Hội thoại trong ca dao, dân ca là lời đối đáp nam nữ, vẫn mang những đặc điểm chung nhất của lý thuyết hội thoại và hội thoại trong cuộc sống đời thường. Tuy nhiên, hội thoại trong ca dao là hội thoại đặc thù, phù hợp
chỉ diễn ra ở một số lượng câu rất ngắn, đa số là: hai câu đầu của chủ thể giao tiếp ở ngôi xưng thứ nhất và hai câu sau của đối tượng giao tiếp ở ngôi thứ hai. Lời trao đáp trong ca dao Nghệ Tĩnh thường không đi thẳng vào vấn đề mà vòng vo. Đây là nét văn hóa rất độc đáo của người Nghệ Tĩnh qua ca dao: ý nhị mà sâu sắc. Để cho cuộc trao đáp diễn ra thành công thì nhân vật tham gia phải tuân thủ đúng nguyên tắc hội thoại. Trong giao tiếp, nội dung giao tiếp không trực tiếp vào thông điệp mà nó được lọc qua người nói, in đậm dấu ấn chủ quan của người nói. Tuy nhiên, không phải người nói hoàn toàn tự do, muốn nói thế nào cũng được bởi vì thực tế độc lập với ý thức nên cả người nói và người nghe có nhận thức riêng.
Trong ca dao Nghệ Tĩnh xuất hiện giao tiếp một phía chỉ có xưng mà không có hô hoặc ngược lại có hô mà không có xưng ( hay có chủ thể giao tiếp nói mà không thấy đối tượng giao tiếp đáp lời). Có lời chỉ có vai nữ tự xưng:
Nhà em có một cây đào, Anh đi qua ngõ không vào mà chơi.
Đào ngon đào ngọt anh ơi,
Đào chua đào chát không mời anh ăn. [13, tr.363].
Có những bài chỉ có vai giao tiếp của nam ( tự xưng):
-Anh thương em biết nói mần răng, Lấy gió làm quạt, lấy trăng làm đèn
-Anh mà không lấy đƣợc em,
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu. [ 13, tr. 224]
Hay là sự đối đáp của đôi trái gái: Chàng trai trách cô gái rằng:
Anh đến cùng hoa thì hoa đã nở,
Anh đến cùng em thì em đã lấy chồng,
Em yêu anh nhƣ rứa đó có mặn nồng chi mô? [13, tr.224]
Cô gái cũng không kém phần sắc sảo:
Hoa đến thì thì hoa phải nở, Đò đã đầy thì đò phải sang sông.
Đến duyên em thì em phải lấy chồng,
Em yêu anh nhƣ rứa đó còn mặn nồng thì tùy anh. [13, tr.224]
Ngoài ra, trong ca dao trữ tình xuất hiện hiện tượng lướt lời không tuân theo nguyên tắc lượt lời. Chẳng hạn, mở đầu là lời hỏi của cô gái đối với chàng trai như trong bài ca dao sau:
Hỏi chàng khách lạ bóng trăng, Bỗng đâu mà biết Kim Lăng có chùa?
Nhưng không chờ chàng trai trả lời mà tiếp theo lại là lượt lời của cô gái:
Bây giờ mới tới Kim Lăng,
Cơn gió trỏ nẻo, bóng trăng đưa đường. [13, tr.310]
Dù có hiện tượng giao tiếp một phía hay có sự lướt lời trong ca dao của các nhân vật trữ tình thì vẫn không làm giảm hiệu quả giao tiếp.
Trong ca dao Nghệ tĩnh có tổ chức hỏi – đáp: Cô gái hỏi chàng trai rằng:
Mấy lâu anh mắc chi nhà,
Hoành Sơn núi lở anh đà biết chƣa?
Chàng trai liền trả lời:
Tai nghe em nói, dạ anh những lừ đừ, Ô hô núi lở răng chừ rứa em?
Do cơ chế hỏi – đáp nên xuất hiện người nói, người nghe. Trong giao tiếp do sự xuất hiện của người nói - người nghe nên nội dung thông điệp của ca dao đối đáp Nghệ Tĩnh được phát ra mang dấu ấn chủ quan của người nói, thể hiện rất rõ trong lời giãi bày của cô gái đối với chàng trai.
Tiểu kết:
Từ trước đến nay có rất nhiều định nghĩa về từ, tuy khác nhau nhưng đều chung một điểm là đều căn cứ vào tính hoàn chỉnh và tính cố định của từ để xác định từ tiếng Việt. Vì ngôn ngữ tiếng Việt rất giàu có nên từ tiếng Việt có những tiêu chí để xác định. Trong đó chúng ta phải kể đến hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt là cơ sở để chúng ta khảo sát từ xưng hô trong ca dao mà cụ thể là trong ca dao Nghệ Tĩnh. Từ xưng hô trong tiếng Việt rất đa dạng về chủng loại, linh hoạt và giàu màu sắc biểu cảm trong sử dụng.
Hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt bao gồm nhiều từ loại khác nhau nhằm đáp ứng tính đa dạng của xưng hô trong giao tiếp xã hội. Ca dao Nghệ Tĩnh là một loại giao tiếp bằng thơ nên có đặc trưng riêng về cách dùng từ xưng hô hội thoại. Trong ca dao Nghệ Tĩnh riêng và trong ca dao trữ tình nói chung có giao tiếp một phía, không tuân theo nguyên tắc lượt lời và cơ chế hỏi đáp.
Chương 2