4.1.Ưu và nhược điểm của phép đo:
4.1.1. Ưu điểm:[6]
- Phép đo phổ hấp thụ nguyên tử có độ nhạy và độ chọn lọc cao. Gần 60 nguyên tố hoá học có thể được xác định bằng phương pháp này với độ nhạy từ 1.10-4 đến 1.10-5 %. Đặc biệt, nếu sử dụng kỹ thuật nguyên tử hoá không ngọn lửa thì có thể đạt đến độ nhạy n.10-7%. Chính vì độ nhạy cao, nên phương pháp phân tích này đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực để xác định lượng vết các kim loại. Đặc biệt là trong phân tích các nguyên tố vi lượng trong các đối tượng mẫu y học, sinh học, nông nghiệp, kiểm tra các hoá chất có độ tinh khiết cao.
- Đồng thời cũng do có độ nhạy cao nên trong nhiều trường hợp không phải làm giàu nguyên tố cần xác định trước khi phân tích. Do đó tốn ít nguyên liệu mẫu, tốn ít thời gian không cần phải dùng nhiều hóa chất tinh khiết cao khi làm giàu mẫu.
Mặt khác cũng tránh được sự nhiễm bẩn mẫu khi xử lí qua các giai đoạn phức tạp.
Đó cũng là một ưu điểm lớn của phép đo phổ hấp thụ nguyên tử.
- Các động tác thực hiện nhẹ nhàng. Các kết quả phân tích lại có thể ghi lại trên băng giấy hay giản đồ để lưu giữ lại sau này. Đồng thời, với các trang thiết bị hiện nay, người ta có thể xác định đồng thời hay liên tiếp nhiều nguyên tố trong một mẫu. Các kết quả phân tích lại rất ổn định, sai số nhỏ.
4.1.2. Nhược điểm:[6]
- Phép đo AAS chỉ cho ta biết thành phần nguyên tố của chất ở trong mẫu mà không chỉ ra trạng thái liên kết của nguyên tố ở trong mẫu. Vì thế nó chỉ là phương pháp phân tích thành phần hoá học của nguyên tố.
- Muốn thực hiện phép đo AAS cần phải có một hệ thống máy AAS tương đối đắt tiền. Do đó nhiều cơ sở không đủ điều kiện xây dựng phòng thí nghiệm và mua sắm máy móc.
- Phép đo có độ nhạy cao nên sự nhiễm bẩn rất có ý nghĩa đối với kết quả phân tích hàm lượng vết. Vì thế môi trường không khí phòng thí nghiệm phải không có bụi, các dụng cụ hoá chất dùng trong phép đo phải có độ tinh khiết cao.
4.2. Đối tượng và phạm vi ứng dụng của phép đo:[1]
Đối tượng chính của phương pháp phân tích theo phổ hấp thụ nguển tử là phân tích lượng nhỏ (lượng vết) các kim loại trong các loại mẫu khác nhau của các chất vô cơ và hữu cơ. Với các trang bị và kỹ thuật hiện nay, bằng phương pháp phân tích này người ta có thể định lượng được hầu hết các kim loại (khoảng 65 nguyên tố) và một số á kim đến giới hạn nồng độ cỡ ppm (microgam) bằng kỹ thuật F-AAS, và đến nồng độ ppb (nanogam) bằng kỹ thuật ETA- AAS với sai số không lớn hơn 15%.
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử đã được sử dụng để xác định các kim loại trong các mẫu quặng, đất, đá, nước khoáng, các mẫu của y học, sinh học, các sản phẩm nông nghiệp, rau quả, thực phẩm, nước uống, các nguyên tố vi lượng trong phân bón, trong thức ăn gia súc,…
ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển, phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử đã trở thành một phương pháp tiêu chuẩn để định lượng nhiều kim loại.
Bên cạnh các kim loại, một vài á kim như Si, P, S, Se, Te cũng được xác định bằng phương pháp phân tích này. Các á kim khác như C, Cl, O, N, không xác định trực tiếp được bằng phương pháp này, vì các vạch phân tích của các á kim này thường nằm ngoài vùng phổ của các máy hấp thụ ngyên tử thông dụng (190 – 900nm). Ví dụ C-165,70; N-134,70; O-130,20; Cl- 134,78; S- 180,70 nm. Do đó muốn phân tích các á kim này cần phải có các bộ đơn sắc đặc biệt. Cho nên đến nay, theo phương pháp phân tích trực tiếp, đối tượng chính của phương pháp phân tích theo phổ hấp thụ nguyên tử vẫn là phân tích lượng nhỏ và lượng vết các kim loại.
Còn các anion, các á kim, các chất hữu cơ không có phổ hấp thụ nguyên tử phải xác định theo cách gián tiếp thông qua một kim loại có phổ hấp thụ nguyên tử nhạy nhờ một phản ứng hóa học trung gian có tính chất định lượng, như phản ứng tạo kết tủa không tan, tạo phức, đẩy kim loại, hay hòa tan kim loại,… giữa kim loại đo phổ và
chất cần phân tích. Đây là một đối tượng mới, phong phú đang được nghiên cứu và phát triển.
Với đối tượng đó, khoảng chục năm trở lại đây phép đo phổ hấp thụ nguyên tử đã và đang được phát triển rất nhanh, không những để phân tích các kim loại mà phương hướng đang phát triển nhất hiện nay là nghiên cứu xác định các chất hữu cơ, như các hợp chất hữu cơ halogen, lưu huỳnh, photpho. Nó cũng đã và đang được sử dụng như là một công cụ phân tích đắc lực cho nhiều ngành khoa học và kinh tế.
Nhiều phòng thí nghiệm về phép đo phổ hấp thụ nguyên tử đã được xây dựng. Các hãng trên thế giới đã chế tạo nhiều máy mới có nhiều tính năng ưu việt. Các viện nghiên cứu khoa học quốc gia, các viện nghiên cứu nông nghiệp, viện địa chất, các ngành địa chất, công nghiệp luyện kim, công nghiệp hóa học, công nghiệp hóa dầu, công nghiệp thực phẩm, ngành y, bệnh viện, các trường đại học đều có các phòng thí nghiệm về phép đo phổ hấp thụ nguyên tử. Có thể nói đến nay, hầu hết các lĩnh vực của khoa học kỹ thuật và kinh tế đều đã sử dụng phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử. Riêng ở nước ta, tuy mới tiếp thu kỹ thuật này trong vòng 5 năm , nhưng đến nay trong toàn quốc chúng ta cũng đã có gần ba chục phòng thí nghiệm và hệ thống máy đo phổ hấp thụ nguyên tử.