1. Trang chủ
  2. » Tất cả

33 - Dương Thu Hương - 19061147 -  CIL2004 1

8 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 285,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù đã có sự giúp đỡ của 2 bên gia đình, nhưng nhận thấy đời sống không thể được tiếp tục nên chị L đã yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị việc ly hôn với anh D.. Nhận thấy cuộc hôn nhâ

Trang 1

*** KHOA LUẬT ***

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Hà nội, ngày 29 tháng 12 năm 2021

Trang 2

* Tóm tắt nội dung vụ án

- Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Người thực hiện: Dương Thu Hương MSV: 19061147

Môn: Pháp luật Hôn nhan và Gia đình Giảng viên: TS Bùi Minh Hồng

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Đề bài (Bản án số 2): Bản án số 14/2017/HNGĐ-PT ngày 20/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L và bị đơn

Anh Phan Văn D

Trang 3

Chị L và anh D kết hôn năm 2000 trên tinh thần tự nguyện của cả hai Sau 6 năm chung sống, chị L quyết định ly hôn với anh D do không có cùng quan điểm sống đặc biệt là kể từ khi chị L đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài Mặc dù đã có sự giúp đỡ của 2 bên gia đình, nhưng nhận thấy đời sống không thể được tiếp tục nên chị L đã yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị việc ly hôn với anh D

Anh chị L và D có 3 người con chung là T (2001), L (2002) và N (2005) hiện đang sinh sống với anh D Chị L mong muốn được trực tiếp nuôi L và N và không yêu cầu anh D chu cấp tiền nuôi dưỡng con Còn anh D thì mong muốn tùy vào nguyện vọng của con, nếu con muốn ở với bố thì chị L đóng góp tiền nuôi dưỡng con là 1 triệu đồng/1 tháng/1 cháu Và nếu con chọn ở với chị L thì anh cũng sẽ đóng góp như vậy

Chị L và anh D có một số tài sản chung nhưng không đáng kể Trong buổi hòa giải 3/2017 Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết Cũng trong ngày hôm ấy anh D đề nghị chia đôi Nhưng tại phiên tòa sơ thẩm, anh D chấp nhận ý kiến của chị L

Còn về nợ chung thì chị L trình bày rằng là không vay cũng nhưu không nợ ai cả Còn anh D thừa nhận rằng có vay em gái là D 103 triệu (trong giấy vay nợ là 53 triệu), vay mẹ đẻ

là bà M 49 triệu và nhờ bà M vay Ngân hàng chính sách xã hội 50 triệu Ngoài ra, anh D yêu cầu chị Lan gửi tiền cấp dưỡng nuôi con

Bà M (mẹ của anh D) người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã khai trong đơn yêu cầu trả

nợ rằng cho anh D là con vay 49 triệu, lúc ấy chị L đang ở nước ngoài Năm 2006 do điều kiện kinh tế khó khăn nên đã nhờ bà vay từ Ngân hàng chính sách xã hội 50 triệu đồng Tổng

số tiền anh D vay là 99 triệu đồng

- Quyết định của Tòa án:

Tòa án quyết định giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện NX, Tỉnh Hà Tĩnh xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm

Bà M và anh D không phải chịu án phí phúc thẩm và được trả lại mỗi người 300 nghìn đồng tiền tạm ứng án phí

* Căn cứ ly hôn, việc giao con khi ly hôn trong vụ án?

Trang 4

Tại Khoản 1, Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình 2014, quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai

người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” Nhận thấy cuộc hôn nhân không thể kéo

dài nên theo căn cứ trên thì chị L có quyền yêu cầu tòa án giải quyết vấn đề ly hôn cho mình

Theo Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về “Ly hôn theo yêu cầu

của một bên” như sau: “1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không

thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không

đạt được.”

Do quan điểm sống, cùng với sự chửi bới xúc phạm của anh D, chị L đã đệ đơn ly hôn lên Tòa án và yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D Mặc dù đã có một buổi giải hòa vào ngày 01/3/2017 xong chị L vẫn giữ quyết định của mình Do vậy, việc Chị L yêu cầu được giải quyết về việc ly hôn là một việc có căn cứ

Nhận thấy rằng 3 người con chung là T, L và N đều chưa đủ 16 tuổi (trên 7 tuổi) Do vậy,

được xét vào trường hợp là chưa thành niên Theo Khoản 1,2 Điều 81 Luật Hôn nhân và

gia đình 2014 về “Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn” quy

định như sau: “1 Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan 2 Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.” Căn cứ theo quy định trên thì T, L, N có quyền lựa chọn người trực tiếp nuôi mình.

Đồng thời, anh D và chị L vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng 3 em

* Yêu cầu của anh Phan Văn D kháng cáo buộc chị L phải thanh toán cho anh D 576.000.000 đ tiền anh D nuôi con ăn học trong 10 năm có cơ sở để chấp nhận không? Tại sao?

Trang 5

Theo em anh D chỉ có thể kháng cáo không chấp nhận ly hôn do xác định căn cứ không đúng Còn với số tiền 576 triệu đồng mà anh D buộc chị L phải thanh toán thì không có căn

cứ Trong trường hợp 3 con đều chọn sống chung với anh D, thì:

Theo Khoản 1 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi

con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình”

Tại Khoản 2 Điều 82 cũng chỉ quy định rằng: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa

vụ cấp dưỡng cho con.”

Do vậy, việc chu cấp phải phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của người không trực tiếp nuôi con Chính vì thế, việc anh D buộc chị L phải thanh toàn số tiền nuôi con trong 10 năm là hoàn toàn không có căn cứ

* Đánh giá quy định hiện hành về “căn cứ ly hôn”, chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

1 Những vướng mắc, bất cập:

- Đối với Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, quy định: 1 Khi vợ hoặc chồng

yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu

có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” Đây là một quy định mới, mạng

tính khái quát cao Tuy nhiên, việc quy định thể hiện yếu tố tình cảm vẫn còn khá chung chung Khi xử lý các trường hợp cụ thể, với sự đa dạng của cuộc sống thì mỗi vụ án ly hôn đều có những hoàn cảnh không giống nhau Trong khi đó, không có căn cứ rõ ràng để xác

định thế nào là “làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể

kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” Rất khó để xác định hành vi nào là hành vi

nghiêm trọng Do đó,việc đánh giá căn cứ trên là rất khó khăn Có thể cùng một hiện tượng, những rõ ràng với căn cứ trên thì hướng giải quyết của vụ việc phụ thuộc vào năng lực của Thẩm phán

Trang 6

- Khoản 1, Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai

người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn” Theo quy định thì vợ hoặc chồng có

quyền đơn phương yêu cầu ly hôn khi thấy cuộc sống hôn nhân của mình không thể kéo dài Trên thực tế cho thấy, rất nhiều trường hợp một bên đơn phương xin ly hôn nhưng bên kia không đồng ý, tìm mọi cách để gây khó khăn khiến cho việc ly hôn kéo dài và phức tạp,…

Và điều này làm mất thời gian, công sức cho cả đương sự và tòa án

2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về căn cứ ly hôn.

2.1 Hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn

Hướng dẫn chi tiết về các căn cứ ly hôn

Đối với những bất cập nói trên, pháp luật cần quy định rõ hơn về căn cứ ly hôn, kết hợp với giải quyết ly hôn dựa vào bản chất quan hệ hôn nhân cùng với yếu tố lỗi của cả bên vợ

và chồng Ngoài ra, bên cạnh các khái niệm pháp lý cần pháp luật hướng dẫn chi tiết thi hành, thì các nhà lập pháp cũng cần quy định cụ thể hơn về việc “thế nào là nghiêm trọng, thế nào là không nghiêm trọng”

Các nhà lập pháp cần đưa ra quy định cụ thể về bên thứ ba có quyền yêu cầu Tòa án giải

quyết việc ly hôn

Luật hôn nhân và gia đình 2014 chưa có quy định cụ thể về việc cha mẹ là cha mẹ ruột của

vợ hoặc chồng hoặc cả hai bên cha mẹ đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức được Từ

đó dẫn tới việc áp dụng luật không thống nhất trong thực tiễn Đòi hỏi các cán bộ lập pháp phải có quy định cụ thể Và theo quan điểm của em thì Cha, mẹ người than của vợ hoặc chồng đều là những chủ thể có quyền tham gia yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn dựa vào BLDS và Luật TTDS để có cái nhìn thống nhất, có cách áp dụng thống nhất từ luật gốc Dân sự

Vợ chồng ly hôn vì họ hết tình cảm với nhau, mà trong đời sống hôn nhân của họ không

hề có xích mích, mâu thuẫn

Trang 7

Trên thực tế, nhiều cặp vợ chống lấy nhau là do có thai ngoài ý muốn hayquan hệ tình cảm đính ước của bố mẹ hai bên Nên cuộc sống hôn nhân của họ chỉ mang tính hình thức, mà không có hạnh phúc là điều dễ hiểu Chính vì bắt nguồn từ sự không hạnh phúc nên khi chung sống thì như hai người xa lạ, vợ chồng không còn cảm giác yêu thương nhau nên muốn giải thoát bản thân bằng việc ly hôn

Phải chăng đó là một dạng thuận ly hôn Hay đó là trường hợp ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu mà không có các dấu hiệu, điều kiện căn cứ ly hôn theo Điều 55 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đưa ra Để xác định “vấn đề tình cảm đã hết” thì quả thật là vấn đề vô cùng khó khăn, pháp luật cần có những hướng dẫn cụ thể

Theo quan điểm của em, thì Tòa án vẫn nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng hoặc cả hai trong trường hợp họ hết tình cảm với nhau Tòa án ra quyết định ly hôn là một giải pháp tốt nhất đối với họ

Hậu quả sau khi ly hôn của trường hợp người thứ ba yêu cầu ly hôn

Pháp luật chỉ quy định cho cha mẹ, người thân thích khác yêu cầu ly hôn để bảo đảm quyền lợi cho người vợ hoặc người chồng không có khả năng nhận thức Do vậy sau khi ly hôn, pháp luật vẫn phải đảm bảo được người thay mặt người vợ, người chồng ấy quyền về tải sản, chăm sóc con cái và nhận được sự chăm sóc từ các con Do vậy, để hoàn thiện hơn nữa quy định này thì cần phải bổ sung nhiều quy định cụ thể hơn

2.2 Nâng cao nhận thức, kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ Tòa án

Bên cạnh việc thường xuyên tổ chức các lớp cán bộ đào tạo cho những nhà thực thi pháp luật, huấn luyện đội ngũ cán bộ Tòa án có chuyên môn sâu, am hiểu về hôn nhân và đặc biệt

là ly hôn thì khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử cần xem xét thận trọng nội dung, nguồn và giá trị các chứng cứ chứng minh thực trạng hôn nhân của đương sự Phải làm thật

rõ trước khi mở phiên tòa xét xử Đồng thời phát huy trách nhiệm của mình khi thực hiện vai trò đại diện cho nhân dân khi tham gia xét xử

2.3 Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật về ly hôn và căn cứ ly hôn cho người dân

Trang 8

Tăng cường công tác hòa giải tại cơ sở để giúp họ suy nghĩ lại về mối quan hệ của mình Các cán bộ hòa giải cần nắm bắt rõ nguyên nhân, mức độ mâu thuẫn và hoàn cảnh cụ thể để đưa ra những lời khuyên, động viên phù hợp Đặc biệt, cần phải tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về luật Hôn nhân và Gia đình để mọi người dân nhận thức đúng đắn hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong hôn nhân

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[*] Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Ngày đăng: 10/02/2022, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w