Quảng Ninh một hệ thống tài nguyên du lịch biển liên hoàn nối liền Vịnh Hạ Long với Vịnh Bái Tử Long, Vườn Quốc gia Bái Tử Long, đảo Cô Tô, Trà Cổ, Vĩnh Thực... đã tạo nên ưu thế về PTDL biển đảo, thích hợp cho việc phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển. Bên cạnh tiềm năng về du lịch biển, tỉnh Quảng Ninh đang sở hữu hơn 600 di tích lịch sử - văn hoá các loại, đây là một trong những thế
mạnh của tỉnh về du lịch văn hoá tâm linh. Những năm gần đây để đưa du ịch tỉnh Quảng Ninh trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP của tỉnh, góp phần thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với mô hình tăng trưởng, chuyển phương thức từ “nâu” sang “xanh” Quảng Ninh đã và đang tập trung đầu tư cơ sở, hạ tầng phục vụ du lịch, xây dựng các SPDL mới, nâng cao chất lượng dịch vụ... Cùng với chiến lược đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng PTNLDL đã được chú trọng và đẩy mạnh với nhiều hình thức phù hợp với từng nhóm ngành nghề, đối tượng. Vì vậy, năm 2017 đã có 9,9 triệu lượt khách đến với tỉnh Quảng Ninh, tăng 18% so với năm 2016 (khách quốc tế đạt 4,3 triệu lượt), với tổng doanh thu đạt được 17.800 tỷ đồng, tăng 34% so với năm 2016, là năm có tăng trưởng cao nhất của du lịch Quảng Ninh từ trước đến nay [63]. Hiện NDL Quảng Ninh có khoảng 28.000 lao động trực tiếp và 40.000 lao động gián tiếp. Trong đó, lao động trực tiếp có trình độ đại học, cao đẳng nghề chiếm 40%; trung cấp nghề 23%; sơ cấp nghề 22%; lao động phổ thông 14%.
Riêng khối khách sạn là 13.000 lao động; lữ hành 1.200 lao động; các khu điểm, điểm du lịch là 5.000 lao động; nhà hàng, điểm mua sắm 4.000 lao động; phương tiện vận chuyển: 5.000 lao động (tàu du lịch 3.000 lao động) [4].
Mục tiêu đến năm 2020, của tỉnh Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch tầm cỡ khu vực và quốc tế; tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ bình quân đạt 11 - 13% vào giai đoạn 2016 - 2020; tỷ trọng dịch vụ trong GRDP đến năm 2020 chiếm 48 - 49%, với tổng KDL đạt 15 - 16 triệu lượt, trong đó có 7 triệu khách quốc tế, tổng doanh thu đạt từ 30 - 40 nghìn tỷ đồng [31]. Ðến năm 2030, sẽ đạt 23 triệu lượt KDL, trong đó có 10 triệu khách quốc tế; doanh thu đạt 130 nghìn tỷ đồng, tạo việc làm cho 120 nghìn lao động trực tiếp. NDL tỉnh Quảng Ninh quyết tâm đến năm 2020 cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp cao, có hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại; SPDL chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu mạnh, mang đậm bản sắc văn hóa miền đất, con người Quảng Ninh; trở thành một trong những địa phương có NDL phát triển hàng đầu cả nước và khu vực Ðông - Nam Á [4].
Để đạt được chiến lược về PTDL của tỉnh là phải tạo ra được NLDL đáp ứng yêu cầu xã hội, thông qua các chương trình ĐTNLDL chất lượng cao, thống nhất
chương trình chung cho các CSĐT với tiêu chí bám sát tiêu chuẩn, kỹ năng nghề, tăng cường kỹ năng thực hành, ngoại ngữ và tin học, thí điểm đào tạo một số ngành nghề bằng ngoại ngữ, đặc biệt Tiếng Anh, Trung, Hàn, Nhật, Pháp... Xây dựng khung CTĐT tiên tiến, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế; tăng cường mối liên hệ gắn bó, hỗ trợ lẫn nhau giữa các CSĐT chuyên NDL. Đồng thời, các cơ quan quản lý nhà nước cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ thu hút, các giải pháp trước mắt và lâu dài cho quá trình ĐTNLDL; liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch với các DNDL; các CSĐT chuyên NDL trong công tác PTNLDL cho tỉnh Quảng Ninh nói riêng, khu vực phía Bắc nói chung đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Tỉnh Quảng Ninh đã dành nguồn lực nhất định từ ngân sách nhà nước và công tác xã hội hoá đào tạo, ký kết với các trường đào tạo chuyên NDL để mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ về du lịch tại các CSĐT trong và ngoài nước. Từ năm 2012 - 2016 tỉnh đã tranh thủ được nguồn vốn của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thông qua dự án của tổ chức EU đã tổ chức được 46 khoá tập huấn về du lịch có trách nhiệm với 3.791 nhân lực từ các DNDL và của 12/14 địa phương trong tỉnh, tham gia tổ chức các khoá đào tạo viên VTOS. Ngoài ra, Sở Du lịch cũng đã phối hợp với trường Đại học Hạ Long, Hiệp hội đào tạo chuyên môn về du lịch Việt Nam ký kết hợp tác PTNLDL chất lượng cao cho Quảng Ninh [86]. Như vậy, PTNLDL tỉnh Quảng Ninh đã và đang được triển khai đồng bộ, có tính chiến lược dài hạn từ việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, thực hiện các biện pháp có tính cấp bách, thường xuyên.
Cho nên, NLDL trên địa bàn tỉnh hiện nay đã có sự chuyển biến rõ rệt, đổi mới, nâng cao về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề và ngoại ngữ, thái độ nghề nghiệp nghiêm túc từng bước đáp ứng yêu cầu hoạt động của các DNDL theo cơ chế thị trường. Hiện tại, có nhiều DNDL ở tỉnh Quảng Ninh đã áp dụng mô hình quản trị nguồn nhân lực tiên tiến, làm tốt các khâu tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân lực đạt hiệu quả cao.
Tuy nhiên, số lượng NLDL qua đào tạo chuyên NDL mới đạt khoảng 42%, trong đó có 13% được đào tạo trình độ đại học trở lên, 22% có trình độ cao đẳng và
trung cấp, 40% có trình độ sơ cấp nghề, chứng chỉ bồi dưỡng ngắn hạn [86]. Thực tế, NLDL gián tiếp có thể đã được đào tạo trong ngành nghề của họ, nhưng kiến thức về du lịch, về kỹ năng giao tiếp, tinh thần, thái độ phục vụ đang hạn chế cần phải được đào tạo, bồi dưỡng liên tục và cao hơn theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả.
2.3.2.2. Kinh nghiệm phát triển nhân lực du lịch ở tỉnh Khánh Hòa
Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ với 385 km bờ biển có vùng biển đảo rộng lớn hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ, khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 26oC, có hơn 300 ngày nắng trong năm. Khánh Hòa cũng là một tỉnh ven biển, có tài nguyên du lịch đa dạng với tài nguyên du lịch nhân văn khá phong phú, với nhiều di tích cấp quốc gia như: Tháp Bà Ponagar, Di tích lưu niệm nhà bác học A.Yersin, nhiều lễ hội đặc sắc như lễ hội Tháp Bà Ponagar, lễ hội cầu ngư, lễ hội Yến sào… và có nhiều điểm tham quan nổi tiếng.
Trước sự phát triển nhanh chóng của KDL đến với tỉnh Khánh Hòa trong thời gian qua làm cho nhu cầu về NLDL của tỉnh Khánh Hòa cũng ngày một tăng lên. Cho nên, tỉnh Khánh Hòa đã tập trung xây dựng chiến lược PTNLDL vào một số lĩnh vực cụ thể như: Phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và nhà trường trong triển khai xây dựng hành lang pháp lý cho công tác đào tạo; Khuyến khích xã hội hóa các CSĐT du lịch; Liên kết giữa các CSĐT với doanh nghiệp; Phối hợp chặt chẽ trong tổ chức quản lý KDDLDL từ đầu vào, đầu ra và giám sát KDDLDL trong suốt quá trình đào tạo và sử dụng nhân lực… Bên cạnh về cung cấp số lượng nhưng CLNLDL cũng được tỉnh và các doanh nghiệp đặt lên hàng đầu cho nên các ngành đã quan tâm đổi mới CTĐT theo hướng tiếp cận tiêu chí nghề du lịch với khu vực và thế giới, gắn kết giữa đào tạo lý thuyết và kỹ năng thực hành nghề, kỹ năng giao tiếp, kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng xử lý công việc chuyên môn. Đồng thời, các DNDL trên địa bàn luôn xác định được vai trò quan trọng trong quá trình tổ chức đào tạo, tham gia quá trình tổ chức đào tạo với các CSĐT để đảm bảo CLNLDL đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay ở tỉnh Khánh Hòa.
Hiện tại, tỉnh khánh Hòa có 14 CSĐT NLDL, trong đó có 4 trường đại học, cao đẳng có khoa du lịch, 9 trường trung cấp và 1 trung tâm đào tào nghề du lịch, cung cấp cho thị trường bình quân một năm khoảng 3.300 sinh viên, học viên chuyên NDL. Tuy nhiên, mỗi năm nhu cầu lao động của NDL tỉnh Khánh Hòa cần khoảng
4.650 lao động đã qua đào tạo nghề du lịch, như vậy cung NLDL mới chỉ đáp ứng được khoảng 68,8% nhu cầu thực tế ở địa phương. Mặc dù, các CSĐT đã quan tâm đầu tư, đổi mới từ nội dung chương trình đến hình thức đào tạo nhưng chất lượng chưa cao nên vẫn còn hiện tượng sinh viên, học viên sau khi tốt nghiệp được tuyển dụng thì kiến thức và kỹ năng nghề chưa đủ điều kiện để đáp ứng nhu cầu thực tế, họ thiếu tự tin khi bắt tay vào công việc cụ thể. Chính vì vậy, các doanh nghiệp sau khi tuyển dụng hầu hết phải đào tạo lại thì mới có thể sử dụng được theo đúng yêu cầu từng vị trí công việc. Theo kết quả khảo sát nhanh của Sở Lao động - Thương binh Xã hội tỉnh Khánh Hòa về nhu cầu đào tạo ngoại ngữ ở 34 doanh nghiệp (có 25 doanh nghiệp lưu trú và 9 doanh nghiệp lữ hành), với tổng số 3.700 lao động, thì có đến 1.700 lao động có nhu cầu đào tạo lại, chiếm tỷ lệ 45,9% [85]
Để giải quyết được vấn đề nêu trên các doanh nghiệp cần tiếp tục tạo điều kiện cho sinh viên thực tập hoặc làm việc bán thời gian, nhằm khắc phục thiếu nhân lực cho doanh nghiệp, vừa giúp sinh viên được tiếp xúc với công việc mà mình được đào tạo. Thường xuyên tạo mối liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, cần có hợp đồng đào tạo theo đặt hàng, đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp. Tỉnh Khánh Hòa tiếp tục xây dựng chính sách hỗ trợ các DNDL thực hiện đòa tạo và tự đào tạo lại cho lao động, đồng thời xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho người có tay nghề cao đang làm việc tại các DNDL, để bổ sung đội ngũ giảng viên cho các CSĐT nghề trong lĩnh vực du lịch hiện có ở tỉnh.