Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG - THỐNG KÊ CẤP XÃ
1.2. Năng lực của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã
Năng lực: Khi nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả trong hoạt động nào đó. Muốn hoạt động có kết quả thì cá nhân phải có những phẩm chất tâm lý nhất định phù hợp với yêu cầu của hoạt động đó. Nếu thuộc những tâm lý không phù hợp với yêu cầu của hoạt động đó thì coi như không có năng lực.
Trong các từ điển tiếng Việt thì năng lực được hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên, sẵn sàng có thể thực hiện một hoạt động nào đó‟‟, hoặc theo một nghĩa khác, năng lực là “phẩm chất, tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hành động nào đó với chất lượng cao‟‟.
Năng lực vừa là cái “tự nhiên‟‟ sẵn có, vừa là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Năng lực con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có‟‟.
Trong khoa học hành chính, các nhà nghiên cứu cho rằng năng lực là
“khả năng về thể chất và trí tuệ của cá nhân con người, hoặc khả năng của một tập thể có tổ chức tự tạo lập và thực hiện được các hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ do mình đề ra hoặc do Nhà nước hay chủ thể khác ấn định với kết quả tốt nhất‟‟.
Từ những cách tiếp cận thuật ngữ năng lực nói trên, có thể hiểu năng lực thực hiện công việc là sự tổng hợp của kiến thức, kỹ năng, thái độ. Người có năng lực về một hoạt động nào đó, trước hết họ cần có một kiến thức chuyên môn nhất định để họ có những hiểu biết về công việc họ đang thực hiện.
Năng lực cần có khác với trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ là kiến thức cần có để có thể đảm nhiệm một vị trí việc làm chứ không liên quan trực tiếp đến hoàn cảnh làm việc cụ thể nào đó.
Ngoài kiến thức, cần có những kỹ năng làm việc khác để tổ chức thực hiện công việc theo một quy trình nhất định. Kiến thức, kỹ năng cho phép một người biết làm việc và đem lại hiệu quả.
Tóm lại: Năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã là tổng hợp những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho phép một công chức Văn phòng - Thống kê thực hiện tốt các chức trách, nhiệm vụ được giao.
1.2.2. Các yếu tố cấu thành năng lực
Là tổng hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, mà nó ảnh hưởng đến công việc (vai trò hay trách nhiệm); chúng tương quan lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ, có thể nâng cao được thông qua đào tạo và phát triển.
Các yếu tố cấu thành năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã bao gồm: kiến thức, kỹ năng và thái độ của công chức khi thực thi công vụ.
Là tổng hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, mà nó ảnh hưởng đến công việc (vai trò hay trách nhiệm); chúng tương quan lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ, có thể nâng cao được thông qua đào tạo và phát triển.
Các yếu tố cấu thành năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã bao gồm: kiến thức, kỹ năng và thái độ của công chức khi thực thi công vụ.
- Kiến thức: Kiến thức có được thông qua đào tạo, bồi dưỡng và thông qua tích lũy từ thực tế được phản ánh thông qua trình độ đào tạo và kinh nghiệm công tác. Như vậy, trình độ là mức độ về sự hiểu biết, được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó thể hiện ở văn bằng, chứng chỉ mà mỗi công chức nhận được thông qua quá trình học tập. Tiêu chuẩn về trình độ thường được sử dụng để xếp công chức hành chính vào hệ thống ngạch, bậc. Trình độ công chức thường được đánh giá qua các tiêu chí cơ bản như: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ và tin học, trình độ chính trị và trình độ QLNN.
- Kinh nghiệm công tác: là sự trải nghiệm, từng trải hay sự hiểu biết, thông thạo do đã từng trải về lĩnh vực, công việc, đã thấy được kết quả khiến cho có thể phát huy được mặt tốt và khắc phục mặt chưa tốt trong quá trình công tác.
- Kỹ năng nghiệp vụ của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã. Kỹ năng là khả năng của một người biết vận dụng kiến thức và kinh nghiệm để hoàn thành tốt công việc, là khả năng làm tốt một công việc, là cách thức đặc biệt để thực hiện một công việc nào đó.
Kỹ năng nghiệp vụ là tổng hợp những cách thức, phương thức, biện pháp tổ chức và thực hiện giải quyết công việc, thể hiện ở khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn vào thực tế, sự thành thạo và nắm vững nghiệp vụ trên những lĩnh vực nhất định.
- Thái độ thực thi công vụ: Phong cách làm việc và thái độ ứng xử trong giao tiếp của đội ngũ công chức tại công sở đều ảnh hưởng đến hình ảnh của cơ quan, đơn vị, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc và hiệu lực QLNN. Văn hóa công sở trong cơ quan được hiểu là những quy tắc, chuẩn mực ứng xử
giữa công chức với tổ chức, công dân và giữa công chức với nhau, nhằm phát huy tối đa năng lực để đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động công vụ.
Văn hóa công sở còn là biểu hiện của một xã hội văn minh, nề nếp, kỷ cương, ở đó mỗi công chức đều thấy rõ trách nhiệm của mình và luôn chủ động, tự giác, tích cực làm tròn nhiệm vụ, hoàn thành tốt phần công việc được giao.