Tống biệt hành” và nghệ thuật lưõng hoá^

Một phần của tài liệu Ôn thi THPT môn ngữ văn phần 1 (Trang 74 - 87)

B. TIẾP CẬN TÁC PHẨM /

II- Tống biệt hành” và nghệ thuật lưõng hoá^

1. Tống biệt hành là bài thơ hay nhất của Thâm Tâm và được nhiều nhà nghiên cứu xem là một trong những bài thơ tiêu biểu bậc nhất cho phong trào Thơ mới. “Đọc Tống biệt hành ta thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ.

Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” (Hoài Thanh).

Giải thích sự “khó hiểu” ấy, nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá cho rằng; “Khó hiểu vì trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân thống trị, nhân dân mất tự do nên nhà thơ không thể nói rõ tâm trạng thực...” .

Ghi nhận đóng góp của Thâm Tâm, bằng cách đặt trong dòng chảy của Thơ mới và nhìn nhận dưới góc độ “tinh thẩn dân tộc” , Phan Cự Đệ viết; ‘Từ 1940 trở về sau, tinh thần dân tộc trong Thơ mới yếu dần đi. Một vài nhà thơ tim cách lâng mạn hoá, hiện đại hoá những mối tình trong lịch sử (...). Thảng hoặc đó đây có nói đến tinh thần dân tộc thì lại là một thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận. Còn lại một chút gì có lẽ ở Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, những thi sĩ có chịu ít nhiều ảnh hưởng của Văn hoá Cứu quốc bí mật. Trong một số bài thơ của họ có phảng phất nỗi đau buồn của người nghệ sĩ không có tự do, không có tổ quốc (Độc ca hành, Chiều mưa xứ Bắc của Trần Huyền Trân, Tống biệt hành, Can trường hành của Thâm Tâm).

“Tuy nhiên, hình ảnh những chiến sĩ yêu nước thoát lí gia đĩnh đi hoạt động bí

mật trong Tống biệt hành, Độc ca hành vẫn mang dáng dấp của người li khách, một sáng qua sông không hẹn ngày trỏ lại hay vẫn mang cái tâm sự u uất, cô đơn của một kẻ độc hành trên miền biên ải heo hút...” .

Đến với những bài thơ thuộc hàng tinh hoa như Tống biệt hành, ta luôn có thể đọc, giải mã được nhiều văn bản trên văn bản gốc. Những bài thơ kiểu này thì luôn quy tụ nhiều kĩ thuật viết. Những kĩ thuật đó sẽ mở đường để độc giả đi vào chiều sâu tâm thức, nắm bắt và khám phá ma lực ngôn từ thơ.

Thuộc chương trình giảng văn chính thức của lớp 11, Tống biệt hành thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Bài thơ là một trong sô những tác phẩm gây nhiều tranh cãi. Nào là có sông hay không có sông, hoàng hôn trong mắt ai, lí khách đi vì mục đích gì, một chủ thể trữ tình hay hai... Bài viết này sẽ đưa ra kiến giải của riêng mình..

2. Một dạo, khi dự giờ giảng bình Tổng biệt hành đến những câu, Bây giờ mùa hạ sen nở nốt

Một chị, hai chị cùng như sạn Khuyên nốt em trai dòng lệ sót,

tôi chợt băn khoăn bởi lời phân tích: Chị của người ra đi đã già lại lắm gian nan như sen cuối mùa nên nước mắt cũng không còn nhiểu, chĩ sót lại vài dòng đưa tiễn.

Dẫu biết rằng lời giảng nghe chưa thật hết ý nhưng để cắt nghĩa rành rẽ một cách thuyết phục quả không phải dễ. Vấn đề cứ canh cánh mãi suốt mấy năm qua.

Tình cờ trên chuyến tàu lửa hồi.hương, tôi là người được bạn bè đưa tiễn. Giây phút biệt li, dẫu không có sông, bạn tôí vẫn khẽ ngâm: “Đưa người” ... nghe nao lòng. Bỗng tiếng còi ngân lên.^câư thơ “ ngưởi đi” hoà theo nhịp tàu lắc lư, tâm trạng của người đi và, tâm trạng của người đưa tiễn mà tôi đã thực hiện nhiều lần trước đó, hội nhập lại để bừng lên những sắc màu: “ không đưa sang sông” , “ không thắm, không vàng vọt” , “ mẹ thà” , “chị thà” , “em thà” , “ hơi rượu say” ... Chính giây phút bừng ngộ đó chợt trỗi dậy trong tôi những xúc cảm phân tán về hai hướng, đi hay ở giằng xé, trì níu lẫn nhau. Tôi không hiểu đấy là tình cảm thực hay âm điệu của bài thơ gieo vào lòng cơn khủng hoảng. Trấn tĩnh lại, chợt nhận ra rằng chính các hình ảnh sắc màu tâm trạng lưỡng hoá (lưỡng phân) của bài thơ đã mang lại cho tôi cảm giác ấy. Tôi nhẩm đọc rồi tự nhủ: hãy thử tiếp cận Tống biệt hành từ góc độ lưỡng hoá. Và đây có thể tôi giải quyết được niềm vương vấn mà bao năm đã trót đa mang.

Ai bảo Thâm Tâm không đưa người ấy khi chỉ căn cứ vào điểm dừng chân ỏ phía bên này sông? Tôi gọi đây là dòng độc thoại nội tâm mang tính lưỡng phân.

Tính chất lưỡng phân này đư(3c bộc lộ qua hầu hết các hình tượng thơ. Trước tiên là ánh nắng, “ không thắm, không vàng vọt” và cả cái dòng sông kia, dòng sông mà ta có thể bảo có hay không có trong thơ cũng đều được cả.

Dòng sông mang tính ước lệ, thường xuất hiện với những cuộc tiễn đưa trong thơ cổ ấy dường như cũng xuj hồn người phân vân giữa hai bờ có, không:

Đưa người ta không đưa sang sông Sao có tiếng sóng ỏ trong lòng?

Khổ thơ đầu mang hồn của toàn bài thơ. Đấy là lời tự vấn của tác giả, của tôi - trữ tình, của cái ta xuất hiện sau này. Dòng tâm trạng ấy dùng dằng biết bao:

“không đưa... sao có” , “không thắm... sao đầy” . Những cái không ấy dồn hết lại để đặc tả tấm lòng xót xa trước giờ li biệt. Tâm sự ngổn ngang, mang mang giữa bao tiếng đời buồn vui mê đắm ấy hoà trong sắc trời chiều, oái oăm thay lại “ không thắm” mà cũng “ không vàng vọt” như điểm tô thêm nỗi da diết của cuộc chia li.

Thà cứ hãy vàng đi. thắm đi thì cuộc tiễn đưa chưa chắc đã tái tê nhường ấy. Đến cả cái sự lưỡng phân giữa “ không... sao có” , “ không... sao đầy” , sắc sắc không không kia cũng càng làm cho đoạn trường thêm phần ảo não, hoá ra sắc màu ấy phải đâu của đất trời mà của lòng người bi thương cất lên giùm trời đất.

Toàn khổ thơ là sự chuyển hoá hay ngưng tụ của thời gian, không gian giữa muôn tiếng lòng kẻ ỏ người đi. Tiếp đến, “Đưa người ta chỉ đưa người ấy” , thế thì còn bao nhiêu người nữa? Trần Đình sử có một phát hiện thú vị rằng khi thi nhân đưa “ người ấy” tức là đã khám phá ra cái phẩn con người yếu đuối trong con người tráng chí của người ra đi. Có nghĩa thi nhân đã cảm nhận được con người thứ hai của li khách. Tuy nhiên, ông không triển khai ỏ câu thờ tiếp, “Một giã gia đình một dửng dưng” . Với quan điểm lưỢrig hộá, theo tôi, “ một” có giá tri như một chủ thể.

Như thế trong li khách có cả ‘fcon người đời ti/' (Pồ-xpe-íốp), con người yếu đuối đầy tình cảm của giờ li cách, “ một giã gi^ỉđình" và một con người của chí trượng phu, tôi tạm sử dụng từ của Pô-xpe-lốp, “con người thế sự’ ra đi lạnh lùng không hề vương vấn: “một dửng dưng” .

Người ra đi mang chí lớn đối nghịốh với con đường nhỏ, khứ không hồi, hoài bão và thực trạng, tâm thức và ý thức, có rằng không, nói rằng im: xung đột.

Buồn từ chiều hôm to/ớc lan toả đến chiều hôm sau, “bây giờ mùa hạ” , thoắt đã sang hè. Thời gian của thi ca, của tâm tưởng, của đồng hiện, đồng quy: là khoảnh khắc song cũng là chuỗi tiếp nối. Để rồi “sáng hôm nay” ; ‘1rời chưa mùa thu” . Mấy ai diễn tả được sắc trời thu? Mà đây vẫn chưa là thu bởi mùa hẹ còn nặng mối tơ lòng. Nỗi buồn chia xa day dứt cả trời lá rụng nên ‘lươi lắm thay”

không mang lại niềm vui mà vẻ tươi tắn đã vội chìm trong màu xa xứ.

Không khí hào hùng của bài thơ được gợi lên từ những gam màu - không - buồn: nắng không thắm, không vàng vọt, mắt trong, mắt biếc, trời tươi... nhưng trên nền hoạ cảnh đó là tâm cảnh ngược lại. Ngược từ cái tứ “ không đưa sang sông” đến cả ánh hoàng hôn của trời chiều đằm thắm trong mắt của li khách, của người đưa tiễn. Lấy ít - cái - buồn đối chọi nhiều - cái - buồn nhưng buồn ấy là buồn thật, buồn đến trĩu cả hồn thơ nên nét kiêu bạc không lấn vượt lòng sầu cảm.

Ngẫm cho cùng, Tống biệt hành là bài thơ đôi thoại lại lối hành cổ song đấy chính là điểm thành công tuyệt vời của Thâm Tâm, đến mức bài thơ vừa vang vọng âm hưởng trầm hùng trên cái nền cơ bản là nỗi xót xa li biệt, nỗi cô đơn

thoáng chút bất cần vừa mang cả niềm ao ước được dâng hiến, yêu đời đến man mác cả trời chiều trong phút lâm hành của lớp thanh niên trưởng thành trong thời đất nước gặp nguy khốn.

Vậy thì cái đôi mắt trong kia có hàm chứa vẻ “dửng dưng” không? Bảo rằng có thì đúng nhưhg tuyệt nhiên xem đấy là dấu hiệu riêng của “dửng dưng” thì chưa hẳn. Hai chữ trong ở câu thơ này giữ hai chức năng ngữ pháp khác nhau. Nếu chữ trong đẩu nghiêng về hướng định vị thì chữ trong thứ hai mang nhiều chức năng ngữ pháp hơn. Trước hết, theo nghĩa đen, trong (ỏ mắt trong) là tính từ, ngược với đục, biểu hiện sự tinh khiết. Mắt trong thường được dùng để diễn tả sự trong trắng, ngây thơ, chưa vương nhiễm bụi trần. Vậy thì mắt ấy phải là mắt trẻ thơ hay mắt của người mới len bước vào đời. Đặt ỏ cuối khổ thơ đầu, mắt trong thường được hiểu là của người ra đi. Căn cứ theo nét nghĩa nguyên khởi trên thì người ra đi ấy trẻ lắm mà hễ đã trẻ và có chí thì chí ấy thật lớn nhưng lúc lên đưòng thì nỗi lưu luyến của người chưa từng trải cũng thật đậm đà, bịn rịn... Điều này có cơ sở vì khi

Tống biệt hành ra đời vào năm 1940 thì Thâm Tâm mới 23 tuổi.

Mắt trong, như trên đã nói, phẩn nào đã diễn tả ý tưỏng “dửng dưng” . Vậy thì nội hàm của chữ trong à đây đã có vấn đề. Nó đâu còn tuân theo nghĩa gốc là

“trong trẻo” nữa. Mắt trong, theo cách hiểu này, gỢi nên ý nghĩa quyết chí ra đi.

Nhưng hiểu như thế đã cạn ý chưa? cùng đọc lại câu thơ, “Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?’. Phải nhìn vào mắt nhau thì mới phát hiện ra hoàng hôn.

Vậy hoàng hôn trong mắt ai? Chỉ của người ra đi thôi ư? Tôi e là chưa đủ mà phải còn là của người đưa tiễn (thậm chí là của cả em nhỏ nữa bởi mắt biếc ngây thơ của em thì rất gần với mắt trong). Thì ra chữ trong ở đây đâu chỉ riêng định tính mà còn cả định vị: thấy hoàng hôn sâu thẳm trong mắt nhau. Cái diệu của chữ trong kia là đã tồn tại trên đường phân giới ấy, vừa mang nghĩa ‘Irong trẻo” , “dửng dưng”

vừa mang nghĩa ‘trong ngoài” . Kẻ ở người đi đều buồn cả. Khổ thơ bốn câu thực chất chỉ là hai câu hỏi, tự vấn lòng:

- Đưa người, ta không đưa sang sông, sao có tiếng sóng ở trong lòng?

- Bóng chiều không thắm, không vàng vọt, sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đã nhủ lòng không xao động nhưng sao cứ hoài thổn thức? Tại cái “bóng chiều” kia chàng? Không có hoàng hôn mà lại hoàng hôn. Không có sông mà ba đào vẫn dậy sóng. Đúng là sóng lòng. Tinh ỏ đấy mà tâm cũng ở đấy. Yếu hèn, dũng cảm cũng từ bấy nhiêu mà ra. Sự trì níu bất lực và cả hùng tráng ra đi vẫn bất lực bỏi hai cảu hỏi kia ngàn đời vẫn không tìm ra lời đáp. Nên vạn đời nhân loại vẫn trên hành trình đi về phía trước, hướng đến một chân trời mới. độc lập, tự do;

hướng đến cái cùng tận của chân thiện mĩ. Nhưng lúc ấy, cảnh sắc kia như luôn nằm ngoài tầm vối.

Có thể dẫn ra đây nhiều hơn nữa những lưỡng phân, nhưng đấy chỉ là các

“khách thể nghệ thuật” . Còn “chủ thể” tòi xét hệ thống từ xưng hô. Nếu xếp theo

trật tự xuất hiện. Chúng là; người/ta/người/ta/m ộư m ộưli khách... khác với 77 hành của Bạch Cư Dị hay Hành phương Nam của Nguyễn Bính, giọng điệu của Tống biệt hành hấu hết là giọng của tôi - trữ tình cảm nhận tâm trạng của đối tượng trữ tình (li khách) nên khảo sát sự chuyển dịch hệ thống từ xưng hô cũng là tìm hiểu sự thay đổi tâm trạng, cảm xúc thoạt tiên là của thi nhân và sau cùng là của người ra đi. Phần đầu của bài thơ, không khí trang nghiêm cao cả đầy tráng chí được thể hiện qua những: người, ta, một, li khách... toàn là những từ bệ vệ tạo khoảng cách, mang giọng điệu của một phân li đầy trang nghiêm gắn với nét hào hùng của người ra đi trong dáng vẻ của cuộc đưa tiễn bên “ Dịch thủy hàn” (dòng sòng nơi Kinh Kha từ biệt vào đất Tần). Giọng của người đưa tiễn chiêm ưu thế.

Song đến khi xuất hiện “ mẹ già” thì âm điệu “ bất cần” ấy chùng xuống, thưa thớt

‘1a, người” còn rải rác gõ nhịp cho biến tấu tình cảm ngân khúc bi thương, xót xa trước giờ giã từ;

Người đi? ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Kiêu hùng lắm, “dửng dưng” lắm song cũng đớn đau thay. Đến đây tính chất lưỡng hoá giữa “ta” và “ người” trong giọng điệu dường như không còn nữa. Giọng của người đi và người đưa tiễn hội nhập trong khúc biệt li.

Bởi thay đổi cách xưng hô nên nhìn tổng thể, bài thơ có bôn lần đổi giọng. Sáu câu đầu, ta độc thoại về người, “Đưa người ta ch? đưa người ấy” . Thực ra, ở đoạn thơ này ta ấy chủ yếu là tự bộc bạch. Bốn câu tiếp theo, ta nói hộ lòng người “Chí nhớn chưa về bàn tay không” . Tám cảu tiếp, đối thoại với người, “Ta biết người buồn chiều hôm trước” , mạch cảm xúc tự vấn bên trên bị ngắt quãng, mạch tự sự xen vào, hướng ra ngoài phía người, “Ta biết người buồn sáng hôm nay” . Nhưng đến bốn câu cuối, khi nỗi buồn trào dâng thì người lại xuất hiện, thảng thốt, như sực tỉnh từ cõi mộng bởi khúc đoạn trường cận kề, “ Người đi? ừ nhỉ, người đi thực!”

- vẫn chưa quen với cảnh chia lìa!

Thay đổi ngôi trữ tình thì giọng điệu thơ cũng đổi thay. Bài thơ hiện diện nhiều tiếng nói, nhiều chủ thể ngôn từ. Ý thơ luôn ngả về nhiều hướng, hiểu theo cách nào cũng có cơ sở. Đấy là nét độc đáo của Tống biệt hành mà nền tảng thành công là do vận dụng kĩ thuật lưỡng phân đến mức điêu luyện.

Trước đây, trong giao tiếp ta với người được dùng để chỉ vị thế thân hữu của những đấng, bậc. Trong thi ca hiện đại, nó ít xuất hiện bởi dáng vẻ kiểu cách, trang trọng của giọng điệu toát lên từ nó không dễ hoà nhập với dòng cảm xúc đời thường vốn đĩ là đặc trưng của Thơ mới. Do đó, khi được vận vào bài thơ, mối quan hệ giữa ta, người ở đây không còn như xưa cũ mà đã khác đi trong ngữ cảnh thơ.

Với ta thì chẳng mấy thay đổi gì hơn. Một tiếng nói bên ngoài. Một người quan sát... Song vẫn là người trong cuộc nên yếu tố người phải chuyển nội hàm. Người không còn là không ta nữa, mà có giá trị ngang ta, hoà lẫn vào trong ta, thay thế cả ta. Nếu ta không xuất hiện, “người đi... người đi thực” thì người ấy lại chính là ta đấy.

Tuy nhiên, mọi mối quan hệ không bao giờ chỉ tồn tại một chiều. Độc giả đã gặp ỏ phần đầu bài thơ một người ra đi lạnh lùng khí khái làm tác nhân để ta cảm xúc (có “đưa người” mối nghe ‘liếng sóng” ) và ở cuối bài thơ một con người khác (như đã phân tích) con người giữ vai trò là chủ nhân của cảm xúc. Con người này lại hoán cải vị thế của ta, đưa ta xuống cùng người, cùng nỗi luyến lưu khi tạ từ.

Giá trị của bài thơ là ở nghệ thuật lưỡng phân. Dòng nội tâm ấy dịch chuyển trong ngôn từ, trong hình tượng, cấu tứ. Nó lấn vượt, nhường nhịn đến ba câu cuối, nỗi buồn của thi nhân trào dâng và con người của nỗi buồn li cách trong con người tráng chí sừng sững kết bài thơ,

Người đi? ử nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay, Chị thà coi như là hạt bụi Em thà coi như hơi ntợu say

Tôi gọi lưỡng hoá là đặc trưng nghệ thuật của bài thơ, nhưng đúng hơn là lưỡng hoá mờ. Bởi nỗi lòng của người đi dù dứt khoát song dễ gì hờ hững, còn người đưa tiễn dẫu muốn dòng sông trước mặt cứi|ùi ra^xa để dặm trường luyến lưu còn miên viễn nhưng nào có cầm giữ được người đi. ^

Thế chị của người ra đi có già như giáo viên kiá cảm nhận không? Chi tiết dẫn đến cách hiểu ấy là sen cuối hạ (nỏ nốt). Như trên đã đề cập, đa số hình tượng trong bài thơ nhoà đi, khó cắt nghĩa rõ ràng, Chúng ta đã có: nắng không thắm, không vàng vọt, trời chưa mùa thu... thì sen cuối hạ cũng nằm trong hệ thống cảm nhận không - thời gian đó nên khồng thể từ hình tượng này mà bảo chị già. Chị không già không trẻ, không trung niên. Tuổi của chị tuỳ thuộc vào “tuổi” của người thưởng thức. Tứ thơ thể hiện vẻ đẹp trong trắng “ như sen” của chị và cả sự tiếc nuối về điều gì đó sắp sửa qua đi: ngày cuối hạ, hoa sen tàn. Chiều tiễn đưa, em lên đường. Dẫu có tiếc nuối mùa hạ cũng không cầm giữ nổi, cũng như em khi đã đăng trình. Tôi chẳng quan tâm đến mục đích của cuộc ra đi (vả có quan tâm cũng chẳng thể bởi thi nhân có nói gì đâu). Chỉ biết sự dùng dằng của người đi kẻ ở, kẻ ở người đi tạo nên nét cá biệt cho nghệ thuật thơ. Giá trị thẩm mĩ ấy không chiếu rọi cho một mục đích cụ thể (có lẽ ban đầu thì khác) mà sẽ đúng cho bất kì cuộc tiễn đưa nào.

Sau cùng thi nhân xuống thuyền sang sông trên ánh nắng không còn giữ đươc màu trinh nguyên nữa, để con đường hẹp trước mặt rộng thêm, dài thêm, cho chí lớn chìm vào miền đau, và cô đơn trong lòng lữ khách hoà thành tiếng nấc nghẹn ngào buồn da diết trên hành trình đi vào miền tâm thức của ý tưởng lan truyền vượt qua khoảng dừng cCia ngôn từ câu chữ, tôi biết Thâm Tâm trong nhịp hành tống biệt sẽ còn đi rất xa.

LÊ H U Y BẮC

Một phần của tài liệu Ôn thi THPT môn ngữ văn phần 1 (Trang 74 - 87)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(241 trang)