách đáng kể bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần Hơn
nữa, phương pháp điều chỉnh của Luật kinh tế cũng chuyển sang phương pháp bình
đẳng, tự do thỏa thuận, loại bỏ phương pháp hành chính mệnh lệnh với sự can thiệp sâu vào công việc nội bộ của doanh nghiệp
Trong thời kỳ Pháp thuộc và dưới chế độ Việt Nam cộng hòa, ở Việt Nam đã có ngành Luật thương mại Đến năm 1997, trên thực tế xuất hiện lại khái niệm Luật thương mại do sự ra đời của văn bản quy phạm pháp luật là Luật Thương mại năm 1997 Tuy nhiên, Luật thương mại lúc bấy giờ được hiểu như là một phần của Luật kinh doanh vì hoạt động thương mại được hiểu với nghĩa hẹp là mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ
II- ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
1 Đối tượng điều chỉnh
Trên cơ sở khai niệm về Luật thương mại nêu trên thì đồi tượng điều chỉnh của ngành Luật thương mại bao gồm những mối quan hệ xã hội cơ bản sau:
Thứ nhất, các quan hệ xã hội diễn ra trong quá trình hoạt động thương giữa các thương nhân như: Đầu tư, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác;
Thứ hai, các quan hệ xã hội mang tính chất tổ chức, quản lý diễn ra giữa cơ quan nhà nước
có thẩm quyền liên quan trực tiếp đến hoạt động thương mại hoặc các hoạt động có liên quan đến hoạt động thương mại như đăng ký kinh doanh, kiểm tra, giám sát hoạt động thương mại, giải quyết tranh chấp thương mại, giải thể, phá sản
2 Phương pháp điều chỉnh
Phương pháp điều chỉnh của ngành Luật thương mại được hiểu là những biện pháp và cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ tài sản giữa các thương nhân và những chủ thể khác khi thực hiện các hành vi thương mại Xuất phát từ bản chất của các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của ngành luật này, Nhà nước đã kết hợp nhiều phương pháp tác động khác nhau, đặc biệt là phương pháp bình đẳng, thỏa thuận (thương lượng) và phương pháp mệnh lệnh một cách linh hoạt Phương pháp thương lượng chủ yếu được dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các thương nhân với nhau, trong khi đó phương pháp mệnh lệnh được dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa thương nhân và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
III- MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
1 Những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại
Trang 21.1 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại.
1.2 Nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại.
1.3 Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bén 1.4 Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại.
1.5 Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng.
1.6 Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông diệp dữ liệu trong hoạt động thương mại.
2 Khái quát về thương nhân
2.1 Khái niệm thương nhân
Theo khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005, sửa đổi năm 2017: "Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh"
Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp Được thành lập hợp pháp ở đây có nghĩa là có đăng ký kinh doanh Việc phân biệt giữa tổ chức kinh tế với các tổ chức khác như tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp dựa vào mục đích hoạt động của nó
Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh, khái niệm hoạt động thương mại được khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi năm 2017
mở rộng: "là hoạt động nhằm mục đích sinh lời bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi khác"
Việc hình thành tư cách thương nhân không phụ thuộc vào việc có đăng ký kinh doanh hay không của tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên Điều này, đồng nghĩa với việc Luật Thương mại năm 2005, sửa đổi năm 2017 công nhận có
"thương nhân thực nhân nhưng về mặt pháp lý không phải là thương nhân, vì chưa n - thực
tế những đối tượng này hoạt động giống như là thương dang ky kinh doanh Theo đó, thương nhân thực tế là các chủ thể hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên nhưng chưa thực làm việc đăng ký kinh doanh và đối tượng này cũng phải chịu sự đều chỉnh của Luật Thương mại
2.2 Đặc điểm của thương nhân
1 Thương nhân phải thực hiện hoạt động thương mại
2.Các hoạt động thương mại phải được thương nhân thực hiện một cách độc lập
3 Các hoạt động thương mại phải được thương nhân thực hiện một cách thường xuyên
4 Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh
2.3 Các loại thương nhân
1 Thương nhân là cá nhân
Cá nhân được coi là thương nhân phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu như đủ 18 tuổi trở lên
và phải có năng lực hành vi thương mại, phải thực hiện hành vi thương mại độc lập, vì lợi ích bản thân mình, mang tính nghề nghiệp thường xuyên và phải đăng ký kinh doanh Theo
đó, có thể hiểu thương nhân là cá nhân bao gồm: Chủ hộ kinh doanh và chủ doanh nghiệp
tư nhân
Thêm vào đó, doanh nghiệp tư nhân có các quyền và nghĩa vụ riêng của mình theo quy định của Luật Doanh nghiệp
Trang 32 Thương nhân là pháp nhân
Thương nhân là pháp nhân chủ yếu là các doanh nghiệp (ngoài doanh nghiệp tư nhân) như: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh và hợp tác xã
3 Khái quát về doanh nghiệp
3.1 Khái niệm
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
3.2 Đặc điểm
1 Doanh nghiệp là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật và tồn tại dưới một hình thức pháp lý nhất định.
2 Doanh nghiệp phải có tên riêng.
3 Doanh nghiệp phải có trụ sở giao dịch.
4 Doanh nghiệp phải có tài sản.
3.3 Phân loại doanh nghiệp
3.3.1 Căn cứ vào hình thức pháp lý
Căn cứ vào hình thức pháp lý, có năm loại hình doanh nghiệp bao gồm:
- Doanh nghiệp tư nhân;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; - Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên;
- Công ty cổ phần;
- Công ty hợp danh.
3.3.2 Căn cứ vào tư cách pháp nhân
Căn cứ vào tư cách pháp nhân, doanh nghiệp được phân chia thành hai loại:
- Thứ nhất, doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân là doanh nghiệp tư nhân;
- Thứ hai, doanh nghiệp cổ tư cách pháp nhân, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh.
3.3.3 Căn cứ vào chế độ trách nhiệm, doanh nghiệp
Căn cứ vào chế độ trách nhiệm, doanh nghiệp, doanh nghiệp
được phân chia thành hai loại, bao gồm:
- Doanh nghiệp có chủ sở hữu chịu trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp
mà ở đó, chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào
Trang 4doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là, khi tài sản của doanh nghiệp không
đủ để trả nợ thì chủ sở hữu của doanh nghiệp không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp có chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp mà ở đó, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động của doanh nghiệp khi doanh nghiệp không đủ khả năng để thực hiện các nghĩa vụ tài chính đó Với đặc điểm này, bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân và Công ty hợp doanh
3.4 Sơ lược về các loại hình doanh nghiệp
3.4.1 Doanh nghiệp tư nhân
Theo khoản 1 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2014: «Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp» Đây là một khái niệm giúp chúng ta có thể phân biệt được doanh nghiệp tư nhân với các loại hình doanh nghiệp khác
Về chủ sở hữu: Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ Loại hình doanh nghiệp này chỉ do duy nhất một cá nhân làm chủ sở
hữu Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ sở hữu là cá nhân và ngược lại một cá nhân chỉ được sở hữu duy nhất một doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân
là đại diện trực tiếp không thể tách rời cho cá nhân chủ sở hữu với tư cách là một chủ thể kinh doanh
Về chế độ trách nhiệm: Chủ doanh nghiệp tư nhân có chế độ trách nhiệm vô
hạn Đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, do tính độc lập về tài sản của doanh nghiệp không có, nên chủ doanh nghiệp tư nhân - người chịu trách nhiệm duy nhất cho mọi rủi ro của doanh nghiệp sẽ phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn đối với tài sản mà chủ doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh trong doanh nghiệp, và cả những tài sản không đưa vào kinh doanh Ví dụ: ông Nguyễn Văn A là chủ của doanh nghiệp tư nhân A, ông A đầu tư thành lập doanh nghiệp tư nhân A với số vốn là 3 tỷ, bên cạnh
đó, khối tài sản bên ngoài của ông A là 4 tỷ
Về tư cách pháp lý : Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp tư nhấn là loại hình doanh nghiệp duy nhất không có tư cách pháp nhân Quy định này xuất phát chủ yếu từ lý do liên quan đến mối quan hệ giữa vốn và tài sản giữa chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp
Về khả năng huy động vốn: Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp tư nhân rất hạn
hẹp Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành cổ phần và trái phiếu
3.4.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, không được quyền phát hành cổ phần, thành viên có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng không quá 50 thành viên, cùng nhau góp vốn, cùng chia lợi nhuận, chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty
Về tư cách pháp lý: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Về chế độ trách nhiệm: Công ty tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ phát sinh trong hoạt động kinh doanh của mình bằng tài sản của chính nó Tại sản của công ty là thuộc sở hữu của chính công ty chứ không phải của từng thành viên công ty
Trang 5 Về khả năng huy động vốn: Công ty không được quyền phát
hành cổ phần
Về vốn góp: Vốn của công ty tách bạch với tài sản của thành viên công ty Khi thành viên góp vốn thì phải chuyển quyến sở hữu tài sản sang cho công ty Việc đưa tài sản của thành viên vốn góp vào công ty phải thông qua những trình tự thủ tục luật định, chứ không nhập vào một cách đơn thuần như trong doanh nghiệp tư nhân Tất
cả thay đổi từ vốn của cá nhân thành viên thành vốn công ty và ngược lại, đều phải
có sự thống nhất của các thành viên khác và thông qua thủ tục mà pháp luật quy
định.
3.4.3 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Về chủ sở hữu công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có chủ sở hữu
là một tổ chức (có tư cách pháp nhân) hoặc một cá nhân, gọi là chủ sở hữu công ty
Về tư cách pháp lý: Đây là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì công ty trở thành một chủ thể kinh doanh độc lập Với tư cách là một pháp nhân độc lập, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tên gọi, có điều lệ, có con dấu riêng, có trụ sở giao dịch
Về chế độ trách nhiệm của chủ sở hữu: Chủ sở hữu công ty phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty Thực chất, tính trách nhiệm hữu hạn của loại hình doanh nghiệp này chính là trách nhiệm của chủ sở hữu công ty Đối với các nhà đầu tư, chế độ trách nhiệm hữu hạn giúp họ có thể an tâm hơn trên thương trường, khi việc kinh doanh có quá nhiều rủi ro
Về khả năng huy động vốn: Không được quyền phát hành cổ phần để huy động vốn, công ty có thể huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu hoặc vay nợ
3.4.4 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, được phép phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng tối thiểu là ba cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vì vốn cổ phần đã góp, có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình ngoại trừ một số trường hợp
Về vốn điều lệ: Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, và được thế hiện đuổi hình thức cổ phiếu Về cơ bản, pháp luật không hạn chế số lượng tối đa cổ phần mà một cố đông sở hữu Chỉ số tiền đồng này được chia thành nhiều phần bằng nhau, chẳng hạn một triệu phần, mỗi phần như vậy bằng 10.000 đồng
Về chủ sở hữu công ty: Chủ sở hữu công ty cổ phần là các cổ đông - người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần
Về đối tượng: Cổ đông công ty cổ phần có thể là tổ chức, cá nhân Tổ chức phải có
đủ tư cách chủ thể của pháp luật sở hữu mới có thể trở thành cổ đông, vì cổ đông là đồng chủ sở hữu công ty cổ phần Như vậy, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, hợp tác xã và công ty cổ phần có thể trở thành cổ đông công ty cổ
phần Tuy nhiên, doanh nghiệp tư nhân lại không thể trở thành cổ đông công ty cổ phần, vì doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân
Về số lượng cổ đông: Số lượng cổ đông tối thiểu của công ty cổ phần là ba cổ đông
và không hạn chế số lượng tối đa
Trang 6 Về tính chịu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông: công ty chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính công ty, nghĩa vụ của công ty hoàn toàn tách biệt với nghĩa vụ của cổ đông Theo đó, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn cổ phần đã góp vốn vào công ty - tính chịu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông Các cổ đông công ty không chịu trách nhiệm thay hay trách nhiệm bổ sung cho các nghĩa vụ của công ty.Tính chịu trách nhiệm hữu hạn của các cổ đông ở đây được lý giải từ hai góc độ sau
i Các cổ đóng vì không còn quyền sở hữu cá nhân đối với tái sản đã góp vốn vào công ty, nên không phải chịu trách nhiệm về các nghĩa
vụ của công ty có liên quan đến tài sản đó
ii Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với chính các cổ đông, công ty và cổ đông là hai chú thế độc lập, do vậy, cổ đóng không có nghĩa vụ chịu trách nhiệm thay hay trách nhiệm bổ sung cho công ty
Về tính tự do chuyển nhượng của cổ phấn: Trong công ty cổ phần cổ phần được tự
do chuyển nhượng, trừ trường hợp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập và cổ phần ưu đãi biểu quyết theo quy định pháp luật
Về khả năng huy động vốn: Công ty cổ phần được quyền phát hành tất cả các loại chứng khoán để huy động vốn Công ty cổ phần là một loại hình đặc trưng của công
ty đối vốn, trong công ty cổ phần, yếu tố với là yếu tố quan trọng nhất, mục đích của Công ty cổ phần là thu hút vốn từ công chúng để đầu tư
3.4.5 Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của ông ty Ngoài ra, công ty hợp danh có thể có thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của ng ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
Về thành viên công ty: Công ty hợp danh có 02 loại thanh viên: (i) Thành viên hợp danh: Cá nhán; (ii) Thành viên góp vốn: Cá nhân, tổ chức
Có hai loại công ty hợp danh là: (1) Công ty hợp danh chỉ có thành viên hợp danh và (ii) Công ty hợp danh vừa có thành viên hợp danh, vừa có thành viên góp vốn Số lượng thành viên tối đa của công ty hợp danh quy định trong Luật Doanh nghiệp không bị giới hạn
Về trách nhiệm của các thành viên:Trong công ty hợp danh, chế độ trách nhiệm của hai loại thành viên khác nhau là khác nhau Cụ thể:
+ Đối với thành viên hợp danh: Trách nhiệm của thành viên hợp danh là trách nhiệm vô hạn và liên đới Khi bị yêu cầu, thành viên hợp danh phải thanh toán cho chủ nợ toàn bộ khoản nợ đó, sau đó thành viên này có quyền yêu cầu các thành viên hợp danh còn lại hoàn trả cho mình phần tương ứng.Thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm với các nghĩa
vụ của công ty ngay từ khi đăng ký trở thành thành viên công
ty, phải chịu trách nhiệm ngay cả khi chưa được hưởng một chút lợi nhuận nào và thậm chí vẫn phải chịu trách nhiệm ngay
cả khi đã chấm dứt tư cách thành viên công ty hợp danh, với những nghĩa vụ của công ty phát sinh từ những hoạt động trước khi thành viên ấy chấm dứt tư cách thành viên công ty + Đối với thành viên góp vốn: Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần góp vốn (trách nhiệm hữu hạn)
Về tư cách pháp lý: Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Trang 7 Về khả năng huy động vốn: Giống như doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào, nghĩa là công ty hợp danh không thể huy động vốn bằng cách phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu mà chỉ có thể huy động vốn từ các tổ chức tín dụng, vay của tổ chức, cá nhân khác, huy động các thành viên góp thêm hoặc kết nạp thành viên mới
4 Phá sản doanh nghiệp
4.1 Khái niệm
“Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dẫn ra quyết định tuyên bố phá sản” Trong đó, “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” (khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014).Bản chất của “mất khả năng thanh toán” là việc con nợ không có khả năng thanh toán một hoặc các khoản nợ đến hạn thanh toán của mình sau thời gian liên tục trong vòng ba tháng Vì vậy, về cơ bản, khi con nợ ngừng trả nợ liên tục trong ba tháng thì coi như là đã bị mất khả năng thanh toán và lúc đó, các chủ nợ đã có cơ sở pháp lý để làm đơn yêu cầu Tòa
án mở thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật
4.2 Phân loại phá sản
4.2.1 Căn cứ vào tính chất của sự phá sản
Căn cứ vào tính chất của sự phá sản, có hai loại phá sản: Phá sản trung thực và phá sản gian trá:
- Phá sản trung thực: Là sự phá sản do nguyên nhân có thực gây ra Các nguyên nhân có thực có thể là nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan: (i) Nguyên nhân chủ quan như: Sự yếu kém về năng lực tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh của người kinh doanh; người kinh doanh không có khả năng thích ứng với những biến động thương trường như không nắm bắt được nhu cầu của thị trường và thị hiếu khách hàng, kết quả của sự mạo hiểm trong kinh doanh (ii) Nguyên nhân khách quan: Gặp thiên tai, địch họa hoặc gặp phải những biến động khách quan trong đời sống chính trị ảnh hưởng đến kinh doanh
- Phá sản gian trá: Là hậu quả của những thủ đoạn, hành vi gian dối, có sự sắp đặt
từ trước của chủ doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ lợi dụng cơ chế phá sản để chiếm đoạt tài sản của chủ nợ
4.2.2 Căn cứ vào đối tượng yêu cầu mở thủ tục phá sản
Căn cứ vào đối tượng yêu cầu mở thủ tục phá sản, thi có phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc:
Phá sản tự nguyện: Là doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ tự nguyện nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản cho chính mình khi thấy mình mất khả năng thanh toán nợ đến hạn mà không thể khắc phục tình trạng đó
Phá sản bắt buộc: Là trường hợp việc phá sản xuất phát từ các chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ, bản thân con nợ có thể là không muốn bị phá sản hoặc chính bản thân con nợ phải có nghĩa vụ nộp đơn theo quy định của pháp luật để yêu cầu mở thủ tục phá sản cho chính bản thân mình
4.3 So sánh giữa giải thể và phá sản
*Giống nhau
Trang 8Giải thể và phá sản có một số đặc điểm tương đồng vì đều dẫn đến hậu quả là việc chấm dứt hoạt động
* Khác nhau
1 Lý do Có hai lý do dẫn đến giải
thể doanh nghiệp, hợp tác
- Giải thể tự nguyện
- Giải thể bắt buộc
Doanh nghiệp, hợp tác xã
bị mất khả năng thanh toán
2.Thủ tục giải quyết Là thủ tục hành chính do
chủ sở hữu doanh nghiệp tiến hành, thời hạn giải quyết một vụ giải thể ngắn hơn
Là một hoạt động tư pháp,
do Tòa án có thẩm quyền quyết định, thời hạn giải quyết một vụ phá sản dài hơn
3.Hậu quả Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã
4.4 Vai trò của pháp luật phá sản
- Bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ
- Bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã bị mất khả năng thanh toán
- Bảo vệ người lao động
- Tái tổ chức lại doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ cấu lại nền kinh tế, góp phần bảo vệ trật tự
kỷ cương trong xã hội
Tóm lại, khi nghiên cứu ngành Luật thương mại, cần nắm vững những nội dung cơ bản sau đây:
1 Thứ nhất, thuật ngữ Luật thương mại ra đời từ khi nào và tại sao ngành luật này hiện nay được gọi là ngành Luật thương mại.
2 Thứ hai, những điểm đặc thù về đối tượng điều chỉnh của ngành Luật thương mại, các mối quan hệ diễn ra trong quá trình hoạt động thương mại giữa các thương nhân cũng như các hoạt động quản lý nhà nước có liên quan trực tiếp đến hoạt động thương mại;
3 Thứ ba, phương pháp điều chỉnh của ngành Luật thương mại, trường hợp nào áp dụng phương pháp bình đẳng, thỏa thuận và trường hợp nào áp dụng phương pháp mệnh lệnh;
4 Thứ tư, các nguyên tắc trong hoạt động thương mại, kể cả nguyên tắc áp dụng thói quen và tập quán thương mại;
5 Thứ năm, xác định được các đối tượng là thương nhân, đặc điểm của thương nhân, kể
cả thương nhân là cá nhân và thương nhân là pháp nhân;
6 Thứ sáu, xác định các loại hình doanh nghiệp và phân biệt các khác nhau giữa các loại hình này, trong đó hiểu rõ sự khác nhau giữa giải thể và phá sản doanh nghiệp.