Ở Brazil số liệu trong những năm vừa qua cho thấy trong một số lô thí nghiệm 6 – 8 tuổi, rừng trồng bạch đàn đã cho tăng trưởng 70 – 90 m3/ha/năm (Eldridge, 1993) [46]. Công ty Aracruz ở Brazil đã sử dụng cây lai E. grandis x E. urophylla và nhân giống bằng hom, rừng trồng thực nghiệm 5,5 tuổi đạt bình quân 70 m3/ha/năm (Turnbull, 1999) [107] và một số công thức thí nghiệm đạt trên 100 m3/ha/năm (Eldridge, 1993) [46]. Bên cạnh thể tích thân cây các tính trạng khác cũng cho tăng thu đáng kể. Chẳng hạn khối lượng riêng của gỗ tăng từ 480 lên 490 kg/m3, năng suất bột giấy từ 47% tăng lên 49%, hàm lượng vỏ giảm từ 18% xuống còn 12% (Turnbull, 1999) [107].
Vào giữa thập niên 90, Công ty Aracruz đã có 133.000 ha rừng trồng bạch đàn, trong đó phần lớn diện tích trồng cây hom bạch đàn lai (Turnbull, 1999) [107].
Ở Congo các nghiên cứu của Trung tâm kỹ thuật lâm nghiệp nhiệt đới (CTFT) khẳng định tăng trưởng bình quân năm ở tuổi 6 của các lô hạt chưa
được chọn lọc là 25 m3/ha/năm và tăng trưởng của các dòng được chọn lọc là 35 m3/ha/năm (Dẫn từ Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [18]. Từ năm 1997, các giống lai nhân tạo đã được tạo ra và tới nay hàng trăm dòng bắt nguồn được
đưa vào khảo nghiệm dòng vô tính để tuyển chọn dòng tốt nhất phục vụ trồng rừng. Từ cuối những năm 80, Congo đã có 174 kiểu gen ưu việt của tổ hợp lai
E. alba x E. urophylla (Dẫn từ Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [18].
Ở Colombia cũng giống như nhiều nước khác, rừng trồng bạch đàn bắt nguồn từ kết quả khảo nghiệm xuất xứ, sau đó lấy hạt của xuất xứ tốt đem trồng rừng nên có biến động lớn về kích thước và chất lượng cây, là tiềm năng để cải thiện năng suất và chất lượng thông qua chọn giống là rất lớn và có thể thực hiện được. Một chương trình cải thiện giống ngắn hạn đã được đề
xuất và triển khai thực hiện cho một số loài bạch đàn như E. urophylla và E. grandis (Dẫn từ Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [18]. Từ chương trình này, 65 dòng vô tính trong đó có 15 dòng tốt nhất đã được dùng để sản xuất hom cho giai đoạn trước mắt. Do cường độ chọn lọc thấp nên năng suất rừng trồng dự
kiến chỉ tăng khoảng 15%. Chương trình ngắn hạn này bao gồm chọn cây trội với cường độ chọn lọc cao (khoảng 1900 cây chọn 1 cây), khảo nghiệm 460 dòng vô tính với hy vọng chọn được 30 dòng tốt nhất vào nhân hom hàng loạt có năng suất tăng lên thêm 60%, tức là từ 25 m3/ha/năm lên 40 m3/ha/năm trong một thế hệ.
Ở Nam Phi từ năm 1983, một đơn vị trồng rừng của Công ty Mondi đã triển khai chương trình ứng dụng nhân giống hom bạch đàn vào trồng rừng nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng về bột giấy. Các kết quả nghiên cứu đã được sử dụng để tuyển chọn các dòng vô tính năng suất cao để nhân giống hàng loạt. Chương trình đã được bắt đầu bằng việc chọn và nhân hom
các cây trội được tuyển chọn tại chỗ và từ các khảo nghiệm hậu thế, khảo nghiệm cây Bạch đàn lai của Viện Nghiên cứu rừng Nam Phi, sau đó xây dựng các khảo nghiệm dòng vô tính nhằm chọn được các dòng vô tính có triển vọng nhất. Kết quả đã được Quaile (1989) thông báo trên cơ sở các rừng trồng so sánh 30 tháng tuổi. Trong khảo nghiệm thực hiện với 30 dòng vô tính tuyển chọn tại chỗ, tăng trưởng bình quân về thể tích cây con từ hạt (cây đối chứng) là 19,4 m3/ha/năm, trong khi đó có 14 dòng vô tính vượt trội đối chứng và tăng trưởng bình quân năm của dòng tốt nhất đạt khoảng 24,4 m3/ha/năm (Dẫn từ Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [18].
Trong một khảo nghiệm khác gồm 78 dòng vô tính được chọn lọc từ
các khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 của Viện nghiên cứu rừng Nam Phi và các dòng vô tính thế hệ 1 của vùng Mondi, cây con từ hạt (đối chứng) đạt tăng trưởng bình quân năm là 21,9 m3/ha/năm trong khi đó có 50 dòng trong số 78 dòng vô tính của Viện vượt đối chứng, 9 dòng vô tính đạt trên 30 m3/ha/năm và 3 dòng vô tính tốt nhất đạt tăng trưởng bình quân năm là 40 m3/ha/năm (Dẫn từ Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [18].