Thành tựu khoa bảng của nhân dân huyện Đức Thọ qua các triều đại.

Một phần của tài liệu tiểu luận Bước đầu tìm hiểu truyền thống khoa bảng của nhân dân huyện Đức Thọ ( Hà Tĩnh ) thời kì phong kiến (Trang 32)

triều đại.

2.2.1 Thời Lý - Trần - Hồ ( thế kỉ XI - đầu thế kỉ XV )

* Khái quát tình hình giáo dục thi cử.

Đất nước ta sau hơn 1000 năm bị phong kiến Phương Bắc đô hộ, các vương triều tự chủ đầu tiên được lập nên. Các triều đại Ngô Đinh - Tiền Lê ( 989 – 1009 ) tuy tồn tại ngắn ngủi, nội bộ chia rẽ, ngoại xâm đe doạ, tình hình đất nước chưa đi vào ổn định song đó cú chính sách quan tâm đến giáo dục thi cử, tuyển chọn nhân tài.

Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi lập ra nhà Lý, mở đầu thời kì hưng thịnh của Đại Việt. Sau khi dời đô ra Thăng Long các vua nhà Lý rất quan tâm đến việc học, lúc đầu chỉ dạy ở cỏc chựa, rồi mở rộng ra ngoài dân gian. Nho học được coi trọng.

Năm 1070, vua Lý Thỏnh Tụng cho lập Văn Miếu thờ Thánh sư Đạo Nho, Khổng Phu tử tại kinh đô. “ Tháng 8 định lại mùa thu lập nhà Văn

Miếu tạc tượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối, vẽ hình tượng thất thập nhị hiền bày ở Văn Miếu, bốn mùa tế lễ…”[8;97].

Năm 1075, vua Lý Nhõn Tụng mở khoa thi Nho học đầu tiên gọi là khoa Tam trường, giành cho những người học rộng, thông hiểu kinh sử ( gọi là khoa Minh Kinh) [11;9]. Nhà Lý đã tổ chức được 9 khoa thi học sinh với số người đỗ đạt là 11 người, song vào thời điểm lúc bấy giờ chưa phân loại đỗ đạt cao thấp.

Sang nhà Trần ( 1225 – 1400 ) mặc dù tình hình đất nước chưa ổn định do vó giặc Mụng Nguyờn giày xéo, nhưng các đời vua nhà Trần đó cú chính sách quan tâm thích đáng đến tình hình giáo dục thi cử của đất nước. Vua Trần Thỏi Tụng mở khoa thi Thái học sinh ( 1246 ) lấy đỗ Tam giáp. Quy định Nhất giỏp cú Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). Năm 1305 vua Anh Tông thi Thái học sinh theo lệ mới, thí sinh phải qua tứ trường ( bốn bài thi ) chứ không phải là tam trường như trước, lấy đỗ theo Tam giáp nhưng nhị giáp gọi là Hoàng giáp. Đến khoa thi năm 1374 đời Lê Duệ Tụng, Thỏi học sinh đổi gọi là Tiến sĩ và thi ở điện Đình để lấy Nhất giáp ( Tam khôi ) và Hoàng giáp. Năm 1396, vua Thuận Tông định lại việc thi cử, năm trước thi Hương năm sau thi Hội, ai đỗ thi Hương, năm sau thi Hội, vào thi Đình để xếp loại Tam giáp.

Theo sử sách ghi lại, nhà Trần đã tổ chức được 11 khoa thi trong đó có 1 khoa thi Tam giáo và 10 khoa thi Thái học sinh, số người đỗ đạt còn ghi lại là 48 [24;35].

Nhà Hồ ( 1400 – 1407 ) tiếp tục mở khoa thi Thái học sinh vào năm 1400. Đến năm 1404 Hồ Hán Thương vẫn giữ quy định năm 1396 về nội dung thi đồng thời thêm một kì thi thứ 5 thi viết chữ và làm toán [6;144]. Mặc dù tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng nhà Hồ cũng đó cú những

đóng góp trong sự nghiệp cải cách giáo dục thi cử thời phong kiến. Trong thời gian trị vì, nhà Hồ tổ chức được hai khoa thi: khoa thi Thái học sinh năm Canh Thìn ( 1400 ) lấy đỗ 20 vị, khoa thi Lệ bộ Cử nhân lấy đỗ 170 vị, có hai người Thái học sinh Lý hành [6;145].

* Thành tựu khoa bảng.

Từ thế kỉ XI đến đầu thế kỉ XV, tương ứng với sự trị vì của các triều đại Lý - Trần - Hồ, giáo dục thi cử Hà Tĩnh cũng đạt được những bước khởi sắc. Trong thời kì này Hà Tĩnh có 6 vị Đại khoa thì huyện Đức Thọ chiếm 3 vị Đại khoa đỗ đạt thời Trần.

1. Đào Tiêu.

( Theo “Đại Việt sử kí toàn thư”, bản kỉ - quyển V - một số sách do lầm dạng chữ chép là Đào Thúc )

Người xã Bà Hồ, huyện Chi La, lộ Nghệ An ( cú sỏch chộp ụng là người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn, Thanh Hoá ). Ông đỗ Trạng Nguyên mùa xuân năm Ất Hợi niên hiệu Bảo Phù thứ 3 ( 1275 ) đời Trần Thỏnh Tụn, sử không ghi chép chức quan cũng như thân thế sự nghiệp của ông.

Trước năm 1945, ở làng Trung Xỏ, Yờn Hồ tức Bà Hồ, Bình Hồ đời Trần – Lê, có ngôi đền thờ Đào Trạng nguyên ( vị hiệu là “ Trần triều Trạng

nguyên lịch triều phong Đoạn túc dực bảo trung hưng, gia phong quan ý tôn thần, Đào tướng công ” ). Nay đều không còn, nhưng ở đây cũn cú chi

họ Đào, con cháu Đào Tiêu, và ở nhà thờ chi họ này còn lưu giữ được 3 đạo sắc phong thần cho “ Trần triều Trạng nguyên Đào tướng công ” ( một đạo đề “ Duy Tân tam niờn, bỏt nguyệt, thập nhất nhật”, một đạo đề “ Thành thái thập niên, lục nguyệt sơ nhất nhật ”, một đạo đề “ Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật ” ).

Một phần của tài liệu tiểu luận Bước đầu tìm hiểu truyền thống khoa bảng của nhân dân huyện Đức Thọ ( Hà Tĩnh ) thời kì phong kiến (Trang 32)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(101 trang)
w