3. Ý nghĩa của đề tài
1.7.5. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với người và động vật máu nóng
Nhìn chung các loại thuốc BVTV đều độc với người và động vật máu nóng. Thuốc có thể xâm nhập vào cơ thể người qua nhiều con đường khác nhau như: Tiếp xúc qua da, ăn hoặc hít phải thuốc do trực tiếp hay qua nông sản, môi trường bị ô nhiễm...Mật độ gây độc cho cơ thể người và động vật máu nóng thể hiện ở 2 cấp độ khác nhau:
Các nghiên cứu khoa học đã tìm thấy những bằng chứng về mối liên quan giữa thuốc BVTV với bệnh ung thư não, ung thư vú, ung thư gan, dạ dày, bàng quang, thận. Các hậu quả sinh sản: đẻ non, vô sinh, thai dị dạng, quái thai, ảnh hưởng chất lượng tinh dịch, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn hành vi, tổn thương chức năng miễn dịch và dị ứng, tăng cảm giác da [27]. Đặc biệt là những liên quan của thuốc BVTV với ung thư, bạch cầu cấp ở trẻ em. Liên quan đến một số bệnh như Alheimer, bệnh Parkison, các bệnh ở hệ thống miễn dịch, tạo huyết. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có những con số chính xác về ngộ độc thuốc BVTV trên phạm vi toàn cầu. Theo tổ chức y tế Liên Mỹ ước tính khoảng 3 % người lao động nông nghiệp tiếp xúc với thuốc BVTV bị ngộ độc cấp tính, với khoảng 1,3 tỷ người lao động nông nghiệp trên toàn thế giới có nghĩa là khoảng 39 triệu người có thể bị ngộ độc cấp tính hàng năm .
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1990, mỗi năm có khoảng 25-39 triệu lao động trong ngành nông nghiệp bị nhiễm độc, trong đó 3 triệu ca nhiễm độc nghiêm trọng làm 220.000 ca tử vong liên quan đến thuốc BVTV. Ở các nước đang phát triển chiếm 99 % số trường hợp, cho dù những nước này chỉ tiêu thụ 20 % lượng thuốc BVTV.
Theo Bộ Y tế từ năm 1980 - 1985 chỉ riêng 16 tỉnh phía Bắc đã có 2.211 người bị nhiễm độc nặng do thuốc BVTV, 811 người chết. Năm 1997 tại 10 tỉnh, thành phố cả nước với lượng thuốc BVTV sử dụng mới chỉ là 4.200 tấn nhưng đã có 6.103 người bị nhiễm độc, 240 người chết do nhiễm độc cấp và mạn tính. Nghiên cứu của Vụ Y tế dự phòng (chương trình VTN/OCH/01096.97), tại 4 tỉnh Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Tiền Giang, Cần Thơ trong 4 năm (1994 - 1997) đã có 4.899 người bị nhiễm độc thuốc BVTV, 286 người chết (5,8%).
Các biểu hiện nhiễm độc sau ngày làm việc khá phổ biến: đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, lợm giọng, buồn nôn, chán ăn… Nhiều tác giả đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khoẻ con người.
Nguyễn Duy Thiết điều tra 100 hộ gia đình tại 5 đội xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì Hà Nội thấy 73 % có biểu hiện triệu chứng như nôn nao, khó chịu, choáng váng, nhức đầu, mệt mỏi, buồn nôn, khó ngủ, ngứa và nóng rát các vùng da hở [34].
Cao Thuý Tạo tiến hành một nghiên cứu ngang, mô tả nguy cơ nhiễm độc thuốc BVTV trên người sử dụng tại một số vùng chuyên canh khác nhau. Kết quả cho thấy người sử dụng thuốc BVTV thường có biểu hiện mệt mỏi chóng mặt, tăng tiết nước bọt, mất ngủ. Nồng độ thuốc BVTV/cm2 da sau khi phun gấp 2 lần trước khi phun, 32,4 % đối tượng nghiên cứu có biểu hiện cường phó giao cảm [30].
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà tại huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên (2001) cho thấy những mối liên quan giữa các yếu tố trong bảo quản, sử dụng thuốc BVTV với nguy cơ nhiễm độc. Cụ thể so với nhóm đối chứng nguy cơ nhiễm độc sẽ tăng gấp 3,8 lần nếu dùng cả thuốc BVTV ngoài danh mục, tăng gấp 6,1 lần nếu bảo quản thuốc BVTV không an toàn, tăng gấp 68,4 lần nếu pha thuốc sai hướng dẫn, tăng gấp 1,9 lần nếu dùng nhiều loại thuốc cùng lúc, gấp 47,6 lần nếu phun thuốc vào lúc trời nắng, gấp 30,3 lần nếu khoảng cách giữa 2 lần phun dưới 7 ngày, gấp 9,8 lần nếu không dùng phương tiện bảo vệ cá nhân, gấp 4,3 lần nếu phun thuốc vào lúc hành kinh [12].
Nguyễn Đình Chất nghiên cứu 62 bệnh nhân được chẩn đoán là ngộ độc cấp lân hữu cơ thấy tổng số nhiễm khuẩn là 29/62 (46,78 %) trong đó nhiễm khuẩn phổi phế quản là 23/29 (79,32 %). Ngộ độc càng nặng thì càng dễ bị nhiễm khuẩn, ngộ độc độ I: nhiễm khuẩn 0 %, độ II: 39,29 %, độ III: 62,5 %, độ IV: 80 % [9].
Hà Huy Kỳ và CS nghiên cứu 213 công nhân sang chai, đóng gói thuốc BVTV ở 4 cơ sở sản xuất. Kết quả cho thấy giảm hoạt tính enzym cholinesterase toàn phần chiếm 34,7 %, giảm enzym cholinesterase hồng cầu 33,8 %; enzym cholinesterase huyết tương giảm trên 30 % chiếm 8,9 % [19].
Theo Hà Minh Trung và cs trong nhóm nghiên cứu đề tài cấp nhà nước 1108, cả nước hiện có 11,5 triệu hộ nông nghiệp, số người tiếp xúc nghề nghiệp với thuốc BVTV ít nhất cũng tới 11,5 triệu người. Với tỷ lệ nhiễm độc thuốc BVTV mạn tính là 18,26 % thì số người bị nhiễm độc mạn tính trong cả nước có thể lên tới 2,1 triệu người [35].