Tham khảo: NANO BẠC - GIẢI PHÁP CHO THẢM HỌA KHÁNG KHÁNG SINH

Một phần của tài liệu So tay bai thuoc don gian hieu qua tap 3 (Trang 98 - 103)

PHẦN II. THAM KHẢO, TẬP LUYỆN, DƯỠNG SINH

5. Tham khảo: NANO BẠC - GIẢI PHÁP CHO THẢM HỌA KHÁNG KHÁNG SINH

(Bài của bạn Võ Hồng Quý) Trong số các kim loại có tác dụng chữa bệnh thì bạc đứng đầu, thứ nhì là đồng và thứ 3 là vàng. Bạc vẫn được đề cập đến trong các tự điển y học, nhiều sách chuyên khảo, hàng trăm website và tham gia chữa bệnh cho con người... với khả năng sát trùng rộng lớn.

Bạc có tác dụng vượt trội tất cả các loại kháng sinh

phức tạp nhất. Bạc có thể tiêu diệt được 650 loại vi khuẩn gây bệnh.

Nghiên cứu gần đây nhất đã chứng minh tác dụng của bạc bảo vệ sức khỏe của con người nói chung và vấn đề xương nói riêng. Các nhà bác học đã chứng minh bạc có khả năng sinh sản và tái sinh ra các tổ chức mô ở những nơi mà nó cần có, nghĩa là vật chất có khả năng tự nó tái sinh ra. Sự khám phá này mở ra cho ta hy vọng khả năng chế phẩm từ bạc sẽ chữa khỏi được bệnh ung thư.

Bạc không tiêu diệt các vi khuẩn nẩy mầm. Bạc tỏ ra ảnh hưởng khá mạnh đến việc tiêu diệt virut.

Bạc, cụ thể là ion Ag+ có ưu thế hơn các loại kháng sinh tổng hợp ở chỗ khả năng diệt trùng và kháng sinh có phổ rộng hơn, đặc biệt là với bạc các vi trùng, vi khuẩn, virut và nhiều loại nấm không bị “nhờn thuốc” như ở các chất kháng sinh.

Bạc keo - Ion Bạc (Silver Gel)

Bạc keo là một dung dịch huyền phù gồm các hạt bạc cực kỳ nhỏ bé, lơ lửng trong nước. Nó được hình thành khi một quá trình điện từ đẩy những hạt bạc nhỏ bé từ một khối bạc hớn hơn vào nước cất. Nhờ kích thước nhỏ, nó đi vào cơ thể qua dạ dày và ruột để dễ dàng thẩm thấu vào máu, từ đó đi đến các bộ phận trong cơ thể.

Bạc keo được dùng để chữa một số bệnh từ nhiễm trùng da đến cảm cúm thông thường. Bác sĩ Beck, ĐH Syracus đã chứng minh bạc keo không những giết được hàng trăm loại vi trùng, vi khuẩn, virus... qua những thí nghiệm in vitro mà còn có tác dụng kích thích sự tăng trưởng các mô bị hư hại nên có tác dụng làm vết thương chóng lành. Theo ông, sự có mặt của ion bạc giúp vào quá trình tái sinh mô và loại bỏ các tế bào già và tế bào ung thư cũng như các bệnh do dị biến tế bào.

BS Bjorn Nordenstrom, Viện Y học Karolinska, Thụy Điển thông báo kết quả ông đã dùng bạc khống chế tế bào ung thư trong nhiều năm. Bác sĩ Richard L.

Davies, Viện trưởng Viện Bạc tại Mỹ có chi nhánh ở 37 nước trên thế giới cho biết tổ chức của ông trong 4 năm qua đã xác định được 87 ứng dụng y học liên quan đến bạc.

Từ những năm 1990, Chính phủ Trung Quốc chủ trương nghiên cứu bạc để làm các chất sát trùng trên phương châm phát huy y học dân tộc và đã phát triển hàng loạt chất sát trùng trên cơ sở bạc keo để xử lý môi trường và nhận thấy không ảnh hưởng gì đến sức khoẻ con người.

Trường phái ủng hộ bạc keo cho rằng, hiệu quả sử dụng do nồng độ của bạc quyết định. Theo họ ung thư chỉ xuất hiện trong trường hợp cơ thể không đủ bạc để diệt những u ác khi vừa xuất hiện nên bạc cần thường xuyên có mặt trong máu ở một mức độ nào đó.

Bạc hỗ trợ cho hệ miễn dịch chống sự xâm nhập của các vi sinh vật gây bệnh.

Thậm chí bạc có thể tiêu diệt HIV trước khi chúng tấn công hệ miễn dịch. Nếu bạc được đưa vào cơ thể - cụ thể 10 ppm bạc trong 5 lít máu, nghĩa là dưới ngưỡng gây độc - thì những thí nghiệm in vitro cho thấy đã đủ để khống chế hoàn toàn HIV. Sẽ không có hiệu ứng phụ nào nếu tuân thủ đúng quy định của việc sử dụng.

Bạc nano

Bạc nano cũng là dung dịch huyền phù những hạt bạc nguyên chất (80%) treo lơ lửng trong nước tinh khiết, song kích thước dưới 2 nanomet, quá nhỏ để được coi là dung dịch keo; số còn lại dưới dạng ion Ag+. Nếu tỉ lệ ion Ag+ trong bạc keo là 5- 10% thì trong dung dịch bạc nano lên tới 20%. Chính điều này làm nên hiệu quả kép của bạc nano so với bạc keo loại tốt nhất.

Tất nhiên, tính kháng khuẩn của bạc nano cao gấp nhiều lần so với bạc keo và từ đó cũng mở rộng được phạm vi sử dụng. Không chỉ làm các dung dịch có tính sát trùng rất cao trên cơ thể, người ta còn tìm ra phương pháp phủ bạc nano lên các dụng cụ y tế để vô trùng tuyệt đối, nhất là các thiết bị hoạt động bên trong cơ thể khi mổ nội soi, tim, phổi, làm khớp xương nhân tạo, những bộ phận giả... Với kích thước nano, 1 gam bạc có thể phủ lên một diện tích có tính kháng khuẩn lên tới hàng trăm mét vuông.

Lịch sử ứng dụng của bạc trong Y học.

Ai Cập cổ đại đã biết dùng các lá bạc mỏng để chữa các vết thương trong đời sống và trong chiến tranh.

Các dụng cụ trong nhà bếp, nhà ăn, ấm, chén, khay bằng bạc từ thế kỷ thứ tư trước công nguyên đã xuất hiện trong các gia đình vua chúa.

Thời kỳ đó trong các gia đình giàu có của châu Âu, cũng có nhiều hướng dẫn nên dùng dụng cụ bạc nấu những thức ăn nào cho tốt. Ở Ai Cập ngày nay vẫn còn tục lệ nướng gà con bọc trong giấy bạc trên bàn tiệc cưới. Người ta cho là nướng gà con trong giấy bạc vừa ngon, vừa bổ và lại có vị lạ thường mà không có gì so sánh nổi.

Trong cơ thể bạc không tạo ra bất kỳ liên kết độc nào. Như vậy keo bạc thực chất là loại thuốc thiên nhiên không hề độc hại để chữa các bệnh. Nó hoàn toàn không độc hại với người, động và thực vật.

Ion bạc trong nước có thể tiêu diệt được 260 loại vi trùng, vi khuẩn, nấm...dù nồng độ chỉ 0,1-0,01mg/l. Vì vậy mùa xuân và mùa thu có thể dùng phòng bệnh cảm, cúm. Còn mùa hè thì chống bệnh đường ruột. Cho nên ta có thể dùng nước có ion bạc như một thứ thuốc chữa và phòng bệnh.

Liệu có thể trở lại thời kỳ dùng bạc làm kháng sinh chủ yếu?

Gần đây, người ta phát hiện việc dùng bạc với tư cách một chất kháng sinh thiên nhiên (CKSTN) có nhiều ưu điểm so với chất kháng sinh tổng hợp (CKSTH).

Thứ nhất, các CKSTH thường có hiệu ứng phụ là diệt cả những enzym và vi sinh vật có ích trong cơ thể nên sau khi dùng chúng thường làm cơ thể thiếu vitamin và có thể gây tiêu chảy. Bạc tránh được hiện tượng này vì bạc diệt vi trùng có hại nhưng không đụng đến các tế bào và vi khuẩn có ích. Bạc còn diệt được nhiều virus mà CKSTH không làm được.

Thứ hai sau một thời gian sử dụng CKDTH, nhiều vi sinh vật gây bệnh sống sót, và qua vài đời, ở chúng xuất hiện tính đề kháng với các loại kháng sinh. Nhưng bạc diệt hoàn toàn mầm bệnh theo một cơ chế khác hẳn, can thiệp vào hoạt động sống của vi trùng gây hại để làm chết chúng nên chúng không thể tự thích nghi để chống lại bạc. Do vậy có người coi như bạc là “một sự phát hiện lại”, bắt đầu quay trở lại

với bạc và nhận thấy bạc có tác dụng khử trùng rất tốt trong các đợt dịch lớn xảy ra với quy mô toàn cầu.

Nhà khoa học Carl Moyer, Chủ nhiệm Khoa Giải phẫu Trường ĐH Washington từ năm 1970 đã có lý khi tiên đoán: “Bạc sẽ là chiến sĩ tốt nhất mà ta có để chống hầu hết các loại vi trùng”.

Ion bạc có tác dụng chữa một số loại bệnh đã được thống kê thực tế như sau:

- Chấn thương.

- Các bệnh nội khoa.

- Các bệnh trong miệng.

- Các bệnh đường hô hấp.

- Các bệnh viêm mũi và họng.

- Bệnh ngoài da.

- Các bệnh nhi.

- Bệnh đái đường.

- Bệnh phụ khoa, tiết niệu.

- Củng cố miễn dịnh.

Ngoài ra ion bạc còn dùng trong mỹ phẩm, nông nghiệp, thực phẩm... Dưới đây là thống kê liều dùng thực tế cho một số dạng bệnh:

1. Bệnh viêm mũi họng và miệng: nồng độ 20000 mcg/l (micro gram), dùng nhỏ mũi 2-3 lần/ngày và súc miệng. Có kết quả tốt cho các bệnh:

- Sau khi cắt amiđan.

- Viêm họng.

- Viêm mũi.

- Chàm và viêm tai ngoài.

- Nha chu viêm, - Viêm lợi.

- Viêm miệng.

2. Các bệnh cúm và nhiễm trùng đường thở: nồng độ ion bạc 20000mcg/l nhỏ mũi 2-3 lần/ngày. Uống 200 - 250 ml, nồng độ 200mg/l mỗi ngày 2 lần cho đến khi khỏi.

3. Viêm mắt nhiễm khuẩn tự nhiên: nồng độ 5000mcg/l, nhỏ mắt 1-2 lần/ngày, dùng rửa mí mắt. Chữa các bệnh:

- Viêm kết mạc.

- Viêm mí mắt.

4. Bệnh viêm phế quản: nồng độ 5000-10000mcg/l - dùng xông hay hít 2 lần/ngày.

- Viêm phế quản cấp và mãn tính, đặc biệt kèm theo nhiều đờm và mủ.

- Viêm phổi.

- Giãn phế quản.

5. Các bệnh dạ dầy và đường ruột: nồng độ 50-100mcg/l, uống 150-200ml 3 lần/ngày.

- Bệnh viêm dạ dầy mãn tính.

- bệnh loét dạ dầy và hành tá tràng.

- Viêm túi mật mãn tính.

- Viêm kết tràng mãn tính.

6. Bệnh ngoài da (da liễu): nồng độ ion bạc 500-1000mcg/l để tắm, rửa đến khi khỏi.

- Các vết thương có mủ.

- Loét do thiếu dinh dưỡng.

- Viêm da có mủ.

- Bỏng.

- Bệnh viêm da thường.

- Bệnh chàm.

- Bệnh vẩy nến.

- Bệnh nấm da.

- Bệnh tăng tiết nhờn.

- Bênh nấm da và móng chân, tay.

7. Bệnh hệ thống nước tiểu và trực tràng: nồng độ ion bạc 500-1000mcg/l dùng rửa và thụt đến khi khỏi.

- Viêm âm đạo.

- Viêm cổ tử cung.

- Viêm bao qui đầu.

- Ngứa hậu môn.

- Bệnh trĩ.

- Nứt hậu môn.

- Viêm trực tràng.

- Viêm quanh hậu môn.

8. Bệnh tĩnh mạch : nồng độ ion bạc 500-1000mcg/ dùng ở dạng rửa lạnh đến khi dứt bệnh.

- Bệnh giãn tĩnh mạch.

- Bệnh nghẽn tĩnh mạch.

9. Bệnh cơ xương khớp: Phải dùng có sự kiểm soát của bác sĩ chuyên môn.

- Bệnh viêm tủy.

- Bệnh thoái hóa khớp.

- Bệnh viêm khớp.

- Bệnh xương - sụn.

- Các bệnh thâm, viêm nhiễm sau phẫu thuật.

Với nồng độ ion bạc đậm đặc 100mg/l dùng liền trong 15 ngày và gấp đôi như thế mà cũng thấy trong máu không có gì thay đổi. Hệ thống tiêu hóa, chức năng gan vẫn bình thường dùng lâu ngày với nồng độ ion bạc 50mg/l.

Một phần của tài liệu So tay bai thuoc don gian hieu qua tap 3 (Trang 98 - 103)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(117 trang)