Vội vàng” - một ứng xử trước thời gian, một ứng xử nghệ thuật

Một phần của tài liệu Ôn thi THPT môn ngữ văn phần 1 (Trang 21 - 30)

A. KIẾN THỨC BỔ TRỌ

I-. Vội vàng” - một ứng xử trước thời gian, một ứng xử nghệ thuật

Qua bài thơ, người đọc có thể nhận ra nhiều điểm đặc trưng cho nghệ thuật thơ Xuân Diệu: giàu cảm xúc, lắm lí lẽ, nhịp điệu sôi nổi, bồng bột, cách tổ chức hình ảnh độc đáo, lối diễn tả Tây một cách vừa cố ý, vừa tự nhiên...

Vội vàng được mở đầu bằng một khổ thơ ngũ ngôn, rắn rỏi và rnạnh mẽ;

Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại Cho huơng đừng bay đi.

Gần như đây là khổ thơ đã tháu tóm được tinh thần của cả bài. Cài tôi của nhà thơ (cũng là cái tôi cá nhân - cái tôi bộc lộ ý thức cá nhân) khốnq ém mình, nép mình vào đâu hết, mà lừng lững hiện diện, đứng án rígữ ngay cửa ngõ vào thê giới thơ. Ta đọc thấy ở đây một sự tự tin lớn cùng với một ước muốn dị thường: tắt nắng, buộc gió, cản lại sự vận hành theo quy luật của vũ trụ. Vì đâu nhà thơ trỏ nên “ ngông cuồng” như vây? Lời giải thích - không đợi người đọc phải ngẩn ngơ suy đoán - đã được nói rõ trong chính các câu thơ ấy. Tất cả bị quy định bởi nghịch

lí này; thiên nhiên ban cho ta một cuộc đời thật đáng sống nhưng mặt khác lại đưa ra những giới hạn nghiệt ngã, khiến ta chẳng thể ciềnh dàng. Thời gian, thời gian...

- đó là nỗi ám ảnh thường trực đối với ta, nó vừa đe dọa cướp mất của ta những cái gì đẹp đẽ nhất, lại vừa chuốt nhọn trong ta ý thức sống, ý thức tranh đoạt và khẳng định.

Xuân Diệu, qua thơ và qua thái độ dấn thân của mình, luôn giục giã những ai biết sông Hãy nhìn đòi hằng đôi mất xanh non. Nhà thơ thật có lí khi kêu gọi như vậy. Với đôi mắt xanh non, nghía là đôi mắt luôn háo hức quan sát, luôn biết ngạc nhiên tựa đòi mắt trẻ thơ, người ta có thể thây được rất nhiều điẽu thu vị trong thế giới này. Từ Khi C ó i tôi cá nhân được giải phóng, cái nhìn của nó không còn b ị đóng khuôn trong định kiến nữa. Chính vì vậy, mỗi quan sát của nó là một phát hiện không tầm thuờng và luôn khơi dậy niềm yêu sống dạt dào.

Cuộc đời, theo Xuân Diệu, là một bữa tiệc thịnh soạn với bao của ngon vật lạ đang kích thích mọi giác quan cua ta và mời gọi ta thưởng thức, hưởng thụ:

Của ong bướm này đày tuần tháng mật;

Này đày hoa của đổng nội xanh rì;

Này đây !ã của cành tơ phơ phất;

Của vến anh này đây khúc tinh si, Và này đày ánh sáng chớp hãng mi.

Cụm từ này đáy được lặp lại liên tiếp trong năm câu thơ liền đã làm nổi rõ vừa sự hào phóng của thiên nhiên, vừa sự phấn chấn tột độ của nhà thơ khi đối diện với cuộc đời. Có một cái gi như sự cuống quýt muốn vơ tất cả vào vòng tay mình và cám giác mê người trước vẻ trinh tiết, tơ non của sự sống. Nhà thơ như muốn nói, trong cừ chỉ vôi vàng và trong nhịp diệu ngôn từ dồn dập, rằng; tất cả lá của chúng ta, chúng gán lắm, rất vừa tãrn tay, còn cliần chừ gi nữa... Điép từ của xác đinh quan hệ sỏ hữu vang len như mọt lời thúc dục hết sức nhiệt tình. Quả thật làm sao có thể thờ ơ dược ươóc tuần thang Hiật vản còn đầy ảp, uước dồng nội xanh rì cuộn trao sức sóng, Ii uơc cành to ú' U i lựa sirin lục dồi dào, tiươc khúc tinh si mê đắm hân hoan, trước hàng mi đẹp với ánh chớp rạng ngòi, chói lói...?

Qua Vội vàng, cũng như qua phấn lớn sáng tác của Xuân Diệu trước Cách mạng, người đọc luôn tháy nhà ihơ kêu to lên điều ngỡ rằng vừa mới được phát hiện; quy luật bao trùm vũ trụ là quy luật tìm đôi, không ai có thể đứng ngoài. Để quyến rũ nhau, tất cả đếu hãnh diện phô khoe vẻ đẹp thanh tân của mình. Máy không còn là mày, gió không còn là gió, cỏ không còn là cỏ, xuân không còn là xuân cộc lốc, vô hồn, phi cá tính. Dưới đôi mắt nhìn bỡ ngỡ, hồn nhiên, hồn hậu, đắm say, mảy phải là mày đưa, gió phải lồ gió lượn, cỏ phải là cỏ rạng, xuân phải là xuân hồng, thời phải !à thời tươi... Luôn chu rnội định ngữ đi kèm vơi một danh từ n,hư trôn, có lẽ tác giả muốn lưu ý rằng những cái liià nhà thơ tnấy irong đời không hẳn giống những cái n ib con máí gia MUá củc ưuo nguùi dã tliây, vì vậy, cần phài

có một tên gọi mới cho chúng. Chưa thỏa mãn với cách gọi tên mới, nhà thơ đã đưa tiếp một so sánh độc đáo làm vật chất hoá, vật thể hoá cả cái rất trừu tượng, là thời gian: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Trong văn học Việt Nam, đã có ai nói được về sự khêu gợi, mời mọc, hấp dẫn của cuộc đời một cách lạ lùng và đầy ấn tượng đến như thế?

Vội vàng không phải là bài thơ tình thuần túy hiểu theo nghĩa hẹp của từ này.

Nhưng điều đó không ngăn cản nhà thơ tình yêu hoá mọi thứ, mọi quan hệ lọt vào trong nhãn giới của minh. Những ong bướm, hoa, cành tơ, yến anh ở đây là ẩn dụ chỉ tuổi trẻ yêu đương và tuần tháng mật, khúc tình si là ẩn dụ chỉ trạng thái nồng nàn, đắm đuối của tinh yêu. Còn những riết, say, thâu, cắn, hôn thì đã quá rõ.

Chúng chính là những sự thể hiện dầy đủ nhất của một tình yêu ở giai đoạn cao trào. Cũng thế, phải nhờ con mắt của một nhà thơ tình yêu, cái ngon của tháng giêng mới được hình dung như cái ngon của cặp môi gần - tức là cặp môi đang hé mở, khát khao, chờ đợi (và, nói vui một chút, phía trên cặp môi ấy là một đôi mắt đang hờ khép êm ả, dịu dàng...).

Với cách diễn tả đặc biệt như vậy, Xuân Diệu muốn nói cùng ta rằng tuổi trẻ và tình yêu chính là mặt trời của sự sống (V. Huy-gô đà từng phát biểu: “Cuộc sống là hoa, tình yêu là mật trong hoa” ). Và này đây ánh sáng chớp hàng mi - thêm một câu thơ thể hiện cảm nhận trên một cách hết sức rõ nét. Với kẻ si tình, si mê sự sống, hàng mi của người đẹp mỗi lần chớp nhẹ là một lần nó toả chiếu ánh sáng ra cả vũ trụ (trong thơ Xuân Diệu, cái tứ này đã được thể hiện nhiều lần trong các câu, các bài khác nhau: ánh sáng ban từ một nét tay - “ Dâng” ; Tâm trí còn kinh trận gió ngườiư Bốn bề không khí bỗng reo tươi/ Một luồng ánh sáng xô qua mặư Thắm cả đường ơi, rực cả đời - “Tình qua” ...| Đặc biệt, với câu thơ Tháng giêng... đã dẫn, Xuân Diệu đã thực sự lấy cài đẹp của con người tuổi trẻ làm thước đo để đánh giá mọi thứ trên đời (ý của GS. Nguyễn Đăng Mạnh).

Ngày xưa, các thi nhân đã không ít lần than thở nỗi đời quá ngắn, ngắn như thời gian bóng ngựa trắng vụt qua khe cửa {bạch câu quá khích) khiến cho mái tóc xanh chẳng mấy chóc đã bạc phơ (Triêu như thanh ti, mộ như tuyết - Sáng như tơ xanh, chiều đã tuyết - Tương tiến tửu, Lí Bạch). Tuy nhiên, về cơ bản, các thi nhân xưa vẫn nhìn thời gian bằng cái nhìn bình tĩnh, bởi thời gian đối với họ là thời gian tuần hoàn, chẳng mất đi đàu. Con người vốn là một bộ phận không thể tách rời của trời đất, thiên nhiên nên chẳng phải sợ sau khi chết tất cả tan biến vào hư không. Xuân Diệu là người luôn bị ám ảnh bỏi thời gian, luôn lo sợ sự chuyển động của tháng ngày, giờ khắc, bỏi thế, bao giờ cũng có tâm thế nôn nao và cử chỉ vội vàng, hối hả. Là một đại biểu của Thơ mới - trào lưu thơ của sự thức tỉnh ý thức cá nhân - thi nhân thấy thời gian cuộc đời lúc này là thời gian tuyến tính. Nó trôi đi và mang theo sự héo úa, rơi rụng, phai tàn. Con người không còn đồng nhất với vũ trụ nên vũ trụ có thể tồn tại vĩnh viến, xuân có thể đi rổi lại về nhưng thời gian cuộc đòi

và tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại. Làm sao có thể điềm nhiên, dửnp dưng nhìn cảnh xuân tới, xuân qua, xuân già, xuân hết này được:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua;

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Trong những câu thơ vừa trích, xuân trước hết là một khái niệm chỉ thời gian, nó tương đồng với các khái niệm khác như thu, đông. Tuy vậy, phải viết là xuân thi nhà thơ mới có thể gây được cho người đọc cảm giác tiếc nuối thực sự sâu sắc.

Bởi ngoài ý nghĩa chỉ thời gian, xuân còn được hình dung như biểu tượng đầy đủ nhất của cái gọi là sức sống, tuổi trẻ, niềm hi vọng. Ai mà chẳng động lòng khi nghe nhắc: xuân thì của đời anh đang qua và đời anh đã ngả về chiều... Đoạn thơ chứa đầy những quan hệ từ có vẻ ít thích hợp với thi ca như nghĩa là (được lặp lại 3 lần), nhung, nói làm chi, nếu..., nhưng trong trường hợp cụ thể này, chúng lại có ý nghĩa đập mạnh vào ý thức và lay tỉnh nhận thức: thời gian rết vô tinh và đời người đi qua chỉ một lần mà thôi. Mỗi lần hai chữ nghĩa là gieo xuống là một lần nhà thơ muốn cất tiếng cảnh báo; khoảnh khắc hiện tại cực kì ngắn ngủi, nếu vô ý ta sẽ để nó tuột mất không còn dấu vết, xuân đang non chớp mắt sẽ hoá già, cái đang tới trong giây lát sẽ hoá thành quá khứ...

Lúc này, cách vượt qua tình huống ái oăm đó chì có thể là phải vội vàng, phải tắt nắng đi, phải buộc gió lại, phải không chờ nắng hạ mới hoài xuân... Đối với người có cảm giác thời gian quá bén nhạy như Xuân Diệu, những lời an ủi kiểu xuân vẫn tuần hoàn không thể làm yên lòng, dịu lòng. Thi nhân đang thực sống vối từng khoảnh khắc của đời mình, ngủri được mùi của tháng năm, nghe được lời than vãn của gió, của trời đất, cảm nhận được nỗi lo sợ của vạn vật khi độ tàn phai đà bắt đầu. Chỉ những cảm giác thưc ấy mới đáng tin, chúng gieo vào hồn, khuấy động vào tâm tri nỗi bồn chồn mỗi lúc một tàng. Phải chăng, phải chăng... - bao nhiêu linh cảm đượm màu bi kịch tràn ngập cả cõi lòng. Với câu Chẳng bao giờ, ôi!

Chẳng bao giờ nữa,... ta như thấy rõ hình ảnh người thơ đang đứng giâng tay giữa không gian, ngửa mặt lên trời, lắc đầu bất lực và tuyệt vọng... Tất nhiên, đây chỉ là cảm giác lìm lịm người, cảm giác tuyệt vọng đến trong thoáng chốc. Nó sẽ nhanh chóng được thay thế bằng cảm giác tràn đầy năng lượng, bằng ý thức tranh đoạt một khi hiểu rằng mùa chưa ngả chiều hôm, rằng cơ hội vẫn còn. Mau đi thôi... là tiếng gọi cất lên từ trạng thải sực tỉnh, bừng tỉnh. Nó đánh dấu sự khởi phát của một cao trào cảm xúc mới, tạo cho bài thơ có được một nhịp điệu dồn đẩy và biến hoá hết sức phong phú.

Trong bài thơ Vội vàng, không có câu nào, chữ nào không chỏ nặng ý vị tuyên ngôn và không thấm đẫm chất Xuân Diệu. Tuy nhiên, để nhìn thật rõ quan niệm sống của nhà thơ, ta phải tìm đến đoạn cuối của bài:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mói bắt đẩu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng.

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Giữa một đoạn thơ dài toàn những câu tám chữ, câu Ta muốn ôm chỉ vẻn vẹn ba chữ và được viết tách ra ở giữa dòng (trước hết gây ấn tượng thị giác rất rõ) cất lên như một hiệu lệnh hành động. Đại từ tôi ở câu đẩu của bài thơ đến đày đã được thay thế bằng đại từ ta. Thì vẫn là một cái tôi ấy thôi, nhưng đây, nó được nhấn mạnh ở tính đại diện, thể hiện một quan hệ giao tiếp mới giữa nhà thơ và độc giả, khi độc giả đã bị nhịp điệu của bài thơ chi phối hoàn toàn. Nhà thơ - nhân vật trữ tình bộc bạch không phải chỉ nỗi niềm đang thúc động trong lòng của một người, mà của nhiều người, của cả một thời đại. Tiếp sau tiếng hô dõng dạc đó, mạch thơ lại cuộn chảy ào ạt, cuốn người đọc vào một không khí khẩn trương, gấp gáp. Qua sự lặp lại nhiều lần của cụm từ ta muốn và sự xuất hiện dày đặc của những từ thể hiện cảm giác mạnh, động tác mạnh, người đọc nhận ra được một thông điệp rất quan trọng: đã sống là phải biết khẳng định cái tôi của minh một cách mạnh mẽ, phải thể hiện được uy lực của mình, phải biết chạy đua với thời gian để chiến thắng nó. Ngay khi sự sống mới bắt đầu mơn mởn, ta đã cần phải chiếm hữu nó, ôm nó giữa lòng mình. Thậm chí phải có khát vọng làm được nhữhg việc tưởng rồ dại như riết mây đưa và gió lượn. Từ ôm đến riết, thái độ chiếm hữu phát triển theo hướng mỗi lúc một quyết liệt, triệt để hơn. Tất nhiên, ôm và nếí cuối cùng cũng chỉ để được say, được chếnh choàng, được đã đầy, no né những mùi thơm, ánh sáng, nói chung là những thanh sắc của cuộc đời mà chính cuôc đời đã dâng tặng một cách vô tư. Lạ sao, đáng trách sao những kẻ khônq nhận ra món quà tặng này và hững hờ với nó!

Trong đoạn thơ có cụm từ một cái hôn nhiều khá đặc biệt, khá Tây. Tại sao đã nói một lại còn nhiềư? Thì ra nhiều ở đây không thuần túy chỉ số lượng mà chủ yếu là chỉ chất lượng. Một cái hôn nhiều có nghĩa là một cái hôn đắm đuối, mê say, bất tuyệt. Từ hôn ở đây cũng có một ý nghĩa rất bao quát. Chẳng qua đây chỉ là một cách biểu đạt cụ thể về tình yêu cuộc sống mà thôi.

Đến câu cuối cùng của bài thơ, ta tưởng như đang nghe Xuân Diệu cất tiếng

reo cười chiến thắng, cất tiếng hát ca ngợi tư thế làm chủ của con người đối với cuộc đời. Cắn vào xuân hồng quả là một hình tượng đẹp, hào hùng, có thể gieo vào lòng người đọc một niềm sảng khoái tinh thần vô tận. Vói những hình tượng và những câu thơ như thế, bài thơ thực sự thấm đẫm một tinh thần nhân văn cao cả.

Một thời, quan niệm sống nêu trên của Xuân Diệu bị bài bác, bị xem là ‘liêu cực” , nặng màu sắc “cá nhân” , “vị k?’, mang tinh thần “sống gấp” thiếu lành mạnh.

Sự thực, không thể đánh đồng quan niệm sống nói chung với lí tưởng chính trị. ở đâu và bao giờ, một thái độ chủ động gắn bó với cuộc sống như thế cũng cần thiết. Nó chẳng mâu thuẫn gì với lí tưởng chính trị đúng đắn mà ta lựa chọn sau đó, thậm chí nó có thể giúp ta thực hành cái lí tưỏng chính trị kia một cách có hiệu quả nhất.

Tuy được viết ra trong niềm lo âu vẽ sự trôi chảy của thời gian, nhưng bằng phẩm chất nghệ thuật tuyệt vời của mình, Vội vàng đã trở thành một tác phẩm có sức sống vượt thời gian. Hoả ra, bên cạnh thái độ ứng xử trước thời gian của một cái tôi xã hội, Vội vàng còn là một ứng xử nghệ thuật của cái tôi thi nhân nữa. Phải vội vàng để khi thời gian kíp gọi lên đường viễn du vào vô tận, nhà thơ còn gửi lại được cho đời, cho hậu thế những giá trị thẩm mỹ đích thực, lớn lao, khơi dậy một tình yêu đằm thắm đối với chốn Bồng-lai-hạ-giới và đối với thơ.

PHAN HUY DŨNG

II - “V ộ i v à n g ”

Vội vàng và nhiều bài thơ khác của Xuân Diệu thường gây ấn tượng với công chúng bỏi những lời kêu gọi kiểu: Nhanh vói chứ! Vội vàng lèn vôi chứ! Em, em ơi!

Tinh non sắp già rồi! hoặc Gấp lèn em! Anh rất sợ ngày mai! Đời trôi chảy, tinh ta không vĩnh viễn!

Khi thi nhân cất cao nhữhg lời kêu gọi: Mau lên thôi! Nhanh vôi chứ! Vội vàng lén! mà Hoài Thanh từng nhận xét một cách hóm hỉnh “/á đã làm vang động chốn nuớc non lặng /ẽ” thì không có nghĩa là anh ta đang tuyên truyền cho một triết lí sống gấp từng bị coi là lai căng và vẫn bị đặt dưới một cái nhìn không mấy thiện cảm của người phương Đòng, một xứ sỏ vẫn chuông lối sống khoan hoà, chậm rãi.

Cần phải thấy rằng, bước vào thời hiện đại, sự bùng nổ của ý thức cá nhân đã kéo theo những thay đổi trong quan niệm sống và đánh thức một nhu cầu tự nhiên là cần phải thay đổi điệu sống. Ý thức xác lập một cách sống mới nói trên càng ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trong tầng lớp trẻ. Phát ngôn của Xuân Diệu trên phương diện thi ca chỉ có tính cách như một đại diện.

Nhìn ỏ một góc độ khác, bài thơ bộc lộ nét đẹp của một quan niệm nhân sinh mới: sống tự giác và tích cực, sống vâi niềm khao khát phát huy hết giá trị bản ngã, tận hiến cho cuộc đời và cũng !à một cách tận hưởng cuộc đời.

Sống vội vàng chỉ là một cách nói. Trong cốt lõi, đây là một quan niệm sống

Một phần của tài liệu Ôn thi THPT môn ngữ văn phần 1 (Trang 21 - 30)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(241 trang)