Những khó khăn, hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Một phần của tài liệu Hoàn thiện hệ thống tiền lương tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay (Trang 29)

Nam

Trong điều kiện lạm phát đang tăng cao, diễn biến xấu và tác động mạnh của kinh tế thế giới, các doanh nghiệp vừa nhỏ vốn đã khó khăn càng khó khăn hơn, biểu hiện trên ba mặt: Vốn ít và tiếp cận khó, trong điều kiện thắt chặt tín dụng vốn càng ít nhưng lãi xuất lại cao (đáp ứng vốn giảm 1 mức từ 50% yêu cầu xuống 30%, lãi suất từ 10% lên 21% năm). Lạm phát tăng cao, nguyên liệu, vận tải dịch vụ đều tăng nhanh làm chi phí tăng, giá thành tăng, hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm, lỗ tăng. Lạm phát của các nước cũng như Việt Nam làm cho thu nhập giảm, sức mua kém. Hàng tiêu dùng trong nước tiêu thụ chậm, tồn kho tăng, thị trường thế giới kém sôi động, xuất khẩu một số mặt hàng khó khan vì vậy mà doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam xuất hiện một số khó khăn như sau:

Khó khăn trong việc tiếp cận những nguồn vốn tài chính : Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam nói chung khó có khả năng tiếp cận đến nguồn tín dụng đặc biệt là nguồn vốn chung và dài hạn. Một trong những lý do chủ yếu khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận đến các nguồn vốn là do bản thân doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp, khó xây dựng phương án kinh doanh, chưa tạo được sự tin cậy cần thiết và thiếu các chứng nhận về quyền sử dụng đất. Do đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó khăn trong việc vay vốn. Mặt khác việc xác định giá trị tài sản của các doanh nghiệp cũng thấp hơn nhiều so với giá trị thực của doanh nghiệp.

Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ còn yếu kém: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay phải đối đầu với tình trạng máy móc trang thiết bị cũ, lạc hậu. Do nguồn vốn còn hạn chế khả năng đầu tư vào các lĩnh vực thiết bị

công nghệ quá lớn. Chính điều này đã tác động một phần không nhỏ đến năng suất kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Làm tăng giá thành sản phẩm, chi phí đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật còn cao so với khả năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Trình độ quản lý còn hạn chế, lực lượng lao động thiếu chuyên nghiệp: Lao động Việt Nam nhìn chung có kỹ năng còn thấp, giá lao động rẻ nhưng không ổn định và đang có chiều hướng tăng lên do khả năng cung ứng thị trường còn bấp bênh. Số lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật còn hạn chế, hơn 80% lực lượng lao động không có chuyên môn kỹ thuật thiếu tính chuyên nghiệp. Cơ cấu lao động không hợp lý chất lượng đào tạo còn thấp không phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp. Các chủ doanh nghiệp cũng chỉ có tỷ lệ rất ít được đào tạo bài bản về kiến thức kinh tế và quản trị kinh doanh.

Khả năng tiếp cận thị trường và thông tin còn hạn chế: Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có đủ nguồn lực để tìm hiểu thông tin thị trường và tìm kiếm đối tác, bạn hàng cho mình. Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp vừa và nhỏ của tổ chức Phát triển quốc tế Đan Mạch tại Việt Nam năm 2002, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường sử dụng các kênh như internet, các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu, các đại sứ quán và thương vụ để thu thập thông tin cho doanh nghiệp. Theo kết quả điều tra này có tới 90% các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin thị trường nước ngoài và thị trường xuất khẩu. Nguyên nhân chính là do khả năng cập nhật thông tin kinh doanh, nguồn tài chính và các quan hệ kinh tế còn nhiều mặt hạn chế.

Khó khăn về môi trường kinh doanh: Những khó khăn từ môi trường kinh doanh cũng gây trở ngại cho sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo báo cáo “Đánh giá về môi trường kinh doanh năm 2010” của Ngân hàng thế giới, Việt Nam xếp thứ 93/178 nền kinh tế có mức độ thuận lợi trong môi trường kinh doanh tụt một bậc so với năm 2009. Trong 10 lĩnh vực chúng ta chỉ đạt được ba chỉ tiêu mức khá cao, tăng hơn năm ngoái như đăng kí tài sản (37/181), thực thi hợp đồng (40/181), vay vốn tín dụng (43/181). Trong đó tiêu chí thành lập doanh nghiệp tụt 7 bậc từ 109 xuống 116, đóng thuế 140 xuống 147. Một trong những lý do chính

khiến môi trường kinh doanh Việt Nam bị giảm là do thủ tục hành chính rườm rà, sách nhiễu.

Từ những kết quả trên cho thấy mặc dù môi trường kinh doanh ở Việt Nam được cải thiện song vẫn chưa đồng bộ và thuận tiện hơn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải cố gắng cải thiện môi trường kinh doanh hơn nữa.

Trong điều kiện thực hiện nguyên tắc quản lí của kinh tế thị trường các doanh nghiệp phải tăng cường liên kết - hỗ trợ cộng đồng về vốn - về cung cấp nguyên liệu - tiêu thụ sản phẩm, áp dụng công nghệ, trao đổi kinh nghiệm, tạo nên sức mạnh cộng đồng cùng với vai trò hỗ trợ tích cực từ các hiệp hội ngành nghề. Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam các cấp đang hoạt động mạnh mẽ đều khắp ở các lĩnh vực, các địa bàn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh, phân phối, tiêu thụ, tư vấn pháp luật nhằm hỗ trợ bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của cộng đồng doanh nghiệp.

Đi đôi với việc giải quyết trước mắt, xúc tiến việc tìm phương án cơ cấu lại doanh nghiệp, xem xét lại chiến lược phát triển, danh mục đầu tư, xây dựng hệ thống quản lí, phòng ngừa rủi ro,... nhằm vừa bảo đảm điều kiện cho doanh nghiệp trụ vững, chuẩn bị điều kiện để phát triển khi kinh tế ổn định và kiềm chế lạm phát thành công.

Một phần của tài liệu Hoàn thiện hệ thống tiền lương tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay (Trang 29)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(66 trang)
w