1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tài liệu Quan họ pptx

10 396 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan họ truyền thống
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 187,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên gọi Quan họ Bắc Ninh không có nghĩa tỉnh Bắc Ninh là chủ thể chính của thể loại dân ca này, Bắc Ninh hay Kinh Bắc được hiểu là tỉnh Bắc Ninh cũ, ngày 10 tháng 10 năm 1895, tỉnh Bắc G

Trang 1

Quan họ

Quan họ (còn được gọi là Quan họ Bắc Ninh, Quan họ Bắc

Giang hay Quan họ Kinh Bắc ) là những làn điệu dân ca của vùngđồng

bằng Bắc Bộ, Việt Nam; tập trung chủ yếu ở vùng Kinh Bắc - tức Bắc Ninh và Bắc Giang Tên gọi Quan họ Bắc Ninh không có nghĩa tỉnh Bắc Ninh là chủ thể chính của thể loại dân ca này, Bắc Ninh hay Kinh Bắc được hiểu là tỉnh Bắc Ninh cũ, ngày 10 tháng 10 năm 1895, tỉnh Bắc Giang tách khỏi tỉnh Bắc Ninh Tuy nhiên, loại hình dân ca này chủ yếu phát triển mạnh ở vùng ven sông Cầu, một ranh giới tự nhiên của hai

Ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày

28 tháng 9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009), quan họ đã được công nhận là

di sản phi vật thể đại diện của nhân loại[3][4][5] sau nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên và cùng đợt với ca trù

Trang 2

Nguồn gốc

Ý nghĩa từ "Quan họ" thường được tách thành hai từ rồi lý giải nghĩa đen về mặt từ nguyên của "quan" và của "họ" Điều này dẫn đến những kiến giải về Quan họ xuất phát từ "âm nhạc cung đình", hay gắn với

sự tích một ông quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã ngây ngất bởi tiếng hát của liền anh liền chị ở đó và đã dừng bước để thưởng thức ("họ") Tuy nhiên cách lý giải này đã bỏ qua những thành tố của không gian sinh hoạt văn hóa quan họ như hình thức sinh hoạt (nghi thức các phường kết họ khiến anh hai, chị hai suốt đời chỉ là bạn, không thể kết thành duyên vợ chồng), diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ đối nhau về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian

Một số quan điểm lại cho rằng Quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ tôn giáo dân mang yếu tố phồn thực chứ không phải Quan họ có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình, hoặc có quan điểm nhận định diễn tiến của hình thức sinh hoạt văn hóa "chơi Quan họ" bắt nguồn từ nghi lễ tôn giáo dân gian qua cung đình rồi trở lại với dân gian

Nhận định khác dựa trên phân tích ngữ nghĩa từ ngữ trong các làn điệu và không gian diễn xướng lại cho rằng Quan họ là "quan hệ" của một nhóm những người yêu quan họ ở vùngKinh Bắc

Tuy vậy vẫn chưa có quan điểm nào được đa số các học giả chấp

"liền anh" (bên nam, người nam giới hát quan họ) và "liền chị" (bên nữ, người phụ nữ hát quan họ) mà còn là hình thức trao đổi tình cảm giữa liền anh, liền chị với khán giả Một trong những hình thức biểu diễn hát quan

họ mới là kiểu hát đối đáp giữa liền anh và liền chị Kịch bản có thể diễn ra

Trang 3

theo nội dung các câu hát đã được chuẩn bị từ trước hoặc tùy theo khả năng ứng biến của hai bên hát

Quan họ truyền thống

Quan họ truyền thống chỉ tồn tại ở 49 làng Quan họ gốc ở xứ Kinh

Bắc[7] Quan họ truyền thống là hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Kinh Bắc, với những quy định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi liền anh, liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ Điều này giải thích lý do người dân Kinh Bắc thích thú "chơi Quan họ", không

yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê Trong quan họ truyền thống, đôi liền anh đối đáp với đôi liền chị được gọi là hát hội, hát canh; hát cả bọn, cả nhóm liền anh đối đáp cùng

cả nhóm liền chị được gọi là hát chúc, mừng, hát thờ

- "Chơi quan họ" truyền thống không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người thưởng thức (thưởng thức "cái tình" của bạn hát) Nhiều bài quan họ truyền thống vẫn được các liền anh, liền chị "chơi quan họ" ưa thích đến tận ngày nay như La rằng, Tình tang, Bạn kim lan, Cái

ả, Cây gạo

Quan họ mới

Quan họ mới còn được gọi là "hát Quan họ", là hình thức biểu diễn (hát) quan họ chủ yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch, nhà hàng, Thực tế, quan họ mới được trình diễn vào bất kỳ ngày nào trong năm Các băng đĩa CD, DVD về quan họ ngày nay đều là hình thức quan họ biểu diễn trên sân khấu, tức quan họ mới Quan họ mới luôn có khán thính giả, người hát trao đổi tình cảm với khán thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau Quan

Trang 4

họ mới không còn nằm ở không gian làng xã mà đã vươn ra ở nhiều nơi, đến với nhiều thính giả ở các quốc gia trên trên thế giới

Quan họ mới có hình thức biểu diễn phong phú hơn quan họ truyền thống, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa Quan

họ mới cải biên các bài bản truyền thống theo hai cách: không có ý thức

được coi là cách cải biên không có ý thức Đa số các bài quan họ mới thuộc dạng cải biên này Cải biên có ý thức là những bài bản đã cải biên

cả nhạc và lời của bài bản quan họ truyền thống Loại cải biên này không nhiều, ví dụ bài "Người ở đừng về" là cải biên từ làn điệu "Chuông vàng gác cửa tam quan" (Xuân Tứ cải biên)

Hát quan họ với lời mới được nhiều người yêu thích tới mức tưởng nhầm là quan họ truyền thống như bài "Sông Cầu nước chảy lơ thơ" do Mai Khanh soạn lời mới từ làn điệu truyền thống "Nhất quế nhị lan" Quan

họ mới được ưa thích hơn quan họ truyền thống không phải do không gian

và những sinh hoạt theo lề lối cổ của quan họ không còn nữa mà một phần do hoạt động "hát quan họ" ngày nay thường được gắn với chính quyền nhiệm vụ tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá quan họ trên diện rộng

Các làng Quan họ

Do chậm trễ, có tới 18 làng Quan họ cổ ở Bắc Giang không kịp đưa vào danh sách đề cử.[10] Hiện nay các làng quan họ tồn tại nhiều ở các

huyện: Yên Phong, Từ Sơn, Tiên Du, thành phố Bắc Ninh (còn gọi là quan

họ bờ nam sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Ninh)[11] và các huyện Việt Yên, Yên

Dũng, Hiệp Hòa, Tân Yên (còn gọi là quan họ bờ bắc sông Cầu thuộc

tỉnh Bắc Giang) Trong phạm vi công nhận chính thức chỉ gồm có 49 làng

Trang 5

 Huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang gồm 5 làng: Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ

Giang, Lũng Sơn, Ngang Nội, Hoài Thị, Hoàng Trung, Vân Khám, Bái Uyên, Ném Ðoài, Ném Sơn, Ném Tiền, Tiêu, Tam Sơn, Xóm Hạ Giang

- Làng Tam Tảo

Hàn, Xuân Ái, Xuân Ðồng, Xuân Viên, Thượng Ðồng, Thụ Ninh, Ðặng

Xá, Khúc Toại, Trà Xuyên, Châm Khê, Đào Xá, Dương Ổ, Ông Mơi, Ðông Yên

Thị Cầu, Thanh Sơn, Niềm Xá, Yên Mẫn, Yên Thị Trung, Vệ An, Ỗ Xá, Xuân Ổ, Hòa đình, Khả Lễ, Bồ Sơn

Làn điệu

Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong

Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký âm Các bài quan

họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá Kho băng ghi âm hàng nghìn bài quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh

Các làn điệu quan họ cổ: La rằng, Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, cái

ả, Gió mát trăng thanh, Tứ quý

Trang 6

Trang phục

Mẫu trưng bày bộ trang phục của liền anh và liền chị

Nón quai thao và dải yếm thắm của liền chị

Trang phục quan họ bao gồm trang phục của các liền anh và trang phục của các liền chị Trong các lễ hội quan họ có cả những cuộc thi trang phục quan họ[14]

Trang 7

Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối với người khá giả hơn thì áo ngoài may bằng đoạn mầu đen, cũng có người áo dài phủ ngoài may hai lần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh gọi là áo kép[15] Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần

lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp Thời trước, đàn ông còn nhiều người búi tó nên phải vấn tóc bằng khăn nhiễu Sau này phần nhiều cắt tóc, rẽ đường ngôi nên chuyển sang dùng loại khăn xếp bán sẵn ở các cửa hàng cho tiện Cùng với quần, áo, khăn xếp, dép,… các liền anh thường có thêm nón chóp với các dạng chóp lá thường hoặc chóp dứa, có quai lụa màu mỡ gà Ngoài ra cũng thường thấy các liền anh dùng ô đen Các phụ kiện khác là khăn tay, lược, những "xa xỉ phẩm" theo quan niệm thời xưa Khăn tay bằng lụa hoặc bằng vải trắng rộng, gấp nếp và gài trong vành khăn, thắt lưng hoặc trong túi trong[15]

Trang phục liền chị thường được gọi là "áo mớ ba mớ bảy", nghĩa là liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy) Tuy nhiên trong thực tế, các liền chị thường mặc áo

một chiếc yếm có màu rực rỡ thường làm bằng lụa truội nhuộm Yếm thường có hai loại là yếm cổ xẻ (dùng cho trung niên) và yếm cổ viền (dùng cho thanh nữ) Bên ngoài yếm là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà Ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân, cách phối màu cũng tương tự như ở bộ trang phục nam nhưng màu sắc tươi hơn Áo dài

Trang 8

năm thân của nữ, có cài khuy, khác với kiểu tứ thân thắt hai vạt trước[15] Chất liệu để may áo đẹp nhất thời trước là the, lụa Áo dài ngoài thường mang màu nền nã như màu nâu già, nâu non, màu đen, màu cánh dán trong khi áo dài trong thường nhuộm màu khác nhau: màu cánh sen, màu hoa hiên, màu thiên thanh, màu hồ thuỷ, màu vàng chanh, màu vàng cốm

Yếm thường nhuộm màu đỏ (xưa gọi là yếm thắm), vàng thư (hoa hiên), xanh da trời (thiên thanh), hồng nhạt (cánh sen), hồ thủy (xanh biển) Giải yếm to buông ngoài lưng áo và giải yếm thắt vòng quanh eo

quan họ xưa thường sử dụng chất liệu sồi se, màu đen, có tua bện ở hai đầu bao, khổ rộng, có thể đựng túi tiền mỏng ở trong bao rồi thắt gọn ngang eo, luồn qua lưng áo dài, bó chặt lấy ba thân áo trước, thắt múi to

1/3 bao, dùng để thắt chặt cạp váy vào eo Cũng tương tự yếm, thắt lưng làm bằng lụa nhuộm các màu tươi sáng như màu hoa lựu, màu hoa đào, màu hoa hiên tươi, màu hồ thủy Thắt lưng cũng buộc múi ra phía trước

để cùng với múi bao, múi giải yếm tạo nên những múi hoa màu sắc phía trước người con gái[15]

Liền chị mặc váy váy sồi, váy lụa, đôi khi có người mặc váy kép với

Váy màu đen Người biết mặc váy khéo là không để váy hớt trước, không

để váy quây tròn lấy người như mặc quần mà phải thu xếp sao cho phía trước rủ hình lưỡi chai xuống gần tới mu bàn chân, phía sau hơi hớt lên

Liền chị mang dép cong làm bằng da trâu thuộc theo phương pháp thủ công; có một vòng tròn bằng da trên mặt dép để xỏ ngón chân thứ hai

Trang 9

khiến khi đi lại, không rơi được dép Mũi dép uốn cong và người thợ làm dép phải biết nện, thuộc cho mũi dép cứng, như một lá chắn nhỏ, che dấu

chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao, và thắt lưng đeo dây xà tích

tồn Quan họ

Quan họ là một loại hình dân ca cực kỳ phong phú về giai điệu Quan họ được lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác qua phương thức truyền khẩu Phương thức này là một yếu tố giúp cho Quan

họ trở thành một loại hình dân ca có số lượng lớn bài hát với giai điệu khác nhau Tuy nhiên, cũng chính phương thức này đã làm cho các bài Quan họ lưu truyền trong dân gian bị biến đổi nhiều, thậm chí khác hẳn so với ban đầu Nhiều giai điệu cổ đã mất hẳn Mặc dù sự thay đổi này cũng làm cho Quan họ phát triển, nhưng ở trong bối cảnh văn hóa Phương Tây đang xâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, vấn đề bảo tồn nguyên trạng Quan họ trong từng giai đoạn phát triển là việc làm cấp thiết

Từ những năm 70 của Thế kỷ trước, Sở Văn hóa Hà Bắc đã tiến hành sưu tầm Quan họ Hàng nghìn bài Quan họ, bao gồm cả các dị bản

đã được ghi âm tại các làng quan họ, với giọng hát của hàng trăm nghệ nhân (Đến nay hầu hết đã ra đi) Sau khi sàng lọc và lựa chọn, nhạc sỹ, nhà nghiên cứu Hồng Thao đã ký âm thành bản nhạc, có bổ sung thêm một số ký tự riêng đặc trưng cho giai điệu Quan họ Khoảng 300 bài Quan

họ hay nhất đã được Nhà xuất bản Âm nhạc in thành sách Tuy nhiên, hàng nghìn bài Quan họ đã được ghi âm, do các cụ nghệ nhân (đã mất) hát, phải được bảo quản cực kỳ cẩn thận Sở Văn hóa Bắc Ninh và Bắc Giang chịu trách nhiệm lưu giữ các cuốn băng này cần phải số hóa toàn

bộ để có thể lưu giữ một cách dài lâu cho thế hệ mai sau

Ngày đăng: 26/01/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w