1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập

14 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập Lịch sử các học thuyết kinh tế ôn tập

Trang 1

LỊCH SỬ CÁC THUYẾT HỌC KINH TẾ

I Đặc điểm các nước đang phát triển:

Các nước đang phát triển (Least Developed Countries –

LDCs): là khái niệm dùng để chỉ các nước, các dân tộc

thuộc địa, nửa thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh đã

giành độc lập về chính trị nhưng về kinh tế, khoa học và kỹ

thuật, còn phụ thuốc ít nhiều vào những nước phát triển,

hiện nay đang tiếp tục quá trình công nghiệp hóa, hiện đại

hóa

Các nước đang phát triển có điểm chung về kinh tế và xã

hội như sau:

1 Đều có mức sống thấp

Ở các nước đang phát triển, mức sống của đại đa số dân

chúng đều rất thấp cả về lượng lẫn về chất: như thu

nhập thấp, thiếu nhà ở, sức khỏe kém, không được hoặc

ít được học hành, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh cao, tuổi thọ

và thâm niên lao động không cao

- Thu nhập quốc dân tính theo đầu người thấp:

Trang 2

Vào đầu những năm 90 thế kỷ XX, giá trị tổng sản lượng

của tất cả các nước trên thế giới là trên 15.500 tỷ USD,

trong đó hơn 12.650 tỷ được tạo ra ở những khu vực kinh

tế phát triển, trong khi chưa đầy 2.850 tỷ ở các nước

đang phát triển Điều này có nghĩa là khoảng 83% tổng

thu nhập của thế giới được tạo ra trong những khu vực

kinh tế phát triển, với chưa đến 1/4 dân số thế giới Trong

khi đó, trên 3/4 dân số thế giới thuộc các nước đang phát

triển chỉ sản xuất ra được 17% sản lượng của toàn thế

giới Các nước đang phát triển, với gần 77% dân số thế

giới, lại duy trì đời sống của mình nhờ có chưa được 21%

thu nhập của thế giới Thu nhập bình quân đầu người

tổng cộng của các nước đang phát triển tính trung bình

Trang 3

chỉ bằng 1/16 thu nhập bình quân đầu người của các

nước giàu

- Bất bình đẳng cao trong phân phối thu nhập quốc dân:

Mặc dù tất cả các quốc gia trên thế giới đều có một mức

độ bất bình đẳng nhất định, song khoảng cách giữa giàu

và nghèo thường là lớn hơn ở các nước đang phát triển

so với các nước phát triển Thí dụ, nếu so sánh tỷ trọng

trong thu nhập quốc dân của 40% số dân nghèo nhất

của một nước với tỷ trọng thu nhập của 20% số dân giàu

nhất và coi đó như một cách tính bất bình đẳng, thì có

thể thấy rằng trong những năm 60, một số nước như

Braxin, Êcuađo, Côlômbia, Pêru, Mêhicô, Vênêxuêla,

Kênia, Xiêra Lêon, Philipin và Malaixia có độ bất bình

đẳng rõ rệt trong thu nhập Các nước khác như Ấn Độ,

Tazania, Chilê, Đan Mạch và New Zealand thì có độ bất

Trang 4

bình đẳng ở mức trung bình; Còn Đài Loan có mức độ bất

bình đẳng trong phân phối thu nhập tương đối thấp hơn

- Mức độ nghèo đói cao:

Quy mô và mức độ nghèo đói ở bất kỳ nước nào cũng

đều phụ thuộc vào hai yếu tố: một là, thu nhập quốc dân

trung bình; hai là, mức độ bất bình đẳng trong việc phân

phối thu nhập

- Tình trạng suy dinh dưỡng cao, bệnh tật cao và sức

khỏe kém:

Ngoài thu nhập thấp, nhiều người ở các nước đang phát

triển còn thường xuyên phải chống lại nạn suy dinh

dưỡng, bệnh tật và sức khỏe kém Trong số 42 nước

“kém phát triển nhất” của thế giới, thì tuổi thọ trung

bình năm 1988 là vào khoảng 49 tuổi so 74 tuổi ở các

nước công nghiệp phát triển Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh

Trang 5

trung bình vào khoảng 118/1000 trẻ em ở các nước kém

phát triển nhất so với khoảng 73/1000 ở các nước đang

phát triển khác và 12/1000 ở các nước phát triển

- Dịch vụ y tế khan hiếm và chất lượng thấp:

Các số liệu mới đây cho thấy rằng vào đầu những năm

90, trung bình chỉ có 9,4 bác sĩ trong số 100.000 dân ở

các nước đang phát triển so với con số 161 bác sĩ ở các

nước phát triển Tương tự như vậy, tỷ lệ giường bệnh so

với số dân cũng rất chênh lệch giữa hai nhóm nước nói

trên Hơn nữa, hầu hết các cơ sở y tế ở các nước đang

phát triển lại tập trung ở các khu vực thành thị, nơi chỉ

có 25% số dân sinh sống Ở Ấn Độ, có đến 80% số bác sĩ

hành nghề ở thành thị, nơi chỉ có 20% số dân sinh sống

Ở Kênia, tỷ lệ dân số trên số bác sĩ là 672/1 ở thủ đô

Trang 6

Nairôbi và 20.000/1 ở vùng nông thôn, nơi có 85% số

dân sinh sống

- Tỷ lệ người biết chữ thấp:

Tất cả các nước đang phát triển đều cố gắng đảm bảo

giáo dục ở cấp tiểu học cho nhân dân Ở hấu hết các

nước này, giáo dục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân

sách của chính phủ Tuy nhiên, mặc dù có một số bước

tiến đáng kể về số lượng tuyển sinh, nhưng tỷ lệ biết chữ

vẫn rất thấp so với các nước phát triển Thí dụ, trong số

31 nước kém phát triển nhất, thì tỷ lệ người biết chữ chỉ

chiếm có 34% dân số Tỷ lệ này đối với các nước đang

phát triển là khoảng 65% so với khoảng 99% đối với các

nước phát triển (52.126) Cho đến năm 1999, khoảng

20% trẻ em không được học hết tiểu học

Trang 7

2 Năng suất lao động thấp

- Nguyên nhân là ở chỗ các nước này không có hoặc

thiếu trầm trọng các đầu vào bổ sung như vốn vật

chất hoặc đội ngũ quản lý kinh nghiệm Để tăng năng

suất, cần phải huy động các khoản tiết kiệm trong

nước cũng như nguồn tài chính của nước ngoài đầu tư

Đồng thời, cần thay đổi về thể chế cũng là cần thiết

để nâng cao tiềm năng của việc đầu tư mới này về

nhân lực và vật lực

- Ngoài ra, còn phải kể đến khả năng về thể lực cũng

như tinh thần của cá nhân trong việc hoàn thành công

vịêc của mình Chính thông qua tình trạng sức khỏe

của một cá nhân mà những mối liên hệ chặt chẽ giữa

mức thu nhập thấp và năng suất thấp ở các nước

đang phát triển được phản ánh rõ nét nhất Do vậy, có

thể nói rằng mức sống thấp và năng suất thấp đang tự

Trang 8

làm trầm trọng thêm những vấn đề kinh tế và xã hội ở

các nước đang phát triển, song song đó là những biểu

hiện chủ yếu của tình trạng kém phát triển của họ

3 Tốc độ tăng dân số cao và gánh nặng người ăn theo: Toàn bộ gánh nặng ăn theo (tức là cả già lẫn trẻ) ở các

nước phát triển chỉ chiếm khoảng 1/3 dân số, so với một

nửa số dân ở các nước đang phát triển Hơn nữa, ở

những nước đang phát triển, trên 90% số người ăn theo

là trẻ em, trong khi đó ở các nước giàu có là 66%

4 Mức thất nghiệp và bán thất nghiệp cao và ngày càng

tăng

Ở các nước đang phát triển là việc sử dụng lao động

chưa hết hoặc chưa có hiệu quả so với các nước phát

triển được biểu hiện dưới hai hình thức bán thất nghiệp

và thất nghiệp công khai

5 Nền kinh tế phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và xuất

khẩu hàng sơ chế

Trang 9

Phần lớn dân số ở các nước đang phát triển đều sống và

làm việc tại các vùng nông thôn Do sản phẩm xuất khẩu

là hàng sơ chế, nên các nước đang phát triển ngày một

phụ thuộc nhiều hơn vào các nước phát triển trong việc

tiêu thụ sản phẩm của họ, trong khi tỷ trọng chung của

họ trong thương mại thế giới thì lại giảm đi

II Đặc điểm kinh tế - xã hội Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc địa, nửa

thuộc địa đã giành được độc lập về chính trị, thống

nhất đất nước sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa

Xuân năm 1975 Đang trên đà tiến hành Công nghiệp

hóa – Hiện đại hóa Là một trong những nước đang

phát triển thuộc khu vực Đông Nam Á có đặc điểm

kinh tế - xã hội sau:

- Thu nhập thấp:

Công cuộc “đổi mới” kinh tế và chính trị từ năm 1986

đã thúc đẩy phát triển kinh tế đưa Việt Nam từ nhóm

Trang 10

quốc gia nghèo lên trung bình nghèo Thu nhập bình

quân đầu người của người dân Việt Nam hiện nay

(năm 2019 khoảng 2800 USD) chỉ bằng 40% mức

trung bình toàn cầu, 20% mức trung bình của ASEAN

và 5% mức trung bình của các nên kinh tế có thu nhập

cao

Thành tựu về xóa đói giảm nghèo trong những năm

qua là không thể phủ nhận Song, tỷ lệ hộ nghèo ở các

vùng sâu, vùng xa vẫn cao gấp 4-5 lần so với mức

bình quân cả nước Nhiều nơi vẫn tỷ lệ nghèo vẫn còn

trên 50%; tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm

trên 58,53 tổng số hộ nghèo trong cả nước (cuối năm

2019)

Theo dự báo của Bộ y tế, ngành Y tế ở Việt Nam hiện

nay có mức tăng trưởng khá cao với tốc độ từ 18 –

20% trong giai đoạn 2016 – 2020 Mặc dù vậy, thì các

Trang 11

thiết bị chủ yếu nhập khẩu Có rất ít thiết bị được sản

xuất trong nước mà đáp ứng đủ theo các tiêu chuẩn

quốc tế

Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong xóa mù chữ

và phổ cập giáo dục Hơn 97% người Việt biết chữ Tỉ

lệ người biết chữ trong độ tuổi 15-60 đạt 97,85%,

trong đó nhóm tuổi 15-35 đạt 99,3%, tính đến năm

2020

- Năng suất lao động của Việt Nam được cải thiện rõ

nét, bình quân giai đoạn 2016-2020 tăng 5,8%/năm

Tuy nhiên, mức tăng này được đánh giá chưa đủ

nhanh để có thể thu hẹp khoảng cách với quốc gia

khác Báo cáo 2020 của Tổ chức Năng suất châu Á

(APO) cho thấy, năng suất lao động Việt Nam tụt hậu

Trang 12

so với Nhật Bản 60 năm, Malaysia 40 năm và Thái Lan

10 năm

- Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 3 Đông Nam Á,

hiện chiếm 1,25% dân số thế giới Phân bố dân cư

không đồng đều, mật độ dân số cao 317 người/ km2

(2021)

- Mức thất nghiệp và bán thất nghiệp thấp: cao nhất

thuộc nhóm lao động có trình độ cao đẳng (3,19%),

tiếp đến là đaị học (2,61%)…

- Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, có đến 70%

dân số làm trong lĩnh vực này Cơ cấu lao động theo

Trang 13

nghề: Nông nghiệp (44,3%), Công nghiệp (22,9%),

Dịch vụ (32,8%) ước tính năm 2016

- Việt Nam là một trong những cường quốc xuất khẩu

nông sản của thế giới với mức độ tăng trưởng hằng

năm 5-7% tính từ 2015 đến nay Thế nhưng phần lớn

nông sản xuất đi ở dạng thô hoặc được sơ chế có giá

trị gia tăng thấp

Ngày đăng: 27/01/2022, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w