Sau mùa bắp, nhờ lượng thân lá còn để lại cho đất với một lượng khá lớn trên 5 tấn chất khô/ha nên cũng cung cấp một lượng mùn đáng kể cho cây trồng vụ sau.. Ở Đài Loan, xen canh bắp với
Trang 1®¹i hôc cÌn th¬
®¹i hôc cÌn th¬ khoa n«ng nghiÖp khoa n«ng nghiÖp khoa n«ng nghiÖp
gi¸o tr×nh gi¶ng d¹y trùc tuyÕn
§−íng 3/2, Tp CÌn Th¬ Tel: 84 71 831005, Fax: 84 71 830814 Website: http://www.ctu.edu.vn/knn email: dminh@ctu.edu.vn, vtanh@ctu.edu.vn
Chương 4 KỸ THUẬT CANH TÁC BẮP
1 SỬA SOẠN ĐẤT
Ngoài việc lựa chọn đất thích hợp, việc canh tác bắp đòi hỏi phải có kỹ thuật làm dất thích hợp để cho năng suất cao và bảo vệ độ phì nhiêu đất đai
Ở vùng đồi núi, việc sửa soạn đất cần thực hiện theo đường đồng cao độ (terrace) để đất đai không bị xoi mòn
Công tác sửa soạn đất trồng bắp cần đáp ứng các điều kiện cơ bản:
- Đất phải được cày sâu 15 - 20 cm, lớp đất mặt xốp để cây con dễ phát triển
- Làm sạch cỏ và ngăn được cỏ dại
- Tiêu diệt được côn trùng phá hại tiềm ẩn trong đất, kể cả trứng, ấu trùng và các ký chủ của nó
- Tạo độ xốp trong đất đủ thoáng để các vi sinh vật hoạt động hữu hiệu và rễ dễ hô hấp, nhưng phải xới vừa phải đễ đất không bị xói mòn do gió và nước
Một cách tổng quát, đất sét nặng thường được cày lật 1 lần và bừa từ 2 - 3 lần vào 1
- 3 tuần trước khi gieo Công tác này thực hiện ở điều kiện ẩm độ đất vừa phải Phân bón lót và thuốc sát trùng khử đất sẽ được rãi trước khi bừa lần chót và hột giống được gieo ngay sau đó
Kỹ thuật trồng bắp trên ruộng sạ ở vùng An Giang cho thấy có thể không cần cày bừa đất Bắp được trồng trong vụ Đông Xuân, sau mùa lúa nổi, lúc đất còn ẩm và gieo thành hàng hay sạ ngay dưới gốc rạ Phương pháp này giúp giảm thiểu chi phí canh tác, nhưng khó chăm sóc cây nên dễ làm giảm năng suất
Hiện nay tại các nước tiên tiến, có điều kiện kiểm soát cỏ dại bằng hóa chất, người
ta thường áp dụng phương pháp cày xới tối thiểu bằng cách chỉ xới thành từng băng nhỏ đất chỉ rộng khoảng 7 - 10 cm đủ để gieo hột Nhờ đó đất đai ít bị xói mòn, nhất là ở vùng núi và ven biển Phương pháp này cũng tiết kiệm được thời gian, chi phí sửa soạn đất và cho năng suất vẫn cao trên bắp và lúa mì
2 LUÂN CANH
Mặc dầu cây bắp vẫn có thể cho năng suất cao khi trồng nhiều năm liên tiếp, tuy nhiên việc độc canh bắp đòi hỏi phải có biện pháp chăm sóc và ngăn ngừa sâu bệnh triệt để
Trang 2Tại vành đai bắp (corn belt) của Mỹ, người ta thấy nếu trồng liên tiếp bắp trong hai năm thì năm thứ hai phải bón phân nhiều hơn và phải ngăn ngừa sâu thân mạnh mẽ hơn đối với bắp Do đó, ở đây, sau một năm trồng bắp người ta luân canh với đậu nành, lúa kiều mạch, đinh hương hoặc đồng cỏ Alfalfa
Tổng quát, chúng ta có thể trồng bắp sau vụ trồng bông vải, thuốc lá, đậu phụng hay đậu nành vì bắp dễ đưa vào chế độ luân canh Tuy nhiên sau mùa đậu dĩ nhiên trồng bắp sẽ tốt hơn
Sau mùa bắp, nhờ lượng thân lá còn để lại cho đất với một lượng khá lớn (trên 5 tấn chất khô/ha) nên cũng cung cấp một lượng mùn đáng kể cho cây trồng vụ sau Theo Schnubbe, W.(1964), lượng thân lá bắp vùi làm phân xanh cũng cung cấp một số dưỡng liệu khoảng lượng phân chuồng trung bình (nhờ tỷ lệ C/N thấp)
Biện pháp xen canh bắp với các cây họ đậu và những hoa màu khác đã được người
da đỏ ở Mỹ châu áp dụng từ lâu với hai hàng bắp rộng 1,2 m Ngày nay ở vùng Bắc Hoa kỳ, người ta xen bắp với đậu đồng cỏ và ở nam Hoa Kỳ thì xen nó với đậu phụng và rau cải Tuy nhiên, khi xen canh cần chú ý đến mức độ cạnh tranh dưỡng liệu, ánh sáng giữa hai loại hoa màu và khả năng cơ giới hóa có thể áp dụng Vì vậy, khi xen canh người ta thường trồng bắp với khoảng cách hàng thưa hơn, khoảng 1 - 1,5 m
Ở Đài Loan, xen canh bắp với đậu nành (trồng 3 hàng đậu giữa hai hàng bắp) cho thấy năng suất bắp đã bị giảm 12% và đậu nành giảm khoảng 60% so với độc canh, nhưng lợi tức đã tăng thêm 40% Thí nghiệm ở IRRI năm 1973 cũng cho thấy xen canh bắp với đậu phụng đã làm giảm sự phá hại của sâu đục thân đến 30%
Nông dân Việt Nam cũng thường trồng xen bắp với bí, dưa leo và các cây họ đậu Vùng miền Đông nam bộ thường xen bắp với đậu phụng, trong khi ở Tây nam bộ thường xen bắp với đậu xanh hoặc lúa mùa nổi (sạ lúa với lượng 120 - 150 kg/ha) Khoảng cách trồng bắp khi xen canh thường là 1,0 - 1,2 m hoặc đôi khi đến 2 m (mật độ 25.000 - 50.000 cây/ha)
3 THỜI VỤ
Trừ một số vùng ở miền núi Bắc bộ, nước ta có thể trồng bắp quanh năm, nếu đủ nước và dưỡng liệu cung cấp Tuy vậy, tùy tình trạng đất đai và hệ thống luân canh ở mỗi đia phương, mà thời vụ trồng bắp cũng khác nhau Tổng quát, trồng bắp vào mùa khô cây ít
bị sâu bệnh, đổ ngã, phát triển nhanh và cho năng suất cao, ổn định hơn so với mùa mưa, nhưng chi phí sản xuất sẽ nặng hơn (vì dẫn thủy tốn kém)
- Ở đồng bằng và trung du Bắc bộ thường có 3 vụ trồng bắp: Vụ Xuân (gieo tháng
1 - 2 dương lịch) là vụ chính và cho năng suất cao nhất Vụ thu (gieo tháng 8 - 9 dl) thường chỉ được trồng ở đất ven sông, khi nước rút Vụ Đông xuân (gieo tháng 10 - 11 dl, sau vụ lúa mùa), cũng là vụ chính, nhưng cần trồng các giống ngắn ngày để kịp thu hoạch trồng lúa xuân Vài nơi còn trồng lúa vụ Hè
- Ở Trung bộ: Vì mưa lũ bắt đầu từ tháng 8 - 9dl nên thời vụ bắp chỉ chú trọng vào vụ Đông xuân (gieo tháng 1 dl), sau vụ lúa Riêng vùng Phan Rang, vì mưa ít nên có thể trồng bắp vào đầu mùa mưa (gieo tháng 8 - 9 dl)
Trang 3- Ở Tây Nguyên : Trồng bắp trong vụ Thu (gieo tháng 6 - 8 dương lịch) và chỉ độc canh trong mùa mưa
- Ở Đông Nam bộ: Trồng bắp trong đầu mùa mưa (4 - 5 dl) giúp cây ít bị sâu bệnh, đủ nước Thí nghiệm ở Hưng Lộc (1963 - 1964) cho thấy gieo bắp 4 - 5 dương lịch cho năng suất gấp 2 lần so với gieo vào tháng 7 - 8 dl, trên giống Guatemala Golden
- Ở Tây Nam bộ: Với cơ cấu cây trồng theo hướng thâm canh tăng vụ, có thể trồng bắp vào hai vụ chính:
+ Vụ Đông xuân (gieo tháng 12 - 01 dl): Trồng vào cuối mùa mưa, khi đất còn ẩm để đở chi phí tưới nước lúc đầu Nhưng phải cung cấp đủ nước vào giai đoạn trổ mới đảm bảo được năng suất Đây là thời vụ lý tưởng nhất cho bắp nhờ đủ ánh sáng, nhiệt độ, ít sâu bệnh phá hại và cho năng suất ổn định, nhưng thường tốn nhiều chi phí tưới hơn và thời gian sinh trưởng cũng tương đối dài hơn vụ Hè thu 5 - 7 ngày
+ Vụ Hè thu: Gieo tháng 4 - 5 dl Mùa vụ này dễ gặp hạn trong giai đoạn đầu, nhưng sau đó cây phát triển thuận lợi (nhờ mưa) Thời vụ này ít tốn chi phí tưới, nhưng dễ
bị sâu bệnh tấn công và năng suất kém ổn định, nhất là ở các giống dễ đổ ngã Thích hợp cho những vùng có hệ thống thủy nông kém
Ngoài ra, trên các loại đất cao, dễ thoát thủy cũng có thể trồng bắp vào vụ thu (7 -
8 dl), giữa mùa mưa, nhưng bắp thường dễ bị sâu bệnh, đổ ngã, phát triển kén hơn hai vụ trên Diện tích này cũng không rộng lắm
4 CHỌN GIỐNG TRỒNG
Tùy mục đích sử dụng:
- Trồng lấy thân lá chăn nuôi: Nên chọn các giống có thân mềm, nhiều nước, tăng trưởng nhanh và cho sản lượng sinh vật cao
- Trồng lấy trái ăn tươi: Chọn các giống thuộc nhóm bắp ngọt (ví dụ : Pajimaka, sinh trưởng 77 - 85 ngày, năng suất 2,5 - 3,0 t/ha) và nhóm bắp nếp (bắp Nù, sinh trưởng 70
- 75 ngày, năng suất 1 - 2 t/ha)
- Trồng lấy hột để chăn nuôi hay chế biến: Chọn các giống thuộc nhóm bắp Đá, Răng ngựa, Nữa răng ngựa hay bắp Sữa Ở Miền Nam nước ta hiện có nhiều giống bắp lai và thụ phấn tự do cho năng suất cao và có chu kỳ sinh trưởng ngắn
Khi chọn giống , người ta thường chọn những trái to, không sâu bệnh Hột giống ở
2 đầu và giữa trái đều không khác biệt nhau về năng suất
Bảng 10: Đặc điểm một số giống bắp đang canh tác tại miền Nam
Giống Nguồn gốc Loại Nhóm Chu kỳ sinh
trưởng (ngày)
Năng suất (t/ha)
DK - 888 Hoa Kỳ Lai đơn Răng ngựa 95 - 105 7,0 - 9,0 Pacific - 11 Anh Lai kép Nữa R.ngựa 90 - 95 6,5 - 8,0 Bioseed - 9670 Hoa Kỳ Lai kép Nữa R.ngựa 90 - 95 6,0 - 7,0 TSB-1(Suwan 1) Thái Lan TPTD nt 87 - 93 4,0 - 5,0
Trang 4Giống Nguồn gốc Loại Nhóm Chu kỳ sinh
trưởng (ngày)
Năng suất (t/ha) Thái sớm HH nt nt nt 75 - 85 3,0 - 5,0 Guat Golden nt nt nt 90 - 95 2,5 - 3,5 MTB - 1 ĐHCầnThơ nt Bắp sữa 85 - 92 3,0 - 4,0 Nù Việt Nam nt Nếp 70 - 75 1,0 - 2,5
Ghi chú: TPTD = Giống thụ phấn tự do
Kết quả nghiên cứïu về bắp lai được ghi nhận như sau:
Bảng 11: Một số giống bắp lai có triễn vọng tại miền Nam
Tên giống Kiểu lai Sinh trưởng Năng suất Nguồn gốc Hè thu Đ Xuân Hè thu Đ Xuân
Dk - 888 Lai đơn 94 - 98 105 - 107 5,9 - 7,7 5,0 - 9,6 Charoen Pokphand
seeds Co
Dk - 222 Lai ba 87 - 91 5,8 - 6,3 "
Cargill - 333 Lai ba 86 - 87 95 - 97 5,2 - 6,3 4,5 - 8,5 Cargill seeds Ltd Cargill - 777 Lai ba 86 92 - 95 5,0 - 8,0 5,1 - 9,1 "
Uniseed - 38 90 - 93 98 - 100 5,9 - 7,5 3,7 - 8,4 Thailand
Uniseed - 90 Lai đơn 88 - 93 96 - 99 5,3 - 7,5 4,7 - 7,9 "
Pacific - 11 Lai kép 87 94 - 95 5,5 - 7,5 4,2 - 7,7 Pacific seeds Co LVN - 11 Lai ba 100-102 4,6 - 8,7 Viện Ngô Sông Bôi
Nguồn: Kết quả thí nghiệm tại Sóc trăng (Đỗ Tiến Đạt, 1993)
5 GIEO VÀ XỬ LÝ GIỐNG
5.1 Xử lý
Tùy cở hột và mật độ trồng, thông thường để gieo 1 ha bắp phải cần 20 - 30 kg hột giống Ở mật độ 57.000 cây/ha (70 x 25 cm), cần 20 - 25 kg
Hột giống phải có độ nẩy mầm > 90% để đảm bảo mật độ trồng, vì gieo dậm dễ làm cây mọc yếu ớt, chín muộn
Trước khi gieo, cần xử lý hột với các loại thuốc sát khuẩn như Arasan (Thiram), Captan hoặc Dithane M-45 với nồng độ 2 - 3%o để diệt và ngừa nấm bệnh tấn công cây con
Hột xử lý xong thường được gieo khô Đôi khi, nếu đất đủ ẩm, nông dân cũng ngâm và ủ hột trước khi gieo Nhưng phương pháp này thường chỉ áp dụng trên diện tích nhỏ
Ngoài biện pháp xử lý hột bằng thuốc sát khuẩn, hiện cũng có nhiều cách khác được áp dụng:
- Phương pháp cổ điển: Ngâm hột giống từ 12 - 24 giờ trong nước tiểu 50%, sau đó phơi khô hột trước khi gieo
Trang 5- Phương pháp Codunski (1955): Xử lý hột ở - 2oC đến +2oC trong 16 giờ, sau đó xử lý ở 15 - 18oC trong 8 giờ
- Phương pháp Payve và Dobrovonski (1958): Ngâm hột giống trong 24 giờ với dung dịch gồm H3PO3 (30 - 100 ppm) + MnSO4 (300 - 500 ppm) + ZnSO4 (300 - 500 ppm) cũng có tác dụng làm tăng độ nẩy mầm, sức tăng trưởng và năng suất hột nhờ cung cấp thêm một nguyên tố vi lượng, nhất là ở những đất nghèo dưỡng tố
Các nông dân miền Bắc xử lý hột với nước vôi trong, nước lá xoan hay nước ấm 55oC 5.2 Cách gieo
Tùy sa cấu đất, hột giống được gieo sâu từ 3 - 10 cm Đất sét nặng, ẩm và trời lạnh thì phải gieo cạn (3 - 5 cm) Nếu đất cát, khô hạn và nóng phải gieo sâu (5 - 10 cm) Có hai cách gieo hột:
- Gieo theo hốc: Mỗi hốc trồng 2 - 4 cây, do đó thường gieo 3 - 5 hột Phương pháp này áp dụng khi có thể chăm sóc bằng cơ giới, vì trồng nhiều cây trên hốc nên khoảng cách giữa hàng và giữa cây gần bằng nhau (60 x 60 cm hay 70 x 70 cm hoặc hơn), nhờ đó dễ chăm sóc Tuy nhiên gieo theo hốc với khoảng cách ô vuông thường khó gieo bằng máy và nếu số cây/hốc quá cao sẽ cạnh tranh ánh sáng, dưỡng liệu làm cây phát triển không đều Các thí nghiệm tại trường ĐHCT cho thấy chỉ nên gieo tối đa 2 cây/hốc mà thôi (năng suất tương đương 1 cây/hốc ở cùng mật độ) Trồng nhiều cây trên hốc cũng thích hợp với biện pháp xen canh
- Gieo theo hàng: Mỗi hốc chỉ chừa 1 cây Phương pháp này được áp dụng rộng rãi
vì dễ áp dụng cơ giới hay bán cơ giới (dùng máy xới hay trâu bò rạch hàng và sau đó rắc hột) Nếu gieo tay, có thể dùng cọc xoi lổ hay dùng cặp gieo cải tiến của Hungary (năng suất
12 - 15 ngày công/ha) nếu đất có sa cấu nhẹ
6 MẬT ĐỘ
Là yếu tố quyết định quan trọng đến năng suất Tùy yếu tố đất đai, giống, nước, tình hình sâu bệnh và khí hậu ở mỗi địa phương mà mật độ bắp cũng khác nhau
Trên thế giới, người ta thường trồng bắp với mật độ thay đổi từ 30.000 - 80.000 cây/ha (3 - 8 cây/m2) với khoảng cách giữa hàng từ 60 - 100 cm và trên hàng từ 20 - 40 cm Hàng bắp thường được trồng thưa tối thiểu 60 cm để dễ chăm sóc bằng cơ giới Khoảng cách trên hàng phải tối thiểu 20 cm cây mới mọc tốt
Ở Pháp, bắp được trồng với mật độ từ 30.000 - 90.000 cây/ha Tại vành đai bắp của Mỹ, các giống bắp lai được trồng với mật độ 25.00 - 50.000 cây/ha
Tổng quát người ta thường trồng thưa ở những giống cao cây, dài ngày hoặc trên những đất xấu, nghèo dinh dưỡng
Tại miền Bắc nước ta, các khuyến cáo cũng cho thấy mật độ trồng bắp thay đổi từ 25.000 cây/ha (80 x 50 cm) đến 80.000 cây/ha (60 x 40 cm/2 cây)
Tại miền Nam, các thí nghiệm từ năm 1964 đến nay trên các giống bắp thụ phấn tự
do cũng cho thấy rất khác biệt: Ở Phan Rang, mật độ tối hão là 50.000 cây/ha, ở Long Khánh là 47.000 - 50.000 cây/ha (70 x 30 cm - 80 x 25 cm)
Trang 6Các thí nghiệm của Đại học Cần Thơ từ 1976 - 1979 đã cho thấy mật độ thích hợp cho vùng phù sa ven sông của ĐBSCL như sau:
- Đối với giống thấp cây (< 2 m ) và ngắn ngày (sinh trưởng < 80 ngày): Nên trồng với mật độ 71.000 cây/ha (70 x 20 cm) vào mùa nắng và 57.000 cây/ha (70 x 25 cm) vào mùa mưa
- Đối với giống cao cây (> 2 m ) và trung ngày (sinh trưởng > 80 ngày): Nên trồng với mật độ 57.000 cây/ha (70 x 25 cm) vào mùa nắng và 47.000 cây/ha (70 x 30 cm) vào mùa mưa Các giống bắp lai hiện nay đều thuộc dạng hình cao cây nên trồng với mật độ và khoảng cách này để cây tăng trưởng tốt
Mật độ trồng ảnh hưởng quan trọng đến trọng lượng trái, kích thước trái và số trái/cây Nó cũng ảnh hưởng đến độ chênh lệch giữa thời gian tung phấn phun râu, tỷ lệ đổ ngã, sâu bệnh, đường kính thân, mức độ nhẩy chồi và phẩm chất của hột (nhất là hàm lượng protein) Nó cũng ảnh hưởng đến LAI và NAR
Tuy nhiên, các kết quả thí nghiệm cũng cho thấy mật độ không ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng, thời gian tạo hột và chiều cao cây nếu trồng bắp ở mật độ từ 47.000 - 71.000 cây/ha
Trồng bắp quá thưa, cây phát triển tốt, cho trái to và nhiều trái/cây, nhưng số hột/m2 lại nhỏ nên không làm năng suất cao được Mặc dù trồng thưa giúp cây quang hợp hữu hiệu, ít bị che rợp (NAR cao), nhưng LAI thường nhỏ làm vận tốc sinh trưởng của cây bị chậm
Trồng quá dày cây bắp sẽ phun râu trễ hơn bình thường từ 1 - 5 ngày làm hoa cái dễ bị thiếu phấn, hột bị lép Cây dễ đổ ngã (vì đường kính thân giảm) và dễ bị sâu bệnh (nhất là Pyrausta, Diplodia và Fusarium)
Khi trồng bắp làm thức ăn xanh cho gia súc, vì không cần lấy hột, người ta thường trồng bắp với mật độ dày hơn, từ 80.000 - 100.000 cây/ha
7 PHÂN BÓN
Nhu cầu về các đại dưỡng tố ở bắp rất cao và phần lớn lại chỉ được cây hấp thụ mạnh trong giai đoạn trổ và tạo hột
Theo Smith (1952), với năng suất hột 6,27 t/ha, cây bắp đã lấy đi của đất từ 167 -
241 kg N, 50 - 90 kg P2O5, 101 - 196 kg K2O/ha Một số tác giả khác cũng cho thấy là ở năng suất 6 t/ha, bắp đã hấp thụ hết 168 kg N, 57 kg P2O5, 135 kg K2O, 14 kg CaO và 14 kg MgO/ha Trung bình để cho 1 tấn hột là cây bắp đã tiêu thụ được 25 - 30 kg N 12 - 14 kg
P2O5 và 28 - 30 kg K2O Do đó vấn đề cung cấp dưỡng liệu bằng cách bón phân cho bắp là vấn đề rất quan trọng để bảo đảm năng suất và duy trì độ màu mỡ của đất Đối với bắp trồng làm thức ăn xanh gia súc hoặc bắp ăn rau (baby corn) cũng cần lượng phân bón tương đương và nếu thu hoạch thân lá phải tiếp tục bón thêm phân cho đất sau khi thu hoạch vì lượng thân lá không trả lại cho đất
7.1 Lượng phân
Trong các đại dưỡng tố, N là nguyên tố mà cây cần với số lượng nhiều nhất Theo Jacob, A và Von Üexkull, H (1963), có thể bón đến 150 - 260 kg N/ha cho bắp mà vẫn chưa
Trang 7thấy có triệu chứng dư N Các giống bắp lai hiện nay trồng tại ĐBSCL cũng được bón từ 200
- 250 kg N/ha và vẫn có khả năng cho năng suất 8 - 12 tấn hột/ha Bón N cũng làm tăng lượng Protein trong hột và thân lá, nhất là khi xịt N (dưới dạng Urea 4 - 5%) lên lá trong giai đoạn tạo hột Tuy nhiên cần kết hợp thêm Mn để làm tăng Protein thuộc nhóm Globulin lên thay vì chỉ tăng Prolamin (zein) nếu chỉ xịt N thuần Phương pháp này thường được áp dụng khi trồng bắp làm thức ăn xanh cho thú vì có thể làm tăng Protein trong hột lên đến 15
- 20% và ở thân lá đến 30 - 40% (Pavlov, A.N., 1967)
Tổng quát, có thể bón cho bắp các loại phân:
- Phân chuồng: Bón từ 10 - 20 t/ha, nhất là trên đất sét nặng, để cung cấp chất mùn, một phần dưỡng liệu cho đất
- Phân hóa học: Liều lượng áp dụng thay đổi theo từng quốc gia, thường người ta bón cho bắp từ 80 - 150 kg N, 80 - 120 kg P2O5 và 60 - 120 kg K2O/ha Nhu cầu NPK trên đất cát lớn hơn đất sét
Ngoài ra, trên đất pH thấp, ngoài việc bón P ở dạng lân Apatite, cần bón thêm CaCO3 để cải thiện pH và cung cấp một số Ca cho bắp Tổng quát, để nâng cao pH = 6, mỗi 0,5 đơn vị pH < 6 muốn nâng thêm, phải bón thêm từ 0,5t/ha (đối với phân vôi Càng Long, 65% CaO) đến 2 t/ha (đối với vôi Hà Tiên, 80 - 90% CaCO3) Trên loại đất sét nặng Ở đất cát, nhu cầu về vôi để làm tăng pH tương đối ít hơn
Các công thức khuyến cáo về lượmg phân N - P - K cho bắp ở vùng ĐBSCL cũng thay đổi từ 100 - 180 kgN + 90 - 120 kg P2O5 + 40 - 60 kg K2O/ha Ở đất kém màu mỡ cần bón nhiều phân hơn
7.2 Cách bón
Tất cả phân chuồng, P (vì chậm tác dụng) và K đều được bón lót và rãi đều trên đất trước khi gieo Schnubbe (1964) đề nghị nên bón P theo hàng để rễ bắp dễ hấp thụ và P cũng ít bị đất cố định
Phân N nên bón theo hàng để cây sử dụng được hữu hiệu hơn và phải chôn dưới đất để giảm bớt bốc hơi (tạo thành N2) Theo Robertson, W.K & Ohlrogge, A.J (1952), bón
N gần hàng bắp hay bón theo rảnh giữa hàng đều cho kết quả như nhau Điều này có thể giải thích vì hệ thống rễ bắp đã đủ lan rộng giao nhau kể từ khi cây con được 3 tuần tuổi sau khi gieo Tuy nhiên, bón theo rảnh giữa hàng sẽ làm các rễ già ít bị tổn thương hơn và tuy có làm một số rễ con mọc ngang bị đứt nhưng sẽ kích thích rễ phát triển sâu hơn, do đó cũng đã giúp tăng năng suất một phần (Afendulov, K.P., 1966)
Thời kỳ bón N cũng là vấn đề ảnh hưởng quan trọng đến sự tăng trưởng và năng suất bắp Tại các nước, người ta thường chia lượng N làm 2 hoặc 3 lần để bón, đôi khi bón lót với một lượng rất ít (khoảng 1/4 tổng lượng N) hoặc không bón Trong điều kiện của vùng ĐBSCL, thời kỳ bón N cho bắp nên thay đổi tùy thời vụ trồng:
- Vụ Hè thu: Nên chia lượng N làm 3 lần bón: Lần I bón lót (1/3 N) vào lúc gieo hột, lần II (1/3 N) bón thúc lúc 30 ngày sau khi gieo và lần III (1/3 N) thúc vào 50 ngày sau khi gieo (lúc trổ) Lượng N cung cấp trong giai đoạn sau giúp kéo dài tuổi thọ lá, kéo dài thời gian tạo hột và làm đầy hột Vì mùa mưa, N dễ trực di nên phải chia N làm 2 lần bón thúc
Trang 8- Vụ Đông xuân: Bón 2 lần: Khi gieo hột (lót 1/2 N) và bón thúc giữa hàng khi cây bắp được 5 - 9 lá (15 - 30 ngày sau khi gieo) để kích thích sự phát triển của mầm hoa Nhờ ít
bị rữa trôi, N có tác dụng lâu dài nên chỉ cần bón thúc 1 lần
8 CHĂM SÓC
8.1 Tỉa dặm
Để loại bỏ cây xấu và bảo đảm mật độ trồng Khoảng 4 - 6 ngày sau khi gieo (cây con được 1 lá) phải gieo dặm những nơi mọc thiếu Sau đó, nhổ bỏ những cây mọc yếu, chừa đúng số cây/hốc đã định khi cây được 3 - 4 lá (12 - 15 ngày sau khi gieo) Tỉa và dặm trễ sẽ làm cây mọc yếu, giảm năng suất Thí nghiệm ở Phú Thọ (miền Bắc) cho thấy tỉa trễ khi cây bắp được 6 - 7 lá có thể làm giảm năng suất đến 15 - 20%
8.2 Diệt cỏ
Trong 30 ngày đầu, cây phát triển chậm và yếu ớt (nhất là bắp ngọt) do đó phải
chăm sóc kỷ và diệt cỏ dại để cây phát triển tốt Thông thường, để diệt cỏ và phá đóng váng (do làm đất quá kỷ), người ta dùng máy xới 2 - 3 lần, cách nhau 15 - 20 ngày Có thể dùng hóa chất để diệt cỏ như Atrazine (tiền nẩy mầm, 3kg ai/ha), 2,4-D (0,5 - 2
kg ai/ha), Basta (hậu nẩy mầm, 2,5 - 3 lít/ha) hoặc Dual (tiền nẩy mầm, 1 - 1,5 l/ha) Khi dùng thuốc diệt cỏ, có thể pha thêm 7 - 8% (NH4)2SO4 hoặc 10% KCl sẽ làm tăng hiệu quả
Phương pháp làm cỏ bằng tay thường được nông dân kết hợp để vun gốc bắp cùng lúc với diệt cỏ lần cuối để giảm đổ ngã Cần tránh lấy đất ở giữa hàng quá sâu làm thiệt hại rễ của cây
8.3 Tưới tiêu
Dù tương đối kháng hạn, cây bắp cũng cần nhiều nước trong giai đoạn nẩy mầm và trổ (10 ngày trước khi trổ đến 20 ngày sau khi trổ) Tổng lượng nước bắp cần lúc trổ khoảng 50% tổng lượng nước cả vụ Ẩm độ đất luôn đảm bảo ở 80% độ thủy dung Do đó, trong mùa nắng, cần dẫn thủy tưới theo rảnh hoặc tưới ngập cách 4 - 7 ngày/lần khi bắp trổ
Theo Wallace, H.A & Bressman, E.N (1955), ở năng suất bắp 6,35t/ha cây cần tổng lượng nước từ 480 - 610mm nước trong toàn vụ Abdur Rehman Khan & Shah M.H.(1969) thí nghiệm ở Pakistan cho thấy nếu dẫn thủy 8 lần trong suất vụ với lượng nước tổng cộng 610 mm cây cho năng suất cao nhất (5,1 t/ha) trên đất sét nặng, nếu tưới ngập Trong giai đoạn trổ, chỉ cần thiếu nước 2 ngày là năng suất bắp bị giảm 22% và thiếu nước 6
- 8 ngày làm năng suất giảm 50%
Triệu chứng thiếu nước làm lá bắp bị cuống lại ở bìa lá, lá héo và có những lằn nhăn song song theo chiều ngang phiến lá Trong các giai đoạn phát triển khác, cây cần ít nước hơn, nhưng phải bảo đảm ẩm độ đất từ 60 - 70% thủy dung
Hình 15: Vun gốc bắp bằng máy
Trang 9Cây bắp là loại cây trồng chịu úng tương đối kém, nhất là trong giai đoạn cây con (dưới 30 ngày tuổi) Triệu chứng bị úng khi ẩm độ đất > 90% thủy dung, làm cây bị héo, phát triển chậm, vàng lá và cuối cùng chết vì rễ không hô hấp và hấp thụ dưỡng liệu được
Ở đất sét nặng, chỉ cần bị úng 24 giờ là năng suất bắp đã giảm khoảng 30 - 50% và sau 72 giờ cây chết Do đó, trong mùa mưa, p cần chú ý tiêu nước để đất được thoáng
Ngoài các biện pháp chăm sóc trên, nhiều chuyên viên cũng khuyên nên rút bỏ cờ bắp sau khi cây tung phấn để giảm sự che rợp (cờ che 9 - 18% ánh sáng) và để dưỡng liệu tập trung nuôi trái Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy việc che rợp này không quan trọng trong điều kiện nhiệt đới, ngoài ra sau khi trổ, một phần dưỡng liệu ở cờ cũng chuyển
vị về hột để nuôi hột Việc rút cờ còn không lợi về kinh tế vì tốn công Chỉ nên rút bỏ cờ ở những cây bắp phát triển kém trong các ruộng nhân giống thụ phấn tự do để không làm lai lẫn những cây bắp tốt mà thôi
9 SÂU BỆNH TRÊN BẮP
9.1 Côn trùng phá hại
9.1.1 Những loại sống dưới đất
Chỉ ngừa bằng cách sửa soạn đất kỷ lưởng, vệ sinh đồng ruộng và khử đất bằng các loại thuốc hột hay bột, Những loại phá hại gồm có:
- Sâu đất (Agrotis ypsilon Rott - Noctuidae): Sâu màu xám, thường khoanh tròn khi chạm phải Thân mập, láng, lưng có 2 sọc trắng Thường cắn phá vào ban đêm và lúc gần sáng Phá hại trong giai đoạn cây con, cắn đứt ngang gốc khi cây được 3 - 5 lá và cắn phá rễ làm cây héo Ít phá hại cây lớn (khi cây cao > 50 cm) Thường xuất hiện ở Tây nguyên và Đông Nam bộ
- Sùng trắng (Anomala sp - Scarabacidae): Thành trùng là bọ hung màu xanh lục Sùng có nhiều lông mịn, thân trắng và cong hình chữ C khi chạm phải Ngực có 3 cặp giả túc, phần cuối thân bầu ra Cắn phá rễ làm cây kiệt sức và dễ đổ ngã
- Sùng bửa củi (Agriotes sp.): Ấu trùng của bửa củi Sùng màu vàng đến nâu, thân hình ống cũng có 3 cặp giả túc, sống nơi ẩm thấp Thường cắn phá hột mới gieo và rễ Sau đó đục khoét phần gốc thân làm cây chết Phá hại trong giai đoạn cây con (< 40 cm)
9.1.2 Loại sống trên không
Thường cắn phá thân, lá, cờ và trái Ngừa trị bằng nhiều biện pháp, trong đó có thể dùng các loại thuốc trừ sâu để xịt hay thuốc hạt rắc lên đọt cây (trong giai đoạn phát triển của cây) với lượng từ 3 - 5 hạt/cây (Furadan, Basudin) Các loại phá hại gồm có:
- Sâu ăn tạp (Spodoptera litura - Noctuidae): Thân xanh, xanh đen hay xám, nâu Lưng có 3 sọc vàng Ở tuổi
1 - 2 thường ăn mỏng biểu bì lá và tuổi 3 - 5 cắn thủng lá Đẻ trứng ở mặt dưới phiến lá, ổ trứng vàng, có lông mịn và khi nở thường tập trung cắn phá lá trong giai đoạn tuổi
1 - 2 (gọi là army worm) Phá hại cây con từ 0 - 35 ngày sau khi gieo vào vụ Đông xuân
Hình 16: Ấu trùng sâu ăn tạp
Trang 10- Sâu đục thân (Pyrausta nubilalis, Ostrinia furnacalis - Pyralidae): Thân trắng ngà, đầu lớn và đen Khi hóa nhộng thường chiu ra gần miệng hang để kéo kén, kén màu nâu sẩm Sâu thường gây hại ở:
+ Đọt cây: Khi được 4 - 5 tuần tuổi, sâu đục thủng đọt thành 1 lổ xuyên ngang nên khi lá nở có 1 hàng lổ thẳng hàng, xếp ngang nhau Lá nhăn, vàng, nhỏ
+ Thân: Thường phá hại từ 40 ngày sau khi gieo Sâu đục phá bên trên đốt thân, làm hang và chui vào đục phá làm thân dễ bị gãy Nơi miệng lổ của hang có những bã vàng như mạt cưa do phân và thân bắp vụn thãi ra
+ Cờ: Cắn phá lúc bắp ló cờ, làm cờ ít hay không tung phấn và dễ bị gãy, héo + Trái: Sâu đục từ thân xuyên qua cuống trái, cắn phá lỏi và hột
Đây là loại côn trùng quan trọng nhất đối với bắp ở miền Tây, Việt nam và cả thế giới, thường phá hại bắp và gây thiệt hại đôi khi đến 30 - 50% vào mùa mưa Phòng ngừa bằng cách vệ sinh đồng ruộng và dùng giống kháng Sửa soạn đất kỷ và xịt các loại thuốc thông dụng (Diazinon, Sumithion )
- Sâu đục trái (Heliothis zeae, Helicoverpa armigera - Noctuidae): Sâu màu xanh, hồng hay nâu, có hai sọc song song ở giữa lưng (1 đen, 1 trắng), đầu vàng và nhỏ, có lông ngắn, trắng, vàng trên thân Thường cắn phá râu trái non và hột, đôi khi cũng ăn thủng lá Đầu trái bị cắn phá có nhiều phân giống mạt cưa Nơi phá hại cũng bị nấm bệnh tấn công làm hư trái Phòng trị bằng cách dùng giống kháng (có vỏ trái dày và che phủ cả trái) Dùng tay bóp chết sâu ở đầu trái (là nơi sâu thường tập trung và hóa nhộng) Xịt các loại thuốc trừ sâu gốc Lân + Pyrethroid tổng hợp
- Rầy mềm (Aphis maydis): Thân màu xanh lơ hay xám đen, nhỏ khoảng 2 cm Thường chích hút ngọn, cờ, lá bi, nách lá làm nơi bị chích có màu vàng lốm đốm, cây héo Tấn công bắp lúc gần trổ cờ làm cờ bất thụ và truyền các bệnh virus cho cây
Ngoài ra, bắp còn bị dòi đục thân (Atherigona sp.) tấn công lúc cây con và sâu đo (Plusia signata) lúc cây tăng trưởng tích cực
9.1.2 Bệnh
Trong giai đoạn cây con từ khi mọc mầm đến khi cây được 6 - 7 lá, bắp dể bị các loại nấm bệnh như Diplodia zeae, Gibberella zeae, Fusarium moniliforme, Penicillium sp., Aspergillus sp và Pythium arrhenomanes Những nấm bệnh này thường truyền từ hột giống và đất sang tấn công cây con làm cây héo và chết Do đó cần xử lý giống với các loại thuốc sát khuẩn trước khi gieo Ngoài ra trong giai đoạn phát triển, bắp cũng bị một số bệnh như:
Hình 17: Sâu đục thân bắp
Hình 18: Bướm
sâu đục trái bắp
Hình 19: Bào tử và vết bệnh đốm lá
nhỏ (H maydis)