Quản lý hoạt động dạy của giáo viên

Một phần của tài liệu Biện pháp quản lý hoạt động dạy học trường THPT Nam Yên Thành - huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An (Trang 38)

- Các hoạt động khác theo sự phân công của hiệu trưởng

1.5.1. Quản lý hoạt động dạy của giáo viên

1.5.1.1. Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình

Chương trình dạy học là văn bản pháp luật của Nhà nước do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành, quy định nội dung, phương pháp, hình thức dạy học các môn, thời gian dạy học từng môn nhằm thực hiện yêu cầu, mục tiêu cấp học. Là căn cứ pháp lý để các nhà quản lý tiến hành chỉ đạo, giám sát hoạt động dạy học của các GV.

Về nguyên tắc, chương trình dạy học là pháp lệnh nhà nước, người GV phải thực hiện nghiêm chỉnh, không được tùy tiện thay đổi, thêm bớt hay làm sai lệch chương trình dạy học. Hiện nay chương trình, SGK được tiến hành đổi mới với yêu cầu: Kế thừa và phát triển những ưu điểm của chương trình, SGK giáo dục phổ thông hiện hành, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam và phù hợp với xu thế quốc tế, đồng thời đổi mới toàn diện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh.

Chương trình dạy học là công cụ chủ yếu để nhà nước lãnh đạo và giám sát hoạt động dạy học của nhà trường thông qua cơ quan quản lý giáo dục. Đồng thời nó cũng là căn cứ pháp lý để nhà trường và các giáo viên tiến hành tổ chức công tác giảng dạy thống nhất trong phạm vi toàn quốc, HS tiến hành học tập theo yêu cầu chung.

Giáo viên cần nghiên cứu nắm vững chương trình môn học mà mình phụ trách. Đồng thời cũng tìm hiểu, nghiên cứu chương trình các môn có liên quan để có thể thiết lập mối quan hệ liên môn trong quá trình dạy học. Qua đó giúp HS dễ dàng có bức tranh chung về thế giới và cho HS có quan

điểm phức hợp hệ thống cũng như có tư duy linh hoạt mềm dẻo khi học các môn học.

Hiệu trưởng cũng cần nắm vững và tổ chức cho toàn thể GV nghiên cứu nắm vững nội dung chương trình dạy học của cấp học, của từng môn học và phạm vi kiến thức.

Để quản lý việc thực hiện nội dung chương trình, hiệu trưởng cần chỉ đạo: - Xây dựng thời khóa biểu để điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình dạy học.

- Tổ trưởng chuyên môn thống nhất chủ đề tự chọn nâng cao, chủ đề tự chọn bám sát, thời gian thực hiện sao cho phù hợp với điều kiện của trường.

- Theo dõi hoạt động thực hiện chương trình hàng tuần, hàng tháng thông qua tổ chuyên môn. Đồng thời đưa các biện pháp để giáo viên thực hiện đúng, đủ chương trình.

- Đảm bảo đúng nội dung kiến thức quy định của chương trình từng môn học, không “giảm nhẹ” cũng không “nâng cao”, “mở rộng” hơn so với yêu cầu chương trình.

- Coi trọng tất cả các môn học, bảo đảm phân phối chương trình: số tiết học, số bài học và trình tự thực hiện với những quy định về ôn tập, tổng kết, kiểm tra, thi…

1.5.1.2. Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp

Hiệu trưởng quan tâm đến chất lượng giờ lên lớp thì trước tiên cần quan tâm đến chất lượng việc chuẩn bị bài lên lớp của GV. Sự chuẩn bị bài lên lớp của GV càng chu đáo thì kết quả dạy học càng ít sai sót. Chất lượng giờ lên lớp phụ thuộc rất nhiều vào việc soạn bài, chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ bài giảng. Vì vậy cần phải chỉ đạo sát sao việc soạn bài của GV, nhà trường cần chỉ đạo:

- Tổ chức tuyên truyền vai trò, tầm quan trọng của công tác soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp để họ nhận thức và có thái độ đúng đắn trong việc soạn bài trước khi lên lớp.

- Tổ chức trao đổi, thảo luận với GV về mục đích, yêu cầu, nội dung, chuẩn kiến thức tối thiểu, phương pháp đặc thù của bộ môn. Thông qua tổ chuyên môn, chỉ đạo GV nghiên cứu kỹ chương trình để lựa chọn nội dung, phương pháp phù hợp trong thiết kế bài giảng bộ môn.

- Quy định cụ thể sử dụng sách giáo khoa, sách hướng dẫn dạy học THPT, các thiết bị dạy học phục vụ bài dạy.

- Tổ chức kiểm tra bài soạn của GV thông qua dự giờ hoặc kiểm tra định kỳ. Sau khi kiểm tra, có nhận xét, đánh giá để sửa chữa những sai sót về nội dung và điều chỉnh PPDH phù hợp.

- Đưa việc soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp vào nề nếp dạy học, vào phong trào thi đua xếp loại GV.

1.5.1.3. Quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên

Việc chuẩn bị bài soạn của GV có kết quả hay không được thể hiện qua giờ lên lớp. Giờ lên lớp đóng vai trò quyết định chất lượng dạy học, thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn tại của nhà trường. Qua giờ dạy của GV, sẽ bộc lộ những ưu khuyết điểm về năng lực sư phạm. trình độ chuyên môn của mình.

Để quản lý tốt giờ dạy trên lớp của GV, nhà trường cần:

- Bố trí thời khóa biểu hợp lý, khoa học nhằm đảm bảo các hoạt động sư phạm và nề nếp dạy học của nhà trường cũng như đảm bảo cho việc bố trí dạy thay, dạy bù kịp thời.

- Xây dựng nề nếp dạy học, giờ lên lớp, phối hợp với trực ban hàng ngày để QL nề nếp trong các buổi học.

- Xây dựng và phổ biến cho GV biết các tiêu chí đánh giá, xếp loại giờ dạy (về nội dung, phương pháp, đổi mới PPDH, kết quả giảng dạy) để GV nắm được và quan tâm.

- Xây dựng kế hoạch dự giờ định kỳ, thường xuyên và đột xuất GV. - Chỉ đạo và phối hợp với tổ chuyên môn thường xuyên dự giờ GV định kỳ, đột xuất. Sau khi dự giờ, tổ chức họp rút kinh nghiệm, đánh giá giờ dạy của GV, góp ý cho GV những vấn đề còn hạn chế để GV có hướng điều chỉnh phù hợp, nâng cao chất lượng giờ dạy.

- Tổ chức thao giảng, hội nghị, báo cáo kinh nghiệm giảng dạy.

- Tổ chức các kênh như phát vấn HS, tổ chuyên môn, hộp thư góp ý, điều tra qua phiếu để nắm bắt tình hình giảng dạy của GV.

- Sử dụng các kết quả đánh giá giờ dạy và tiêu chí đánh giá xếp loại GV.

1.5.1.4. Quản lý công tác đổi mới PPDH và đánh giá giờ dạy

PPDH là tổ hợp các cách thức phối hợp hoạt động chung của GV và HS nhằm giúp HS nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. Hiệu quả của hoạt động dạy học cũng phụ thuộc vào việc sử dụng PPDH của GV. Đây được xem là vấn đề nhạy cảm và cũng được đề cập rất nhiều. Tuy nhiên trên thực tế hoạt động dạy học không có phương pháp nào là tối ưu mà yêu cầu GV cần vận dụng và kết hợp để kích thích tính chủ động, tự giác, tích cực, sáng tạo của HS.

Quản lý PPDH là vấn đề cốt lõi của quản lý quá trình dạy học, là đòn bẩy trực tiếp để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học trong nhà trường. Nghị quyết 88 của Quốc hội về đổi mới chương trình, SGK phổ thông có nhấn mạnh: Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập.

Đổi mới PPDH là phải tạo được động lực đổi mới PPDH cho GV, hoạt động đổi mới PPDH chỉ có thể thành công khi GV có động lực hành động và chuyển hóa được ý chí trở thành tình cảm và tinh thần trách nhiệm đối với HS, đối với nghề dạy.

Cần phải có sự hướng dẫn của các cấp quản lý giáo dục về phương hướng và những việc cần làm để đổi mới PPDH, các hướng dẫn phải được thông suốt từ các cơ quan thuộc Bộ GD&ĐT đến các Sở, Phòng GD&ĐT, cán bộ quản lý các trường học và từng giáo viên, không để giáo viên phải “đơn độc” trong đổi mới PPDH.

Hoạt động đổi mới PPDH của giáo viên phải có sự hỗ trợ thường xuyên của đồng nghiệp thông qua dự giờ thăm lớp và cùng rút kinh nghiệm.

Trong qua trình chỉ đạo đổi mới PPDH phải lấy quá trình hoạt động tự giác của bản thân GV và phù hợp với yêu cầu của cơ quan quản lý giáo dục.

Cần tổ chức phong trào thi đua và có chính sách khen thưởng nhằm động viên kịp thời đối với các đơn vị, cá nhân tích cực và đạt hiệu quả trong hoạt động đổi mới PPDH ở các trường, tổ chức nhân rộng các điển hình, cá nhân tiên tiến trong phong trào đổi mới PPDH.

Để thực hiện tốt vấn đề đổi mới PPDH, Hiệu trưởng cần: - Phải phấn đấu làm người đi tiên phong về đổi mới PPDH. - Kiên trì tổ chức hướng dẫn giáo viên thực hiện đổi mới PPDH. - Đảm bảo các điều kiện, phương tiện phục vụ GV đổi mới PPDH.

- Tổ chức hợp lý việc lấy ý kiến của GV và HS về chất lượng giảng dạy của từng GV trong trường.

- Đánh giá sát đúng trình độ, năng lực và sự phù hợp trong PPDH của từng GV trong trường, từ đó, kịp thời động viên khen thưởng những GV thực hiện đổi mới PPDH mang lại hiệu quả.

Việc kiểm tra đánh giá giờ lên lớp của giáo viên dựa vào các quy định, văn bản, Nghị quyết, thông tư v.v… của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở GD& ĐT về công tác thanh tra, kiểm tra.

Đánh giá giờ dạy của giáo viên thông qua hoạt động dự giờ trên lớp theo định kỳ đột xuất. Đây là hoạt động quan trọng giúp người quản lý nắm bắt được chất lượng giờ dạy của GV, từ đó có sự điều phối kịp thời nhằm đảm bảo chất lượng dạy học của nhà trường.

Để đánh giá tốt giờ dạy của giáo viên, hiệu trưởng cần: - Quy định chế độ dự giờ đối với GV.

- Xây dựng các chuẩn đánh giá giờ dạy GV. - Tổ chức các tổ bộ môn dự giờ thường xuyên. - Dự giờ đột xuất các GV.

- Tổ chức các bộ môn họp rút kinh nghiệm, đánh giá sau dự giờ.

- Sử dụng hiệu quả, kết quả đánh giá trong tiêu chí đánh giá thi đua, xếp loại GV.

1.5.1.5. Quản lý việc thực hiện hồ sơ chuyên môn của GV

Hồ sơ chuyên môn của giáo viên là công cụ, phương tiện đắc lực giúp giáo viên thực hiện đầy đủ có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của giáo viên trong giờ lên lớp. Cho nên việc tổ chức và điều khiển quá trình dạy học trên lớp phần lớn phụ thuộc vào giáo án, tư liệu chuyên môn của giáo viên.

Việc quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên cũng giúp người hiệu trưởng quản lý chặt chẽ hơn hoạt động chuyên môn, việc thực hiện quy chế, nề nếp dạy học của đội ngũ giáo viên.

Hồ sơ dạy học của giáo viên bao gồm: kế hoạch giảng dạy bộ môn, giáo án, sổ bài giảng, sổ ghi điểm, sổ dự giờ, sổ chủ nhiệm, sổ tự bồi dưỡng chuyên môn.

Để quản lý tốt việc thực hiện hồ sơ chuyên môn của giáo viên hiệu trưởng cần phải có hướng dẫn, yêu cầu cụ thể cho từng loại hồ sơ, cần quy định nội dung và thống nhất về hình thức, mẫu hồ sơ. Đồng thời phải tổ chức kiểm tra định kỳ và đột xuất để đánh giá chất lượng hồ sơ, kết quả việc thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên.

1.5.1.6. Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá của GV đối với kết quả học tập của HS

“Kiểm tra và đánh giá là hai quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau Kiểm tra là để đánh giá, đánh giá dựa trên cơ sở của kiểm tra” [19, tr.278].

Như vậy, KT và ĐG là hai công việc có thứ tự và đan xen nhau nhằm miêu tả và tập hợp những bằng chứng về kết quả của quá trình giáo dục để đối chiếu với mục tiêu. Trên thực tế, có thể tiến hành thu thập thông tin nhưng không đánh giá. Nhưng để đánh giá được phải tiến hành kiểm tra, thông qua kiểm tra mới có thể đánh giá và đánh giá là kết quả của kiểm tra. Kiểm tra luôn gắn liền với đánh giá, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau.

KT, ĐG là khâu quan trọng của quá trình dạy học nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, thái độ học tập của học sinh, nó vừa đóng vai trò bánh lái, vừa giữ vai trò động lực dạy học, vừa có tác dụng định hướng, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động dạy học và hoạt động QLGD.

Đối với HS, kiểm tra, đánh giá có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng. Qua kết quả kiểm tra, HS tự đánh giá mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng so với yêu cầu của môn học và tự mình ôn tập, củng cố bổ sung, hoàn thiện học vấn bằng phương pháp tự học với hệ thống các thao tác tư duy của chính mình. Do đó KT, ĐG là để hoàn thiện nội dung dạy học nhưng đồng thời cũng là điều kiện để rèn luyện phương pháp và hình thành thái độ học tập tích cực cho HS.

Đối với GV, kết quả KT, ĐG vừa phản ánh thành tích học tập của HS vừa giúp GV tự đánh giá vốn tri thức, trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, nhân cách uy tín của mình trước HS. Trên cơ sở đó, GV có động lực để không ngừng nâng cao và hoàn thiện cả về trình độ học vấn, về nghệ thuật sư phạm và nhân cách người thầy giáo.

Thông qua kết quả KT, ĐG kết quả học tập của HS thu được, đây được xem là biện pháp để đánh giá kết quả đào tạo cả về định lượng và định tính. Đây là cơ sở để xây dựng chiến lược giáo dục cả về mục tiêu, đội ngũ giáo viên, về đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy

học, từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn, chỉ đạo kịp thời hoạt động dạy học trong nhà trường, đảm bảo chất lượng và hiệu quả dạy học.

Để hoạt động KT - ĐG kết quả học tập của HS mang lại hiệu quả và chất lượng thiết thực thì công tác quản lý hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS cần:

- Triển khai nghiêm túc các văn bản quy định về KT, ĐG kết quả học tập của học sinh.

- Thực hiện đổi mới cách đánh giá kết quả học tập.

- Xây dựng ngân hàng đề thi và sử dụng đề thi ở tất cả các môn học trong các kỳ KT, ĐG.

- Tổ chức KT, ĐG bằng nhiều hình thức khác nhau.

1.5.1.7. Quản lý hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV

Hoạt động tự học, tự nghiên cứu và bồi dưỡng kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV là hoạt động rất quan trọng, tác động đến chất lượng bài giảng, chất lượng dạy học, nhất là khâu đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới giáo dục bởi GV có không ngừng nghiên cứu, không ngừng học tập, nắm bắt thông tin và làm chủ công nghệ thì mới có thêm kiến thức và vận dụng tốt vào hoạt động giảng dạy của mình.

Vì vậy, trong công tác quản lý hoạt động của mình, hiệu trưởng cần quan tâm sâu sát hơn đến hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV, nhất là đội ngũ GV trẻ. Họ là những người nắm bắt nhanh nhạy nhất những thành tựu đổi mới để đổi mới PPDH, ứng dụng công nghệ thông tin và sáng tạo trong giáo án điện tử.

Thực tế thì cũng chưa có văn bản chính thức nào của ngành giáo dục nêu lên nhiệm vụ quản lý hoạt động tự học, tự bồi dưỡng cho GV ở trường THPT nhưng cũng có nhiều quy định về quy chế chuyên môn có hàm ý nhiệm vụ tự học, tự bồi dưỡng của GV và xem đó như là công việc có ý nghĩa trong

Một phần của tài liệu Biện pháp quản lý hoạt động dạy học trường THPT Nam Yên Thành - huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An (Trang 38)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(150 trang)
w