QUI TRÌNH GIẢI QUYẾT MỘT VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ VÀ TRỢ GIÁ

Một phần của tài liệu GIỚI THIỆU THỊ TRƯỜNG CANAĐA – ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI (Trang 39 - 42)

CHƯƠNG IV MỘT SỐ ĐIỀU CẦN BIẾT KHI KINH DOANH VỚI CANAĐA

IV. QUI TRÌNH GIẢI QUYẾT MỘT VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ VÀ TRỢ GIÁ

1.Cơ sở luật pháp

Giống như nhiều quốc gia khác, Canađa cũng duy từ các biện pháp có tính truyền thống để bảo vệ các doanh nghiệp nội địa khỏi tổn thương do sự cạnh tranh không bình đẳng từ nguồn hàng nhập khẩu. Đạo luật về các Biện pháp Nhập khẩu Đặc biệt (Special Import Measures Act - SIMA) được thông qua năm 1984 là một trong những cơ chế luật pháp chính, theo đó sự bảo hộ được thực hiện dưới hình thức chống bán phá giá và trợ giá. Các điều khoản của SIMA đề cập đến những quyền lợi và nghĩa vụ của Canađa đối với việc áp dụng các biện pháp thương mại nhất định theo đúng tinh thần Hiệp định về thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Theo SIMA, nhà sản xuất xuất có thể yêu cầu trợ giúp để đối phó với sự cạnh tranh không bình đẳng và khả năng gây thiệt hại về vật chất từ nguồn hàng nhập khẩu nếu:

 Hàng nhập khẩu được bán Ở mức giá thấp hơn mức giá bán tại nước sản xuất ra mặt hàng đó hoặc thấp hơn giá thành sản xuất ra mặt hàng đó;

 Hàng nhập khẩu được hường lợi từ việc hỗ trợ tài chính của chính phủ nước nước sản xuất (còn gọi là trợ cấp).

Một số thuật ngữ được sử dụng trong SIMA:

 Thuật ngữ "tổn hại" (injury): đề cập đến

- Sự thiệt hại về vật chất đối với các nhà sản xuất các mặt hàng tương tự ở nội địa

- Sự cản trở về vật chất đối với việc hình thành một ngành sản xuất nội địa, hay

- Sự đe dọa sẽ gây thiệt hại về vật chất đối với những nhà sản xuất các mặt hàng tương tự ở nội địa.

Không có một định nghĩa chính xác về "tổn hại", tuy nhiên theo qui định trong SIMA và chỉ dẫn tại Hiệp định của WTO, các nhà chức trách sẽ cân nhắc đến sự gia tăng đáng kể lượng hàng nhập khẩu bán phá giá hoặc được trợ cấp hoặc cắt giảm giá đáng kể hoặc ghìm giá đáng kể như là các yếu tố đưa đến sự tổn hại vật chất. Bên cạnh đó, SIMA cũng qui định các yếu tố quan trọng khác cần được xem xét là: sự tác động đến sản lượng, doanh thu, thị phần, lợi nhuận, mức sử dụng, công suất, lượng hàng tồn kho và số lượng lao động được sử dụng. Tuy nhiên, tổn hại vật chất gây ra bởi những nhân tố khác này không thể

được coi là có liên hệ trực tiếp đến hàng nhập khẩu bán phá giá hoặc được trợ cấp.

 Thuật ngữ "hàng hóa tương tự": là những mặt hàng giống về mọi khía cạnh như mặt hàng đang bị điều tra tại thị trường Canađa. Trong trường hợp không có mặt hàng tương tự thì hàng hóa mà việc sử dụng nó và những đặc điểm khác gần giống như của mặt hàng xuất khẩu đang bị điều tra sẽ được dẫn chiếu.

 Thuật ngữ "giá trị thông thường": thường được dựa trên mức giá mà nhà xuất khẩu bán mặt hàng tương tự cho tiêu dùng nội địa trong điều kiện thương mại thông thường. Nếu giá trị thông thường không thể xác định dựa trên giá bán nội địa thì giá trị thông thường sẽ được xác định dựa trên mức bình quân chi phí sản xuất, chi phí hành chính, các chi phí khác và một khoản lợi nhuận.

Trong trường hợp thiếu các thông tin bắt buộc thì giá trị thông thường do Cơ quan Dịch vụ Biên giới Canađa (CBSA) xác định.

2.Qui trình điều tra bán phá giá, trợ giá Khởi kiện:

Khi một hoặc nhiều nhà sản xuất Canađa tin rằng hàng nhập khẩu bán phá giá hoặc được trợ giá đang gây thiệt hại cho doanh nghiệp của họ thì có thể gửi đơn kiện đến Cơ quan Dịch vụ Biên giới Canađa (CBSA). Hiệp hội các nhà sản xuất cũng có thể làm đơn kiện. Một đơn kiện phải đề cập đầy đủ thông tin về hàng hóa sản xuất tại Canađa, hàng nhập khẩu, ngành công nghiệp trong nước và các điều kiện trên thị trường Canađa. Đơn kiện cũng phải cung cấp đầy đủ bằng chứng liên quan đến việc bán phá giá hay trợ cấp của hàng nhập khẩu và sự tổn hại diễn ra đối với ngành công nghiệp của Canađa.

Khi nhận được đơn kiện, CBSA sẽ đánh giá và xác định rằng đơn kiện dựa trên các bằng chứng hợp lý về việc bán phá giá hay được trợ giá gây ra tổn hại vật chất. CBSA có thể ra quyết định tiến hành điều tra chính thức để xác định liệu hàng hóa nhập khẩu vào Canađa đang được bán phá giá hay được trợ cấp hay không. Để đảm bảo có được sự ủng hộ đầy đủ của ngành công nghiệp Canađa cho quá trình điều tra, các nhà sản xuất trong đơn kiện phải chiếm ít nhất 25% sản lượng của ngành.

Điều tra bán phá giá, trợ giá:

Thông thường Cơ quan Dịch vụ Biên giới Canađa (CBSA) hoàn tất công tác điều tra của mình trong vòng 90 ngày. Sau khi hoàn tất điều tra, CBSA có thể:

chấm đứt điều tra khi không tìm thấy biểu hiện hợp lý rằng việc bán phá giá hay trợ giá của hàng nhập khẩu đang gây tổn hại cho ngành sản xuất trong nước; đưa ra phán quyết sơ bộ.

Phán quyết sơ bộ của CBSA thường chỉ ra mức bán phá giá sơ bộ hay mức trợ giá sơ bộ, phần trăm hàng nhập khẩu được bán phá giá hay được trợ giá và liệu có biểu hiện hợp lý về sự tổn hại vật chất hay không. Ngay khi phán

quyết sơ bộ được đưa ra, CBSA sẽ tiến hành áp thuế tạm thời lên hàng nhập khẩu bán phá giá hoặc được trợ giá.

Cơ quan có thẩm quyền thứ hai về vấn đề chống bán phá giá và trợ giá là Tòa án Thương mại Quốc tế Canađa (CITT). CITT sẽ tiến hành điều tra về sự thiệt hại vật chất ngay khi CBSA đưa ra phán quyết sơ bộ.

CITT phải đảm bảo rằng tất cả các bên liên quan đều được biết về đơn kiện bằng cách ra thông báo trên Công báo Canađa (ở phần I), và gửi đến tất cả các bên liên quan. Thông báo cho biết sản phẩm và quốc gia xuất khẩu, tóm lược những luật lệ chung mà các bên liên quan phải tuân thủ khi muốn tham gia theo kiện. Thông báo cũng cho biết ngày (thời điểm) đệ trình văn bản liên quan, thu thập thông tin theo yêu cầu của CITT và ngày giờ, địa điểm tiến hành tổ chức xét xử công khai. Bên cạnh đó, CITT cũng yêu cầu thông tin từ các bên liên quan, chấp nhận đại diện của các bên, tiến hành chuyến thăm điều tra tại cơ sở.

Các bên liên quan có thể tự mình theo kiện. Tuy nhiên do các vụ kiện thường phức tạp nên hầu hết các bên lựa chọn luật sư để đại điện cho mình.

CITT thu thập thông tin qua bảng câu hỏi và phỏng vấn với nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và người mua do CBSA lập. Những thông tin thu thập được giúp hình thành báo cáo, trên cơ sở đó CITT đánh giá các yếu tố chính để đi đến tyết định cuối cùng. Toàn bộ thông tin thu thận được đều được CITT lưu giữ theo chế độ bảo mật, theo đúng qui định về Đạo luật về Tòa án Thương mại quốc tế Canađa (The CITT Act).

Cùng thời điểm có phán quyết sơ bộ, CITT thường sẽ tổ chức phiên điều trần. Tại đây, ngành sản xuất trong nước phải cung cấp bằng chứng chứng minh việc bán phá giá hay trợ giá hàng nhập khẩu đang gây tổn hại hay làm cản trở hay đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước. Nhà nhập khẩu hay xuất khẩu và đôi khi cả người sử dụng sẽ có cơ hội phản bác lại những bằng chứng của bên nguyên đơn. Phiên điều trần này được tiến hành vào giai đoạn cuối của quá trình điều tra sau khi đã có những phát hiện về việc gây tổn hại. Một yếu tố quan trọng là liệu các mặt hàng nhập khẩu đang được bán phá giá hoặc trợ cấp có đang gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại cho ngành công nghiệp của Canađa hay không. Sự tổn hại này có thể được chỉ ra bằng:

 Giá bán giảm,

 Mất doanh thu,

 Mất thị phần,

 Lợi nhuận giảm,

 Cắt giảm nhân công lao động, và

 Những khó khăn khác.

Cân nhắc đến lợi ích của cộng đồng:

Trong quá trình điều tra, Tòa án Thương mại Quốc tế Canađa (CITT) có thể thấy rằng vụ kiện và kết quả điều tra cuối cùng có thể gây ra sự chú ý (hoặc

phản ứng) mạnh mẽ từ công chúng. CITT có thể đề nghị Bộ trường Bộ Tài chính Canađa xem xét giảm hoặc loại bỏ thuế bán phá giá hoặc trợ giá, sau khi đưa ra được những lý do thuyết phục vì quyền lợi của công chúng. Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ quyết định liệu có giảm hay loại bỏ thuế hay không.

Ngay khí quyết định tiến hành điều tra, Cơ quan Dịch vụ Biên giới Canađa (CBSA) sẽ gửi bảng câu hỏi chi tiết đến nhà sản xuất nước ngoài (có thể cũng đồng thời là nhà xuất khẩu) sản xuất sản phẩm đang bị điều tra. Trong từng trường hợp cụ thể, câu hỏi có thể khác nhau vì còn phụ thuộc vào đặc điển của từng vụ kiện và từng loại sản phẩm. Tuy nhiên nhiều câu hỏi thường được tiêu chuẩn hóa. Danh mục câu hỏi mà nhà xuất khẩu phải trả lời có thể tóm lược trong mấy loại sau:

Một phần của tài liệu GIỚI THIỆU THỊ TRƯỜNG CANAĐA – ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI (Trang 39 - 42)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(103 trang)
w