Thức của người dân trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Một phần của tài liệu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Trang 35 - 97)

3.4.6. Phương pháp đánh giá tính bền vững

- Bền vững kinh tế: Cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, được thị trường chấp nhận.

- Bền vững về mặt xã hội: Nâng cao đời sống của nhân dân.

- Bền vững về môi trường: Các loại hình sử dụng đất phải bảo vệ độ màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất, bảo vệ môi trường sinh thái

PHẦN 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của xã Cao Trĩ

4.1.1. Điều kiện tự nhiêncủa xã Cao Trĩ

4.1.1.1. Vị trí địa lý

Xã Cao Trĩ là một xã vùng cao nằm ở phía tây của huyện Ba Bể, tỉnh Băc Kạn, nằm trong vùng đệm của Vườn Quốc Gia Ba Bể. Cách trung tâm huyện lỵ 5km, có tổng diện tích đất tự nhiên 2424,98 ha phân bố ở 8 thôn bản và có vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc giáp xã Nghiên loan, huyện Pác nặm - Phía Đông giáp xã Thượng giáo, huyện Ba Bể - Phía Nam giáp xã Thượng giáo, huyện Ba Bể - Phía Tây giáp Khang ninh, huyện Ba Bể

4.1.1.2. Địa hình, địa mạo.

Cao Trĩ có địa hình đồi núi cao, được chia cắt bởi các dãy núi đá vôi, những núi thấp thoai thoải tạo thành những cánh đồng bậc thang nhỏ hẹp.

Xã có độ cao trung bình từ 400-1200m so với mặt nước biển, dốc từ Đông bắc xuống Tây nam, độ dốc bình quân 250 - 300

Với địa hình địa mạo như vậy ảnh hượng rất lớn đến quá trình sử dụng đất đai. Đất nông nghiệp thường hay bị khô hạn vào đầu vụ xuân và vụ đông, có đến 2/3 diện tích đất trồng lúa thường bị ngập úng vào vụ đông xuân. Do đó cần tập trung nâng cao hệ số sử dụng đất, đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu và chuyển dịch cơ cấu cây trồng cho phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cho người dân

4.1.1.3. Khí hậu, thủy văn.a) Khí hậu. a) Khí hậu.

Theo phân vùng khí hậu, xã Cao Trĩ chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu miền núi phía Bắc. Theo trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Kạn cho thấy các đặc điểm khí hậu thể hiện hư sau:

- Nhiệt độ trung bình năm 21,80C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất 36,50C và nhiệt độ thấp nhất 8,50C.

- Lượng mưa trung bình năm khoản 1500mm-2000mm, phân bố không đồng đều giưa các mùa trong năm.

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa khá lớn nhưng không đều thường tập trung vào các tháng 7, 8, 9 chiếm tới 80-85% lượng mưa cả năm, mưa lớn tập trung thường tạo nên lũ quét gây thiệt hại cho sản xuất, đời sóng và sinh hoạt của người dân.

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

- Độ ẩm không khí trung bình trong năm 84,6% thấp hất 75% vào tháng 12 và cao nhất là 90%.

- Gió có hai loại gió chính: Gió mùa Đông bắc và gió Đông nam.

+ Gió mùa Đông bắc kèm theo khí hậu lạnh làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng vụ Đông xuân thường xuất hiện vào tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau.

+ Gió Đông nam xuất hiện xtừ tháng 4 đến tháng 11 trong năm, khí hậu mát mẻ kèm theo mưa nhiều.

Ngoài ra còn có gió Tây nam thường xuất hiện xen kẽ trong mùa thình hành của gió Đông nam, mỗi đợt kéo dài từ 2-3 ngày, gió Tây nam khô, nóng ẩm, độ không khí thấp nhiều khi xuất hiện sương muối.

b) Thủy văn.

Cao trĩ có con sông chính là sông Năng chảy theo hướng Đông bắc sang Tây nam dài 6,5km, chảy qua các thôn: Phiêng toản, Bản Ngù 1, Bản piềng 1, ngoài ra còn có các con suối nhỏ và khe rạch phân bố khá đều kiện thuận lợi cung cấp nước sản xuất nông, lâm nghiệp và nước sing hoạt cho nhân dân. Do địa hình đồi núi và mưa nhiều tập trung vào các tháng 5-10 làm cho chế độ dòng chảy nhiều khi thay đổi nên còn gây ra hiện tượng xói mòn, sạt lở đất...

Với đặc điểm khí hậu như trên, nhìn chung khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là cây trồng hàng năm. song lũ lụt thường xuyên xảy ra trong mùa mưa bão nên gặp nhiều khó khăn trong việc tưới tiêu, khi ngập úng ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của nhân dân địa phương.

4.1.1.4. Nguồn tài nguyên đất.

+ Đất phù xã sông suối. Đất được hình thành do những sản phẩm xói mòn từ đồi núi đưa xuống loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt lớn, hạt thô, địa hình bậc thang càng xã bờ càng nặng hơn, song tùy thuộc vào đá mẹ mà tính chất đất cũng khác nhau. Bên cạnh đó loại đất này còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của địa hình đá mẹ và độ che phủ thực vật xung quanh. Về thành phần hóa học, tỷ lệ mùn trong đât trung bình, đất có phản ứng chua, chất dinh dưỡng thuộc loại trung bình, tỷ lệ canxi trong đất thấp, lượng sắt, lượng nhôm di động cao.

+ Đất dốc tụ trồng lúa nước. Loại đất này xen kẽ với các loại đất thủy thành khác có ở khắp các địa phương, là sản phẩm xói mòn và đã được khai phá thành các khu ruộng trồng lúa nước. Loại đất này có địa hình rất phức tạp, như những lòng máng to, nho rộng hẹp khhác nhau, phân bố xen kẽ rải rác, tính chất của đất phụ thuộc nhiều vào yếu tố đá mẹ và mật độ che phủ thực vật, cũng như mức độ xói mòn, thành phần cơ gới đất thịt nhẹ, đôi khi

tầng mặt là thịt trung bình, đất có phản ứng chua, thiếu lân, ở các địa hình cao khả năng rửa trôi nhanh làm cho đất càng nghèo dinh dưỡng.

+ Đất Feralit biến đổi do trồng lúa. Phân bố ở khắp các địa phương, đất có thành phần cơ giới và thành phần hóa học tương đối phức tạp. Do thường xuyên bị ngập nước nên đã có hiện tượng gley ở các lớp dưới tầng canh tác, mùn sét và các chất khác bị rửa trôi nhiều, tầng đất chỉ dày khoảng 50cm có khi đá gốc nằm trên tầng đế cày, các chất đạm, mùn tổng số so với đất lúa vào loại khá lân, kali tổng số bình thường, Hiện nay các loại đất này đang được cấy 2 vụ lúa hoặc 1 vụ lúa- màu. Nhưng bị hạn hán do qua trình không chủ động được nước nên thường xuyên bỏ hóa vụ đông xuân.

+ Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên phù xa cổ. Phân bố rải rác ở các ven sông, suối của địa hình vùng núi. Tuy nhiên diện tích không nhiều nhưng loại đất này có giá trị cao cho phát triển nông nghiệp, do đất có địa hình bằng phẳng, độ dốc nhỏ hơn 120 do tác động địa chất trước đây đã nâng các bãi phù sa sông, suối thành những vùng lượn sóng cao hơn hẳn vùng Feralit trầm tích khác. Độ sâu tầng đất trên 1m nhưng lại xuất hiện nhiều cuội sỏi trong tầng phẫu diện, đất tơi xốp, nhưng thảm thực vật quá nghèo ảnh hưởng đến xói mòn đất.

Về thành phần hóa học. đất chua, nghèo lân lượng nhôm di động trong đất cao.

+ Đất Feralit phát triển trên phiến thạch sét.

- Đất Feralit vàng nhạt trên phiến thạch sét ở độ cao nhỏ hơn 200m. - Đất Feralit mùn vàng đỏ trên phiến thạch ở độ cao 200-700m.

Do đá mẹ là phiến thạch sét chứa tỷ lệ cao nên cả hai loại đất này có thành phần cơ giới. Đất phân bố khá tập trung, tầng đất dày hay mỏng và tỷ lệ mùn trong đất phụ thuộc mức độ che phủ của cây rừng, ở những vùng còn nhiều rừng phần lớn đất có tầng dày và tỷ lệ mùn khá. Ngược lại ở những vùng kiệt rừng phần lớn đất tầng mỏng tỷ lệ mùn thấp.

4.1.1.5. Nguồn tài nguyên nước.

- Nguồn nước mặt: Tập trung chủ yếu vào một số con sông, suối, đập nhỏ trên địa bàn xã thuận lợi cho việc tưới tiêu sản xuất nông nghiệp.

- Nguồn nước ngầm: Hiện nay chưa đủ điều kiện điều tra kỹ để đánh giá về trữ lượng nước, nhưng trên thực tế cho thấy mức nước ngầm nằm ở độ sâu khoảng 20-30m chất lước nước khá tốt có thể khai thác dùng cho sinh hoạt của người dân.

Nước mưa: Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1500-2000m đây là nguồn nước rất lớn bổ sung cho nguồn nước mặt, nước ngầm đồng thời cung cấp trực tiếp cho sinh hoạt và sản xuất nông, lâm nghiệp.

Nhìn chung nguồn nước trong xã có trữ lượng nước khá nhiều, chất lượng tương đối tốt đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Tuy nhiên do đặc điểm địa hình bị chia cắt, lượng mưa trong năm phân bố không đồng đều nên trong sản xuất nông nghiệp còn gặp một số khó khăn. Vì vậy trong tương lai cần phải khảo sát về trữ lượng nước, có kế hoạch khai thác sử dụng nước hợp lý, kết hợp với việc khái thác bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn để khắc phục tình trạng thiếu nước trong mùa khô.

4.1.1.6. Nguồn tài nguyên rừng.

Rừng hiện nay dần dần được khôi phục trở lại nhờ có chính sách của Nhà nước nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Tổng diện tích đất rừng hiện nay có 1964,65 ha chiếm 81% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó diện tích rừng sản xuất 1118,58 ha, rừng phòng hộ 355,86 ha, rừng đặc dụng 490,21 ha. Thành phần là rừng non mới được tái sinh, rừng hỗn giao tre nứa và một số diện tích rừng nghèo mới được khoanh nuôi tái sinh trong thời gian ngắn. Ngoài ra diện tích rừng trồng cũng phát triển khá tốt với cây chính là mỡ, keo, thông và cây bản địa. Trong tương lai cần chú trọng đầu tư vào trồng rừng tăng thêm diện tích che phủ tạo cảnh quan môi trường xung quanh.

4.1.1.7. Nguồn tài nguyên khoáng sản.

Trên địa bàn xã CaoTrĩ không có tài nguyên khoáng sản quý hiếm, tuy nhiên vẫn có tài nguyên như cát sỏi, đá nhân dân đang tận dụng khai thác làm vật liệu xây dựng cho nhu cầu của địa phương và kinh doanh thành phẩm.

4.1.1.8. Nguồn tài nguyên nhân văn.

Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2013 dân số của xã có 2003 nhân khẩu, có 451 hộ, phân bố ở 8 thôn, bản gồm 4 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong đó dân tộc kinh chiếm 1,9%, dân tộc Tày chiếm 53,85%, dân tộc Nùng

chiếm 44,15%, dân tộc Dao chiếm 0,1%. Xã có chiếm 98% là dân tộc ít người nên phong tục tập quán tương đối đa dạng.

4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Cao Trĩ

4.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế.

Những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, nền kinh tế của xã đã có những chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng ở mức khá. Ở một số thôn đã có nhiều mô hình sản xuất giỏi trên các lĩnh vực nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên đến nay theo tiêu chí mới số hộ nghèo vẫn còn 34,45%. Còn lại là số hộ có đời sống trung bình khá.

Với phương châm trong thời gian tới phát triển đa dạng hóa các ngành nghề, chú trọng đến thương mại dịch vụ đáp ứng các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng đưa tốc độ tăng trưởng ở mức khá hơn.

4.1.2.2.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Cơ cấu kinh tế đã có sự dịch chuyển đúng hướng, tỷ trọng các ngành thương mại dịch vụ và xây dựng cơ bản có sự tăng trưởng ổn định tuy nhiên còn ở mức thấp, nông, lâm nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo và chiếm đến trên 90% tổng thu nhập của xã.

a) Ngành nông,- lâm nghiệp. * Ngành trồng trọt.

Trồng trọt là ngành sản xuất chính của xã với điều kiện tự nhiên, đất đai và lao động thuận lợi cho việc phát triển ngành trồng trọt. Trong những năm gần đây xã đã giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình yên tâm sản xuất và khai thác tốt tiềm năng của đất. Lúa là cây trồng chính, năng suất lúa hàng năm đạt 50-55tạ/ha, với sự chuyển mình của nền kinh tế thị trường, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cao, cùng với sự chỉ đạo sát sao của UBND xã tạo ra sự phát triển khá nhanh trong sản xuất nông, lâm nghiệp.

* Ngành chăn nuôi.

Hiện tại ở địa phương ngành chăn nuôi dưới hình thức tự cung, tự cấp về sức kéo và thực phẩm chưa phát thành hàng hóa. Tổng số đàn trâu có 735 con, đàn bò có 203 con, đàn lợn có 1265 con, đàn dê có 197 con, đàn gia cầm có 12632 con. Đây là nguồn thu nhập rất lớn về kinh tế của các hộ gia đình cũng như việc tận dụng phân để trồng trọt. Bên cạnh đó công tác thú y, giống vẫn còn hạn chế làm cho đàn gia súc, gia cầm phát triển không ổn định. Để

ngành chăn nuôi phát triển mạnh cần chú trọng tới giống, kỹ thuật nuôi, phòng chống bệnh tật và thị trường tiêu thụ.

* Ngành lâm nghiệp.

Do đặc điểm là một xã miền núi cho nên quỹ đất chủ yếu là dành cho phát triển nông, lâm nghiệp. Những năm gần đây thực hiện một số dự án về đầu tư phát triển lâm nghiệp như dụ án 661, 147, 30a... nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc và tăng thu nhập cho người dân.

b) Ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

Hiện nay tuy có nhưng phát triển rất chậm chủ yếu là để tự phục vụ. Trong thời gian tới cần chú trọng phát triển mạng lưới giao thông để thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa dần dần phát triển sánh vai cùng với các xã bạn.

4.1.2.3. Thực trạng về kết cấu hạ tầng.

Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, trong những năm qua cơ sở hạ tầng của xã không ngừng được thay đổi. Việc nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới các công trình văn hoá phúc lợi công cộng, công trình dân sinh đã làm thay đổi bộ mặt của xã.

a. Xây dựng cơ bản.

Đất để xây dựng cơ bản của xã bao gồm các công trình như: Trụ Ủy ban nhân dân xã, Điểm bưu điện văn hóa xã, Trạm y tế, Trường học... tuy nhiên các công trình này đã được xây dựng nhà cấp 4 nhưng đã xuống cấp không đáp ứng được nhu cầu nhiệm vụ hiện nay nhất là Trụ sở làm việc của cán bộ còn chật hẹp làm việc chung phòng. Vì vậy trong tương lai phải xắp xếp bố trí, cần đầu tư nâng cấp một số công trình đặc biệt xây dựng Trụ sở UBND xã, Trường THCS, Nhà văn hóa xã...

b. Giao thông.

Nhìn chung hệ thống giao thông của xã đang dần bước được cải tạo nâng cấp các tục đường chính. Tuy nhiên hệ thống giao thông liên thôn cũng rất nhỏ hẹp, đi lại gặp nhiều khó khăn, để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế- xã hội thì giao thông đóng góp một vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy chủ trương của xã từ nay đến năm 2015 cần quan tâm đầu tư, mở rộng nâng cấp hệ thống giao thông nông thôn đảm bảo phục vụ tốt nhất nhu cầu đi lại, sản xuất của nhân dân đáp ứng mục tiêu xây dựng nông thôn mới.

c. Thủy lợi

Hệ thống thủy lới của xã mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu tưới tiêu, nguồn nước cho sản xuất của nhân dân phần lớn nhờ vào nước mưa, phần còn lại là các đập chắn nước do vậy vẫn chưa đủ nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp. Vì vậy trong nững năm tới cần mở rộng đầu tư các tuyến kênh mới, xây dựng thêm đập, đặt các trạm bơm mới có thể đủ nước phục vụ tưới tiêu cho sản xuất, có như vậy trong những năm tới xã Cao Trĩ mới chuyển dịch được cơ cấu cây trồng, nâng cao hệ số sử dụng đất tốt hơn so với hiện nay.

d. Năng lượng.

Cho đến nay hệ thống điện lưới quốc gia đã được phủ trên địa bàn xã

Một phần của tài liệu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Trang 35 - 97)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(97 trang)
w