Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ 3D vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Một phần của tài liệu đề-cương-nckh-chính-thức-lần-6 (Trang 58 - 62)

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC CÓ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 3D CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐN

2.6. Thực trạng việc tổ chức hoạt động khám phá khoa học có ứng dụng công nghệ 3D cho trẻ 5-6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn TP ĐN

2.6.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ 3D vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

* Đôi nét về đối tượng điều tra:

Trong 50 giáo viên điều tra, 100% số GV đều đang trực tiếp phụ trách các lớp MG 5 – 6 tuổi và đều có trình độ chuyên môn đạt chuẩn theo yêu cầu của bậc học GDMN. Trong đó, có 31 GV có trình độ đại học, 19 GV có trình độ cao đẳng. Đa số GVMN thuộc diện điều tra đều có thâm niên nhiều năm công tác, phụ trách lớp MG 5 – 6 tuổi

Bảng 2.5. Kinh nghiệm, trình độ chuyên môn của GV Kinh nghiệm, trình độ chuyên môn Số lượng

(N=50)

Tỉ lệ %

* Về trình độ chuyên môn - Đại học

- Cao đẳng - Trung cấp

31 19 0

62 38 0

* Về thâm niên giảng dạy tại lớp 5 – 6 tuổi

- Trên 15 năm - Từ 10 – 15 năm - Từ 5 – 10 năm - Dưới 5 năm

8 14 21 7

16 28 42 14

Kết quả khảo sát trên cho thấy 100% số GV được khảo sát ở trên đều có trình độ đạt chuẩn GVMN (cao đẳng) trở lên. Không chỉ vậy, bên cạnh các cô giáo trẻ vẫn có rất nhiều GV (16%) có nhiều kinh nghiệm lâu năm. Có 28% số GV chủ nhiệm các lớp được điều tra có thâm niên dạy ở độ tuổi này từ 10 đến 15 năm và 42% số GV có thâm niên từ 5 – 10 năm dạy lớp 5 – 6 tuổi. Đây vừa là điều kiện thuận lợi, vừa là khó khăn cho việc tổ chức hoạt động khám phá khoa học có ứng dụng công nghệ 3D. Thuận lợi là vì những giáo viên này vốn có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm – sinh lý trẻ trong độ tuổi 5 – 6 tuổi cũng như khả năng xử lý tình huống sư phạm tương đối tốt, khéo léo. Tuy nhiên, nếu như GV không sáng tạo, thiết kế ra các bài giảng kết hợp hiệu ứng 3D sinh động, hấp dẫn thì việc tiếp thu kiến thức khoa học về thế giới xung quanh trẻ sẽ mang tính thụ động, rập khuôn, những GV ấy sẽ nặng nề về dạy trẻ các kiến thức khám phá khoa học theo kiểu truyền thống của chương trình cải cách, nghĩa là dạy trẻ tiếp nhận kiến thức một chiều từ cô đến trẻ, ít chú ý đến việc phát triển sự hứng thú nhận thức và tư duy sáng tạo cho trẻ.

Kết quả thăm dò 50 giáo viên khối 5-6 tuổi cho thấy có rất nhiều ý kiến khác nhau về nhận thức cũng như ý nghĩa của việc ứng dụng công nghệ 3D vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo.

2.6.1.1. Nhận thức của giáo viên mầm non về mức độ hiểu biết công nghệ 3D

Bảng 2.6. Bảng tỷ lệ phần trăm mức độ biết đến ứng dụng công nghệ 3D của GV mầm non

Mức độ Tỷ lệ phần trăm

Chưa biết 24,0%

Chỉ mới nghe qua 60,0%

Đang tìm hiểu 14,0%

Biết rõ 2,0%

Nhìn vào bảng trên, ta có thể thấy tỷ lệ phần trăm chưa biết đến công nghệ 3D chiếm tỷ lệ (24,0%). Tỷ lệ chỉ mới nghe qua chiếm tỷ lệ tương đối cao (60,0%). Tỷ lệ đang tìm hiểu nhưng chưa áp dụng chiếm phần thấp (14,0%) và tỷ lệ biết rõ chỉ chiếm một phần nhỏ (2,0%). Cho thấy, giáo viên ở các trường chưa được tìm hiểu và ứng dụng công nghệ 3D vào dạy học. Hầu hết ở các trường mầm non vẫn chưa lồng ghép và ứng dụng công nghệ 3D vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5-6 tuổi vào hoạt động học. Mặc dù, một số giáo viên đã từng nghe qua về công nghệ 3D nhưng vẫn chưa nghiên cứu để áp dụng trong việc giảng dạy cho trẻ 5-6 tuổi. Ngoài ra, tỷ lệ giáo viên đang tìm hiểu nhưng chưa áp dụng và tỷ lệ giáo viên biết rõ về công nghệ 3D chỉ chiếm một phần nhỏ bởi công nghệ 3D đang khá mới lạ trong giáo dục mầm non và phạm vi áp dụng còn hạn chế việc ứng dụng công nghệ 3D vào hoạt động khám phá khoa học đòi hỏi người giáo viên phải có hiểu biết thật rõ về công nghệ và phải sử dụng chúng thật linh hoạt trong việc lồng ghép vào tiết dạy sao cho phù hợp với nội dung khám phá khoa học và cung cấp nhiều kiến thức mới cho trẻ 5-6 tuổi. Từ đó, chúng tôi thấy được tầm quan trọng của việc cần đào tạo và tổ chức các khoá học cho giáo viên.

2.6.1.2 Mức độ hiểu biết của GVMN về khái niệm công nghệ 3D

Bảng 2.7. Bảng tỷ lệ phần trăm mức độ nhận thức của giáo viên về khái niệm công nghệ 3D

Các phương án Số lượng %

Công nghệ 3D (three – dimensional (3D) Technology) là công nghệ được xây dựng từ các phần mềm máy tính .Công nghệ 3D có khả năng mô phỏng và giả lập thế giới thực từ các quần thể kiến trúc, mô hình, vật thể, nhân vật cho đến việc mô tả chất liệu, ánh sáng, các chuyển động…rất sát với thực tế thông qua các thao tác như thu thập dữ liệu của tối tượng thực dưới dạng các điểm, liên kết dữ liệu lại và tái tạo mô hình của đối tượng trong không gian 3 chiều.

46 92,0

Công nghệ 3D (three – dimensional (3D) Technology) là công nghệ có khả năng mô phỏng và giả lập thế giới thực từ các quần thể kiến trúc, mô hình, vật thể, nhân vật cho đến việc mô tả chất liệu, ánh sáng, các chuyển động… rất sát với thực tế thông qua các thao tác như thu thập dữ liệu của tối tượng

3 6,0

thực dưới dạng các điểm, liên kết dữ liệu lại và tái tạo mô hình của đối tượng trong mặt phẳng.

Công nghệ 3D (three – dimensional) là công nghệ được xây dựng từ các phần mềm máy tính. Những hình ảnh 3D thường xuất hiện trên báo, tờ rơi, logo, banner…

0 0

Công nghệ 3D (three – dimensional) là công nghệ được xây dựng từ các phần mềm máy tính. Có khả năng mô phỏng nhân vật cho đến việc mô tả chất liệu, ánh sáng, các chuyển động trong không gian 3 chiều.

1 2.0

Nhìn vào bảng ta thấy, hầu hết giáo viên tại các trường Mầm non đã biết về khái niệm đầy đủ nhất “công nghệ 3D” là gì. Phần lớn giáo viên (92,0%) đều hiểu được Công nghệ 3D (three – dimensional (3D) Technology) là công nghệ được xây dựng từ các phần mềm máy tính. Công nghệ 3D có khả năng mô phỏng và giả lập thế giới thực từ các quần thể kiến trúc, mô hình, vật thể, nhân vật cho đến việc mô tả chất liệu, ánh sáng, các chuyển động…rất sát với thực tế thông qua các thao tác như thu thập dữ liệu của đối tượng thực dưới dạng các điểm, liên kết dữ liệu lại và tái tạo mô hình của đối tượng trong không gian 3 chiều.

2.6.1.3 Bảng thống kê mức độ GVMN tổ chức hoạt động khám phá khoa học có ứng dụng công nghệ 3D trên thiết bị điện tử, mozaWeb, phần mềm PowerPoint.

Bảng 2.8. Mức độ tổ chức hoạt động của giáo viên ở các trường khảo sát Mức độ

Loại hình sử dụng

Chưa bao giờ

Hiếm khi Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Thiết bị điện tử 72% 18% 6% 4%

mozaWed 94% 4% 2% 0%

PowerPoint 80% 12% 6% 2%

Kết quả thể hiện ở bảng 2.8 cho thấy, đa phần GV ở các trường khảo sát chưa bao giờ tổ chức hoạt động khám phá khoa học có ứng dụng công nghệ 3D trên thiết bị điện tử, MozaWed và phần mềm PowerPoint cho trẻ MG 5 – 6 tuổi.

Mức độ giáo viên chưa bao giờ tổ chức hoạt động khám phá khoa học có ứng dụng công nghệ 3D trên thiết bị điện tử, mozaWeb, phần mềm PowerPoint rất lớn dao động trong khoảng từ (72% đến 94%). Trong khi đó mức độ thường xuyên tổ chức hoạt động khám phá khoa học có ứng dụng công nghệ 3D trên thiết bị điện tử, mozaWeb, phần mềm PowerPoint lại chỉ chiếm một phần nhỏ dao động từ (0% đến 4%). Phần lớn giáo viên cho rằng không nên lạm dụng sử dụng quá nhiều thiết bị điện tử, công nghệ đặc biệt là điện thoại vào việc giảng dạy cho trẻ.

Dựa vào bảng thống kê mức độ tổ chức hoạt động khám phá khoa học có ứng dụng công nghệ cho trẻ ở lớp, ta thấy được các giáo viên ở trường phần lớn chưa bao giờ tổ chức hoạt động khám phá khoa học có ứng dụng công nghệ 3D trên thiết bị điện tử, mozaWeb, phần mềm PowerPoint cho các con. Tuy nhiên, việc cho trẻ tiếp cận với các công nghệ hiện đại đang dần được quan tâm và chú trọng tích hợp lồng ghép vào các hoạt động của trẻ ở lớp, ở trường như hoạt động học, chơi, chăm sóc…. Hiện nay, nhiều trường còn khuyến khích xây dựng các kế hoạch tổ chức hoạt động, phương pháp dạy học có ứng dụng các công nghệ, thiết bị hiện đại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, giúp trẻ tích cực nhận thức, hoạt động một cách hiệu quả.

Một phần của tài liệu đề-cương-nckh-chính-thức-lần-6 (Trang 58 - 62)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(108 trang)
w