Một số kiến nghị về việc xây dựng hệ thống pháp luật (đối với Cơ quan Nhà nước) và hệ thống các quy định hướng dẫn chung (đối với Ngân hàng Công

Một phần của tài liệu Thực tiễn áp dụng biện pháp thế chấp tài sản trong hợp đồng tín dụng tại Chi nhánh Chương Dương- Ngân hàng Công thương VN (Trang 41)

nước) và hệ thống các quy định hướng dẫn chung (đối với Ngân hàng Công Thương) trong việc điều chỉnh quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện biện pháp thế chấp tài sản tại Ngân hàng.

1. Kiến nghị đối với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Trách nhiệm của Chính Phủ (cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) rất quan trọng trong việc lập ra hệ thống văn bản pháp luật làm nền tảng cho hoạt động tín dụng nói chung và cho việc thế chấp tài sản tại ngân hàng nói riêng. Có thể nói chúng ta đã có rất nhiều quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tín dụng nhưng chưa hoàn thiện đầy đủ. Như vấn đề về thế chấp tài sản hình thành trong tương lai đã nói ở mục 1 Chương 3, hệ thống pháp luật còn chưa thống nhất được với nhau dẫn đến khó khăn khi đưa vào áp dụng.

Hiện nay, việc thực hiện các quy định pháp luật về giao kết hợp đồng, giao dịch không chỉ với thế chấp tài sản mà cả cầm cố, chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất… còn có nhiều vướng mắc, gây khó khăn cho người dân…

Thứ nhất, theo khoản 2 Điều 12, Nghị định số 85/2002/NĐ-CP của Chính

phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP về đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng “Đối với tài sản cầm cố, thế chấp là phương tiện vận tải, tàu thuyền đánh bắt thủy, hải sản có giấy chứng nhận đăng ký, tổ chức tín dụng giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký, khách hàng vay khi sử dụng phương tiện được dùng bản sao có chứng nhận của Công chứng Nhà nước và xác nhận của tổ chức tín dụng, nơi nhận cầm cố, thế chấp để lưu hành phương tiện đó trong thời hạn cầm cố, thế chấp. Tổ chức tín dụng chỉ xác nhận vào một bản sao giấy chứng nhận đăng ký phương tiện sau khi đã có chứng nhận của Công chứng Nhà nước.

Nếu tài sản cầm cố, thế chấp là tàu bay, tàu biển tham gia hoạt động trên tuyến quốc tế, tổ chức tín dụng giữ bản sao giấy chứng nhận đăng ký có chứng nhận của Công chứng Nhà nước”. Tuy nhiên, trên thực tế các cơ quan chức năng (cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông…) không chấp nhận việc khách hàng vay (chủ các phương tiện xe cơ giới) được dùng bản sao có chứng nhận của Công chứng Nhà nước và xác nhận của tổ chức tín dụng (hợp đồng) để lưu hành phương tiện mà đòi hỏi phải có bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện. Điều này trái với quy định của Nghị định số 85/2002/NĐ-CP, và các quy định pháp luật về lĩnh vực công chứng, chứng thực, là: bản sao được công chứng, chứng thực có giá trị như bản gốc, do đó đã cản trở việc các chủ phương tiện xe cơ giới thế chấp tài sản của họ để vay vốn sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, việc sử dụng thuật ngữ “Công chứng Nhà nước” theo như NĐ 85 cũng chưa chuẩn xác, vì ngoài công chứng của Phòng công chứng còn có chứng thực của UBND cấp huyện, cấp xã và Văn phòng công chứng.

Thứ hai, theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì từ ngày 1.7.2004, “Hộ

gia đình và cá nhân có hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất có quyền lựa chọn việc công chứng ở Phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND cấp xã nơi có đất. Văn bản công chứng hay chứng thực đều có giá trị pháp lý như nhau”. Nhưng trình độ của cán bộ cấp xã hiện nay chưa thể thực hiện được việc cấp chứng thực tại UBND xã. Cũng chưa có quy định nào về việc cán bộ địa chính hay cán bộ tư pháp - hộ tịch tham mưu việc chứng thực… Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là làm thế nào để quản lý đất đai một cách chặt chẽ, có hiệu quả, tránh trường hợp đương sự vừa công chứng ở Phòng công chứng, Văn phòng công chứng, lại vừa chứng thực ở cấp xã để chuyển nhượng cho nhiều người, thế chấp nhiều lần trên một mảnh đất nhằm thu lợi bất chính. Bởi vì, trong hồ sơ lưu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiện nay Phòng công chứng, Văn phòng công chứng, UBND cấp xã chỉ lưu bản sao chứ không lưu bản gốc, nên rất khó kiểm soát. Mặc dù, có quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm theo Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm, đăng ký quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai, nhưng đến nay một số địa phương vẫn chưa triển khai thực hiện, hoặc thực hiện một cách hình thức. Các cơ quan có thẩm quyền cần có biện pháp để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trên, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, tổ chức trong việc ký kết hợp đồng, giao dịch vay vốn làm ăn, chuyển nhượng đất và bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và hiệu quả công tác quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước.

Vì vậy vấn đề cấp thiết là phải hoàn thiện pháp luật về hoạt động tín dụng nói chung vè thế chấp tài sản nói riêng, cũng như nâng cao trình độ của các cán bộ chuyên trách để đamtr bảo hiệu quả quản lý nhà nước.

Một số kiến nghị cụ thể:

- Hoàn thiện môi trường pháp lý, bảo đảm tính đầy đủ, thống nhất các văn bản pháp luật.

+ Ban hành các văn bản qui định rõ ràng những thông tin nào được phổ biến, những thông tin nào không được phổ biến, Nhà nước nên sớm thành lập tổ chức chuyên cung cấp thông tin, chuyển tải luật lệ, quy định đến các ngân hàng nói riêng và dân cư nói chung. Bên cạnh đó, tăng cường kiểm tra, xử lý thích đáng những tổ chức tín dụng không báo cáo thông tin theo đúng qui định, báo cáo không đầy đủ, không kịp thời và thiếu chính xác cho Trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

+ Thiết kế thủ tục cho vay đơn giản, phù hợp pháp luật hiện hành, đảm bảo mục tiêu an toàn trong kinh doanh, thích ứng với từng nhóm khách hàng, từng loại cho vay... xóa bỏ cơ chế “một cửa, một dấu nhưng nhiều chữ ký” nhằm tiết kiệm thời gian, tránh gây phiền hà cho khách hàng.

+ Hoàn thiện chế độ pháp lý về hợp đồng như là quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các bên; chế độ xử lý vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp.

- Hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực cho phù hợp với thực tế. + Hiện nay có rất nhiều quy định pháp luật về công chứng, chứng thực tuy nhiên chúng lại nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau. Do đó nhiệm vụ cần thiết của cơ quan lập pháp là thống nhất các văn bản đó thành một văn bản chung để thuận tiện cho việc áp dụng.

+ Việc công chứng chứng thực tài sản thế chấp là một khâu quan trọng, chứng nhận sự hợp pháp của tài sản cũng như công nhận sự sở hữu của bên thế chấp, là căn cứ để phát sinh quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp khi dùng tài sản thế chấp để vay vốn của ngân hàng. Tuy nhiên bên cạnh đó cần ngăn ngừa, hạn chế sự thông đồng của các cán bộ nhân viên của cơ quan có thẩm quyền với khách hàng nhằm lừa dối để chiếm đoạt tiền của ngân hàng. Muốn vậy thì Quốc hội cần kiểm tra thường xuyên việc tuân thủ các luật liên quan tới hoạt động ngân hàng để đảm bảo luật được thực thi đúng và nghiêm túc. Cần có những qui định rõ về dấu hiệu của “chỉ thị ngầm”, “can thiệp của chính quyền các cấp” đối với quyết định cấp tín dụng của NHTM, và các điều khoản phạt kèm theo.

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cần có một thời gian lâu dài, phải cải cách trên tất cả các mặt.

2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Công thương Việt Nam.

Một số kiến nghị để hoàn thiện việc tổ chức hoạt động của NHCT:

- NHCTVN cần phải tiếp tục hoàn chỉnh và ban hành các chế độ nghiệp vụ cụ thể, đảm bảo ngắn gọn, chuẩn xác, định rõ được trách nhiệm của từng cán bộ đến trưởng, phó phòng kinh doanh và giám đốc sao cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay và chế độ NHNN quy định.

- Kịp thời đưa ra những văn bản hướng dẫn chi tiết các quyết định của

Một phần của tài liệu Thực tiễn áp dụng biện pháp thế chấp tài sản trong hợp đồng tín dụng tại Chi nhánh Chương Dương- Ngân hàng Công thương VN (Trang 41)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(67 trang)
w