Phân ố các nhóm sinh thái cá theo nguồn gốc

Một phần của tài liệu Khu hệ cá nội địa vùng thừa thiên huế (Trang 133 - 136)

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

17. Loài Glyptothorax laoensis Fowler, 1934

3.4. ĐA DẠNG SINH THÁI KHU HỆ CÁ NỘI ĐỊA THỪA THIÊN HUẾ

3.4.2. Phân ố các nhóm sinh thái cá theo nguồn gốc

Cá phân bố ở các thủy vực nội địa bao gồm hai nhóm: cá nước ngọt và cá chịu đƣợc nồng độ muối cao hơn. Thành phần loài cá tại các khu vực cửa sông và đầm phá (nước lợ) chủ yếu là các loài cá có nguồn gốc biển và một phần ít các loài cá có nguồn gốc nước ngọt. Đặc điểm nổi bật trong thành phần loài cá ở khu hệ cá nội địa Thừa Thiên Huế gồm có 3 nhóm cá: nước ngọt, cá nước lợ (cá cửa sông chính thức) và nhóm cá biển di nhập. Do các thủy vực ở Thừa Thiên Huế nằm trên 3 dạng địa hình miền núi, đồng bằng và ven biển. Khu vực thượng lưu là nhóm cá nước ngọt mà đặc trưng chủ yếu là các loài cá khe suối; khu vực đồng bằng bắt đầu có sự giao lưu giữa cá nước ngọt và nước mặn di cư (nhóm cá biển). Ở vùng đầm phá, cửa sông ven biển là các loài có nguồn gốc biển, số khác có nguồn gốc nước ngọt đã thích nghi với môi trường có nồng độ muối tăng (nước lợ). Ngoài ra, trong thành phần loài còn có nhóm cá di cƣ sông - biển và biển - sông để sinh sản và kiếm mồi theo mùa. Trên cơ sở danh lục thành phần loài thu thập đƣợc, đặc điểm phân bố của các loài cá đƣợc điều tra trong quá trình thu mẫu và đối chiếu với các tài liệu đã công bố, chúng tôi xác định đƣợc số loài cá theo nguồn gốc đƣợc chia làm 04 nhóm (bảng 3.20).

0 50 100 150 200 250

128

95

223

58

123

Thủy vực Số lƣợng

123

Bảng 3.20. Số lƣợng lo i của các nhóm cá theo nguồn gốc trong th nh phần lo i ở khu hệ cá nội địa Thừa Thi n Huế

Stt Nhóm sinh thái cá Số lƣợng Nguồn

1 Cá nước ngọt 161 [9], [25], [26], [27], [106], [109], [111], [134], [135], [143], [172], [178], [180], [184]

2 Cá nước ngọt xâm nhập xuống vùng cửa sông

22 [26], [27], [44], [62], [86], [178], [180], [184]

3 Cá nước lợ (cá cửa sông chính thức)

93 [26], [27], [44], [55], [57], [62], [84], [85], [86], [99], [178], [180], [184]

4 Cá biển 19 [26], [27], [44], [45], [46], [47], [54], [55], [62], [77], [78], [85], [86], [91], [178], [180], [184]

3.4.2.1. Cá nước ngọt

Ở khu hệ cá nội địa Thừa Thiên Huế có 161 (chiếm 59,19 % tổng số loài cá trong KVNC) loài cá nước ngọt xuất hiện thường xuyên trong năm, phân bố ở các vùng có nhiều khe suối với độ cao lớn, biến động nguồn nước do dòng chảy mạnh, điển hình các loài trong giống cá Sỉnh (Onychostoma), giống cá Sao (Poropuntius), giống cá Cháo (Opsariichthys), giống cá Đép (Sewellia), giống cá Chạch suối (Schitura), giống cá Ngựa (Tor), giống cá (Garra), giống cá (Spinibarbus)… Tuy nhiên, nhóm này còn gặp các loài thích ứng với nước chảy chậm ở vùng đồng bằng, nhƣ: cá Chép (Cyprinus carpio), cá Diếc (Carasius auratus), cá Rƣng (Carassioides acuminatus)... Môi trường nước ngọt có những đặc thù về sinh thái, địa lý và quá trình lịch sử hình thành tạo nên những nét đặc trƣng của khu hệ nhƣ: nhiệt độ, độ mặn, nồng độ oxy hòa tan, ánh sáng, tốc độ dòng chảy và sự chuyển động của khối nước… đã phân hóa sự phân bố của các loài cá có nguồn gốc nước ngọt.

3 4 2 2 Cá nước ngọt xâm nh p xuống vùng cửa sông

Trong 161 loài cá nước ngọt có 22 loài (chiếm 8,08 % tổng số loài cá trong KVNC) xâm nhập xuống vùng cửa sông đến độ mặn trên dưới 10 ‰ [86] vào mùa nước lũ lụt sống trong môi trường nước lợ, đại diện điển hình: cá Dầy (Cyprinus centralus), cá Trê đen (Clarias fuscus), cá Chốt (Mystus gulio), cá Bống đen lớn

124

(Eleotris melanosoma), cá Bống trắng (Acanthogobius lactipes)… (bảng 3.1, bảng 3.20 và phụ lục 1).

3.4.2.3. Cá nước lợ (cá cửa sông chính thức)

Vùng cửa sông và đầm phá ven biển là nơi giao lưu giữa hai dòng nước ngọt và mặn. Môi trường sống luôn có sự biến động về các yếu tố sinh thái, nhất là dao động về độ mặn của nước theo thời gian trong năm (theo mùa khí hậu), vào mùa mƣa lũ có sự ngọt hóa, trong mùa khô có sự mặn hóa, sự thay đổi này đã tạo nên nét độc đáo và phong phú về thành phần loài thủy sinh vật trong đó có cá. Nhóm cá nước lợ thích ứng với sự thay đổi nồng độ muối nhanh, liên tục và biên độ dao động độ muối lớn trong khoảng thời gian ngắn và trở thành cƣ dân chính thức của vùng.

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi bắt gặp những loài thích ứng điều kiện thay đổi của các yếu tố môi trường với nồng độ muối biến đổi từ 2 - 32,4 ‰ (từ lợ nhạt đến lợ mặn) [86] và là nhóm chủ yếu cấu tạo nên thành phần loài cá ở vùng cửa sông và đầm phá. Ở nhóm sinh thái này đã xác định đƣợc 93 loài cá (chiếm 34,19 % tổng số loài cá KVNC), đây là nhóm cá chính thức của vùng cửa sông và đầm phá ở Thừa Thiên Huế (bảng 3.1, bảng 3.20 và phụ lục 1). Các loài này phân bố rộng trong vùng cửa sông về mùa khô và mùa mƣa, điển hình: cá Bống thệ (Oxyurichthys tentacularis), cá Bống mấu đai (Stenogobius genivittatus), cá Đối lá (Osteomugil cunnesius), cá Đối mục (Mugil cephalus), cá Móm gai dài (Gerres filamentosus), cá Móm gai ngắn (Gerres limbatus), cá Liệt mõm ngắn (Leiognathus brevirostris), cá Liệt vân lƣng (Secutor ruconius) Đây là nhóm cá có số loài đông nhất và có mặt gần như thường xuyên trong thủy vực, góp phần chủ yếu hình thành nên sản lƣợng khai thác của nghề cá ở Thừa Thiên Huế.

3.4.2.4. Cá biển

Thuộc nhóm cá này gồm những loài cá biển rộng muối và hẹp muối thích nghi với độ mặn thấp 5 ‰, một số loài ở 18 - 25 ‰ di cƣ vào vùng cửa sông và đầm phá (có khi vào sâu trong nội địa) để kiếm mồi hoặc sinh sản (bảng 3.1, bảng 3.20 và phụ lục 1). Nhóm cá nguồn gốc nước mặn có số lượng loài không nhiều, đã ghi nhận đƣợc 19 loài chiếm 6,98 % (bảng 3.20 và phụ lục 1). Một số đại diện nhƣ: cá Mối thường (Saurida tumbil), cá Giò (Rachycentron canadum), cá Bơn vằn (Cynoglossus

125

puncticeps), cá Hồng chấm (Lutjanus johnii), cá Ong căng (Terapon jarbua), cá Đù bạc (Pennahia argentata), cá Nâu (Scatophagus argus), cá Mú mắt (Epinephelus maculatus)

Tuy nhiên, sự phân bố của các loài cá này cũng thay đổi theo mùa, vào mùa mưa do lượng mưa đầu nguồn lớn, lưu lượng nước ngọt đổ về nhiều, các loài cá nước mặn bị đẩy lùi ra biển, ít gặp ở cửa sông và đầm phá. Nhưng vào mùa khô lượng mưa ít, lưu lượng nước ngọt đổ về từ phía thượng nguồn không lớn, ngược lại do ảnh hưởng của thuỷ triều nước mặn có thể xâm nhập sâu làm cho nguồn nước ở các cửa sông và đầm phá bị mặn hoá và lan rộng, các loài cá nước mặn có điều kiện mở rộng vùng phân bố để kiếm ăn. Theo đó vào mùa khô sản lƣợng cá đánh bắt đƣợc tăng lên, tỷ lệ cá gốc biển khá lớn góp phần hình thành nguồn lợi và sản lƣợng khai thác cho cả vùng đầm phá, cửa sông ven biển.

Một phần của tài liệu Khu hệ cá nội địa vùng thừa thiên huế (Trang 133 - 136)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(173 trang)