Để nâng cao hiệu quả công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, ngoài các yếu tố về đội ngũ y bác sỹ, trang thiết bị máy móc hiện đại…thì việc quản lý danh mục hóa chất trong bệnh viện cũng rất quan trọng, góp phần cải thiện về chất lượng chăm sóc y tế. Công tác quản lý hóa chất sẽ không hiệu quả khi trong danh mục hóa chấtcó quá nhiều hóa chất mang tính chất thương mại và việc quản lý danh mục không được quan tâm đúng mức. Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện đa khoa Thành Phố Vinh đã xây dựng danh mục hóa chất sử dụng tại bệnh viện để đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc phục vụ công tác khám chữa bệnh năm 2018.
4.1.1. Chi phí hóa chất, vật tư y tế bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2018
Hiện nay các kết quả xét nghiệm, siêu âm, chẩn đoán hình ảnh có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ các bác sĩ chẩn đoán bệnh cho bệnh nhân, để có được kết quả chính xác thì hóa chất sử dụng vô cùng quan trọng. Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh được sở hữu một số trang thiết bị hiện đại, thông thường hóa chất đi kèm với máy móc nên việc sử dụng hóa chất là phù hợp, phải tuân thủ nghiêm về mặt kỹ thuật để cho ra chỉ số chính xác hơn. Trong năm 2018,
41
Bệnh viện sử dụng hết 17.948.198.134 đồng tiền hóa chất chiếm tỷ lệ 15,24%.
Chí phí sử dụng hóa chất đứng thứ 2 chỉ sau chi phí sử dụng thuốc. So với một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh như bệnh viện Hữu Nghị Đa Khoa Tỉnh Nghệ An chi phí hóa chất chiếm giá trị trên 38 tỷ đồng với tỷ lệ là 13,4%. Điều này cho thấy nhu cầu hóa chất sử dụng tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh cao hơn (15,24%) nhưng thể hiện được việc sử dụng tại đơn vị là tương đối hợp lí.
4.1.2. Cơ cấu hóa chất theo nguồn gốc, xuất xứ tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2018
Theo chỉ thị của Bộ y tế ưu tiên lựa chọn hóa chất sản xuất trong nước là một trong những nguyên tắc mà Bộ y tế đặt ra trong lựa chọn hóa chất sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh. Các hóa chất nhập khẩu chỉ lựa chọn khi hóa chất sử dụng trong nước không đáp ứng hiệu quả điều trị hoặc không có. Bởi vì việc sử dụng hóa chất sẽ làm giảm chi phí cho bệnh nhân đồng thời cũng góp phần khuyến khích sản xuất trong nước phát triển.
Kết quả phân tích việc sử dụng hóa chất, vật tư y tế tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2018 thì có sự chênh lệch rất lớn về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa. Trong 293 mặt hàng hóa chất thì có 258 hóa chất được nhập khẩu chiếm 88,1% với 94,5% giá trị hóa chất sử dụng trong bệnh viện năm 2018.
Trong khi đó có 11,9 % hóa chất sản xuất trong nước và giá trị của hóa chất sản xuất trong nước là 992.596.000 đồng chiếm 5,5 % được sử dụng hóa chất bệnh viện sử dụng chủ yếu nhập khẩu từ nhóm các nước G7, tương đương với 234 mặt hàng chiếm 79,8% và 83,9% về giá trị. Bên cạnh đó hóa chất sản xuất trong nước chỉ có 35 mặt hàng chiếm 5,5% giá trị. Kết quả này so với các viện khác cũng tương tự như Bệnh viện Hữu Nghị Đa Khoa Tỉnh Nghệ An hóa chất nhập khẩu chiếm 86,1% giá trị và 93,4% số lượng mặt hàng. Kết quả này có thể giải thích được do trong những năm gần đây, số lượng bệnh nhân rất lớn, mức độ bệnh tật của bệnh nhân nặng hơn nên cần hóa chất có chất lượng và sử dụng nhiều loại xét nghiệm cần độ chính xác cao. Hóa chất sử dụng trong bệnh viện hầu như sử dụng theo máy vì hóa chất phải đồng bộ với máy: cùng hãng sản
42
xuất, cùng thông số kỹ thuật, cùng kích cỡ mẫu. Những hóa chất dùng cho các kỹ thuật cần có chất lượng tốt. Những hóa chất như sát trùng, ngâm dụng cụ,…
không đạt chất lượng thì sẽ không đảm bảo cho bệnh nahan khi sử dụng. Chất lượng hóa chất góp phần rất lớn tới thành công của các cuộc phẫu thuật, thủ thuật. Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh sử dụng hóa chất theo nguồn gốc xuất xứ tương đối phù hợp so với bệnh viện Đa khoa Hữu Nghị Nghệ An, tuy nhiên sử dụng hóa chất nhập khẩu còn cao hơn so với hàng và giá trị sử dụng hàng trong nước.
4.1.3. Cơ cấu hóa chất theo đấu thầu tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2018
Theo kết quả khảo sát, số lượng hóa chất trúng thầu tại bệnh viện là 402 mặt hàng chiếm tỷ lệ cao hơn (67,9%) so với số lượng hóa chất trúng thầu tại SYT là 193 mặt hàng (32,4%). Do hóa chất đấu thầu tại bệnh viện phù hợp với máy móc kỹ thuật và trình độ chuyên môn của bệnh viện. Tỷ lệ hóa chất trúng thầu tại SYT được bệnh viện sử dụng còn thấp chỉ chiếm 24,9%. Hóa chất trúng thầu tại SYT chưa sử dụng chiếm 75,1%. hóa chất trúng thầu tại bệnh viện đã sử dụng chiếm tỷ lệ cao (60,9%). Tuy vậy vẫn có 39,1% hóa chất chưa sử dụng.
Nguyên nhân có thể do sau khi đấu thầu, một số kỹ thuật chưa kịp triển khai trong năm 2018 dẫn tới hóa chất liên quan trúng thầu nhưng chưa được sử dụng.
Khi lên danh mục đấu thầu những hóa chất liên quan tới máy đều phải đấu thầu và những kỹ thuật sắp triển khai cần những xét nghiệm mới thì hóa chất cùng cần đấu thầu trước, cũng do một phần nguyên nhân cũng xuất phát từ việc bệnh viện dự trù danh mục thầu chưa hợp lý.
4.1.4. Cơ cấu sử dụng hóa chất theo mục đích sử dụng tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2018
Danh mục hóa chất tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2018 gồm 14 nhóm theo mục đích sử dụng. Về số lượng KM, nhóm hóa chất miễn dịch chiếm tỷ lệ cao nhất với 100 KM chiếm 37,5 % và có tiếp đến là nhóm hóa chất sinh hóa với 59 KM với 20,1 % và nhóm hóa chất xét nghiệm vi sinh sinh với 27 KM
43
chiếm 9,2%. Với số lượng KM thuốc lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự lựa chọn nhưng lại khó khăn trong việc cung ứng vì phải mua rất nhiều loại hóa chất. Về giá trị sử dụng, nhóm hóa chất dùng cho xét nghiệm sinh hóa chiếm tỷ lệ cao nhất với 39,9 % (7.160.964.456 đồng), tiếp theo là nhóm hóa chất xét nghiệm miễn dịch và các loại test xét nghiệm (27,4% và 8,8%). Nhóm hóa chất vi sinh chiếm 2,0 % khoản mục và 9,2% giá trị sử dụng. Hiện nay, các xét nghiệm sinh hóa là xét nghiệm thường quy tại bệnh viện, được chỉ định để đánh giá tổng quát tình trạng sức khỏe của bệnh nhân ngay khi họ vào khám bệnh và theo dõi diễn biến bệnh đối với bệnh nhân điều trị nội trú. Vì thế, hóa chất dùng cho xét nghiệm sinh hóa chiếm tới 39,9% tổng giá trị sử dụng và số lượng mặt hàng chiếm 20,1%. Các xét nghiệm vi sinh ngày càng được sử dụng nhiều do yêu cầu cấp thiết của việc dùng kháng sinh hợp lý, hạn chế tối đa trường hợp kháng thuốc của vi khuẩn. Điều này hoàn toàn phù hợp với mô hình của bệnh viện. Tuy nhiên, bệnh viện lại chưa xây dựng định mức sử dụng cho các máy xét nghiệm, nên có thể xảy ra hiện tượng sử dụng lãng phí hóa chất ảnh hưởng đến giá thành của xét nghiệm.