Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh

Một phần của tài liệu VĂN học MIỀN NAM có cải LƯƠNG (Trang 100 - 108)

TIẾT MỘT: THỜI KỲ SƠ KHỞI

I- MẠC THIÊN TÍCH (1706– 780) VÀ CHIÊU ANH CÁC (1736)

3- Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh

Nếu Hà Tiên thập vịnh có mục đích phổ biến trong giới trí thức về phong cảnh của Hà Tiên thì Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh là một áng văn Nôm có mục đích truyền bá trong giới bình dân, hay nói khác hơn nó thuộc về văn học Nôm.

Đây là khúc vịnh, chia thành 10 đọan mỗi đoạn tả một cảnh trong mười cảnh ở Hà Tiên, mỗi đoạn gồm một khúc lục bát giáng thất chừng 30 câu, cuối mỗi đoạn có một bài vịnh làm theo thể Đường luật và cuối cùng có một bài tổng vịnh. Tóm lại Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh gồm 422 câu gồm 334 câu lục bát giáng thất và 88 câu của 11 bài đường luật thể thất ngôn bát cú.

Khúc vịnh này có lẽ đƣợc sáng tác cùng thời với Chinh phụ ngâm, nhƣng đặc biệt hơn là suốt khúc vịnh áp dụng một lối gieo vần, chữ thứ 8 câu 8 gieo vần vào chữ thứ 3 câu 7 và do đó, thay vì câu thất trắc chữ thứ ba thanh trắc lại phải đổi sang thanh bằng. Thí dụ :

...

Hễ là khách tiêu dao

Muốn cùng hứng ý trải bầu tam THIÊN Trấn Hà TIÊN mỗi nơi một lạ

Người bốn phương riêng dạ ước ao

………

Chúng ta cũng thấy lối gieo vần này qua bài ca dao “Nụ tầm xuân” sáng tác theo thể lục bát giáng thất biến thể

Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm XUÂN.

Nụ tầm XUÂN nở ra xanh biếc, Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay.

Ba đồng một mớ trầu cay,

Sao anh không hỏi những ngày còn không.

Bây giờ em đã có chồng,

Nhƣ chim vào lồng nhƣ cá cắn CÂU.

Cá cắn CÂU biết đâu mà gỡ, Chim vào lồng biết thuở nào ra.

Chinh Phụ Ngâm cũng dùng kỹ thuật ấy trong một số câu:

………..

Chín lần gương báu trao tay,

Nữa đêm truyền hịch định ngày xuất CHINH.

Nước thanh BÌNH ba trăm năm cũ, Áo nhung trao quan vũ từ đây.

………

Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai,

Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân MÂY.

Trong cửa NÀY đã đành phận thiếp, Ngoài mây kia há kiếp chàng vay?

………

Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,

Quan sơn để cách hàn huyên bao ĐÀNH.

Thuở lâm HÀNH oanh chƣa bén liễu, Hỏi ngày về ƣớc nẻo uyên ca.

………

Chúng tôi trích đọan Kim Dự Lan Đào trong Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh để có dịp so sánh với bài Kim Dự Lan Đào trong Hà Tiên thập vịnh, và 10 bài đường luật còn lại.

1. Kim dự lan đào :

Giữa trời một đỉnh cao xây, Sáu ngao ấy giá năm mây là lầu.

Trải nghìn thu con vua ngậm đá, Suy hình hài nhƣ thả ngọc phong.

Kim thang đứng sựng giữa dòng, Công cao nhạc lộc, tuổi đồng kiền khôn.

Chốn hải muôn tiết còn rành rạnh, Chống miếu đường một cảnh vơi xa.

Đá chồng cây nhóm giao gia,

Ngấn gành cây mực, cành hoa điểm ngần.

Dầu quỷ thần hẳng âu chốn chở, Khách thoạt nhìn sực nhớ Bồng lai.

Thú mầu quyến rũ lòng ai,

Say xƣa biển rộng vùi mài non tiên.

Thế tự nhiên gành câu vịnh lưới, Nước cùng non, trên dưới đều ưa.

E khi nổi trận nắng mƣa, Sức lăm đánh Bắc, tài lừa phò Nam.

Thời có lần dốc an dân chung, Bồi thành dài, mặt chống nước xa.

Ghe phen chiến hạm vào ra, Thu đào vỡ mật, phục ba kinh lòng.

Hết rủi dong, gặp ngày ca khải, Thu quân về cảnh hải dƣỡng an.

Một tay vững đặt giang san,

Danh phong Kim Dự, tước ban Lan Đào.

Bọt nhƣ phau, núi gành chẳng động, Sông biển an khơi lộng đều thanh.

Hây hây nước biết non xanh,

Gõ gươm thần vũ, dân lành khỏi nghiêng.

Ai chẳng khen, ai mà chẳng ngợi, Hằng lân la, diệu vợi nài chi.

Muốn cho sáng cả sơn khê,

Đáp trong nguyên vận, hòa đề một thiên.

Thơ rằng:

Kim dự này là núi chốt then,

Xanh xanh dành trấn cửa Hà Tiên.

Ngăn ngừa nước dữ không vùng vẩy, Che chở dân lành khỏi ngữa nghiêng.

Thế cả vững vàng trên Bắc hải, Công cao đồ sộ giữa Nam thiên.

Nước yên chẳng chút lông thu động, Rộng bủa nhơn xa tiếp bách xuyên.

2- Bình san điệp thúy:

Một bước càng thêm một thú yêu,

Lằn cây vết đá vẽ hay thêu?

Mây tùng, khối liễu chồng rồi chập, Đàn suối chim ca, thấp lại cao.

Luật ngọc Trâu ông chăng phải trổi, Ngòi sương Ma cật đã thua nhiều.

Đến đây mới biết lâm tuyền quý, Chẳng trách Sào, Do lánh đế Nghiêu.

3- Tiêu tự thần chung:

Rừng thiên sít sát án ngoài tào,

Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao.

Chày thỏ bạt vang muôn khóm song, Oai kình tan tác mấy cung sao.

Não phiền kẻ nấu sôi nhƣ vạc, Trí tuệ người mài sắc tựa dao.

Mờ mịt gẫm dường say mới tỉnh, Phù sinh trong một giấc chiêm bao.

4- Giang thành dạ cổ:

Trống quân giang thú nổi uy phong, Nghiêm gióng đòi canh ỏi núi sông.

Đánh phá mặt gian người biết tiếng, Vang truyền lịnh sấm chúng nghiêng lòng.

Phao tuôn đã thấy yên ba vạc, Nhiệm nhặt chi cho lọt mảy lông.

Thỏ lụn sớm hầu chờ bóng ác, Tiếng xe sầm sạt mới nên công.

5- Thạch động thôn vân:

Quỷ trổ thần xoi nổi một tòa, Chòm cây, khóm đá dấu tiên gia.

Hang sâu thăm thẳm mây vun lại, Cửa rộng thinh thinh gió thổi qua.

Trống lỏng bốn bề thâu thế giới, Chang bang một dãy chứa yên hà.

Chân dời mới biết kho trời đấy, Cân đái hèn chi rở ý, la.

6- Châu nham lạc lộ:

Biết chỗ mà nương ấy mới khôn, Bay về đầm cũ mấy mươi muôn.

Đã giăng chữ nhất dài trăm trƣợng, Lại sắp bàn vây trắng mấy non.

Ngày giữa ba xuân ngân phấn vẽ, Đêm trường chín hạ tuyết sương còn.

Quen cây chim thể người quen chúa, Dễ đổi nghìn cân một tấc son.

7- Đông hồ ấn nguyệt:

Một hồ lẻo lẻo tiết thu quang, Giữa có vầng trăng nổi rõ rang.

Đáy nước chân mây in một sắc, Ả Hằng, nàng Tố lố đôi phương.

Rạng thanh đã hứng thuyền Tô Tử, Lạnh lẽo càng đau kiếng Nhạc xương.

Cạnh một mà tình người dễ một, Kẻ thì ngả ngớn kẻ sầu thương.

8- Nam phố trừng ba:

Dòng Nam phẳng lặng khách dầu chơi, Hai thức như thêu nước với trời.

Bãi khói dưới kia hương lại bủa, Hồ gương trong đó gấm thêm rơi.

Sống chôn vảy ngạc tình chi xiết, Nhạn tả thơ trời giá mấy mươi.

Một lá yên ba đầu lỏng lẻo,

Đông trăng lường gió nước vơi vơi.

9- Lộc trỉ thôn cƣ:

Lâm lộc ai rằng thú chẳng thanh?

Nữa kề nước biếc, nữa non xanh.

Duỗi co chẳng túng kiền khôn hẹp, Cuối nghĩa vì vâng đức giáo lành.

Lưu loát hưởng dư ơn nước thạnh, Ê hề sẳn có của trời dành.

Đâu no thì đó là an lạc,

Lựa phải chen chân chốn thị thanh.

10- Lƣ khê ngƣ bạc:

Bến vƣợt nhà ngƣ chật mấy từng, Trong nhàn riêng có việc lăng xăng.

Lưới chày phơi trải đầy trời hạ, Gỏi rƣợu say sƣa toại nghiệp hằng.

Nghề thuấn hãy truyền bền trác trác,

Dân Nghiêu còn thấy đủ răng răng.

So đây mười cảnh thanh hòa lạ,

Họa cảnh Đào nguyên mới sánh chăng.

11- Hà Tiên thập cảnh tống vịnh:

Mười cảnh Hà Tiên rất hữu tình, Non non nước nước gẫm nên xinh.

Đông hồ Lộc trỉ luôn dòng chảy, Nam phố, Lƣ khê một mạch xanh.

Tiêu tự, Giang thành chuông trống ỏi, Châu nham, Kim dự cá chim quanh.

Bình san, Thạch động là rường cột, Sừng sựng muôn năm cũng để dành.

Mạc Cữu dựng nên Hà Tiên trấn, Mạc Thiên Tích dựng lên Chiêu Anh Các, bao nhiêu lần làm cho đất đai miền Nam mở mang thêm, trọn đời thờ Chúa Nguyễn, xông xáo trước lằn tên mũi đạn, bôn ba nơi hải ngoại để góp công dựng nên nhà Nguyễn, ông cũng chọn một cái chết cho Chúa Nguyễn nơi hải ngoại xa xôi. Trên tao đàn văn học, ông và nhóm Chiêu Anh Các còn để lại những bài thơ ca tụng cảnh đẹp ở miền đất xa xôi, để nói lên cái công nghiệp mà họ Mạc đã dựng lên ở đất Hà Tiên một cách vững vàng, ông là người thành công chẳng những chẳng cả võ mà lẫn văn ở miền Nam trong thời kỳ sơ khởi.

Ghi chú:

(X, H, T, Đ) các danh nhân có thơ họa bốn mùa đƣợc Lê Quý Đôn trích – (+) 6 vị không có tên trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn và Gia Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức không có Tôn Quý Mậu.

1- Đồng lúa oằn oại thay vào cánh đô thành của cha Chu bị giặc Khuyên nhung chiếm cứ, cảnh mất nước.

2- Hai mươi tuổi.

.

Một phần của tài liệu VĂN học MIỀN NAM có cải LƯƠNG (Trang 100 - 108)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(580 trang)