4.1.1. Đặc điểm bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
Theo kết quả khảo sát, độ tuổi trung bình trong mẫu nghiên cứu là 71,2±8,2, thấp nhất là 60 tuổi, và cao nhất là 96 tuổi.Điều này là hoàn toàn phù hợp với dịch tễ của các bệnh về cơ xương khớp. Về giới tính, chúng tôi nhận thấy người bệnh là nữ giới vào điều trị cao hơn nam giới 1,54 lần (tỷ lệ tương ứng là 60,7% và 39,3%), kết quả này phù hợp với đặc điểm bệnh trong mẫu nghiên cứu và phù hợp với nghiên cứu khảo sát của nhiều tác giả [23],[29],[35].
Do người bệnh trong mẫu nghiên cứu đều là người cao tuổi nên ngoài bệnh chính điều trị tại khoa Lão khoa – Cơ xương khớp còn mắc thêm những bệnh lý khác là hợp lý, với tỷ lệ bệnh nhân có bệnh mắc kèm là 88%.
Thời gian mắc bệnhcủa người bệnh dưới 3 tháng chiếm 48,3%, từ 3 tháng đến 1 năm chiếm 30,9%, trên 1 năm chiếm 14,9% là phù hợp với đặc điểm bệnh thường gặp và giai đoạn của bệnh khi đến khám, điều trị tại bệnh viện.
Theo kết quả kháo sát, các bệnh cơ xương khớp mà người bệnh đến điều trị tại khoa Lão khoa – cơ xương khớp, bệnh viện Bãi Cháy khá phong phú với 11 nhóm bệnh lý, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là thoái hóa khớp gối (28,8%), hội chứng đau thắt lung (20,9%), đau thần kinh tọa (12,9%), Gout (10,5%), viêm quanh khớp (10,9%) và các bệnh lý viêm khớp dạng thấp, viêm khớp, hội chứng cổ vai gáy chiểm tỷ lệ thấp hơn (4,0 – 5,4%); một số bệnh lý khác như loãng xương, viêm mủ khớp gối trái, viêm cột sống dính khớp đều chỉ gặp trong 1 trường hợp bệnh nhân (0,5%). Tỷ lệ các bệnh lý cơ xương khớp gặp phải trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt so với một số nghiên cứu, như trong nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hoài tại khoa Cơ, xương, khớp, bệnh viện Bạch Mai (2000), bệnh chiếm tỷ lệ nhiều nhất là viêm cột sống dính khớp (14,8%), viêm khớp dạng thấp chiếm 14,1%, hội chứng thắt lung hông chiếm 6,9%, thoái hóa cột sống chiếm 7,6%, còn các bệnh lý khác chiếm tỷ lệ ít hơn [24]. Còn trong nghiên cứu của Đỗ
50
Thị Hương Giang (2017) tại bệnh viện Y học cổ truyền Thái Nguyên cũng cho thấy hội chứng thắt lưng hông chiếm tỷ lệ cao nhất 23,6%, viêm khớp dạng thấp chiếm 21,7%, đau thần kinh tọa chiến 15,9%, thoái hóa cột sống cùng chiếm 14%, hội chứng cổ vai tay là 12,7%, viêm quanh khớp là 12,1% [23]
Các bệnh nhân khi vào viện được chỉ định kiêm tra chức năng gan, thận là 168 người, chiếm 83,6%, trong đó có 3 bệnh nhân có bất thường về kết quả xét nghiệm chức năng gan (1,5%) và 11 bệnh nhân bị suy thận, cụ thể là 9 bệnh nhân suy thận nhẹ, 1 bệnh nhân suy thận trung bình và 1 bệnh nhân suy thận nặng (chiếm 5,5%). Vẫn còn tới 33 bệnh nhân, chiếm 16,4% không được làm các xét nghiệm liên quan đến chức năng gan, thận nên không đánh giá được trong số này có bệnh nhân nào có bất thường liên quan đến chức năng gan, thận hay không.
Tất cả 201 bệnh nhân (100%) đều được chẩn đoán khi ra viện là đỡ, giảm.
Không có bệnh nhân nào khỏi và không đỡ do đặc điểm của bệnh cơ, xương khớp chủ yếu là bệnh mạn tính, chỉ điều trị được triệu chứng và triệu chứng đau cũng chính là nguyên nhân bắt buộc người bệnh phải vào viện điều trị. Một phần nữa là do một số bệnh nhân mắc bệnh lý cấp tính (ví dụ như hội chứng đau thắt lưng) thì thời gian nằm viện ngắn, bệnh nhân có dấu hiệu cải thiện nhiều, vận động được sẽ có chỉ định ra viện và tiếp tục điều trị ngoại trú.
4.1.2. Thực trạng sử dụng thuốc điều trị bệnh cơ xương khớp trong mẫu khảo sát Tình trạng người bệnh khi đến khám vào viện phần lớn đều có triệu chứng mệt, đau nhức các khớp, hạn chế vận động…vì vậy người bệnh đều được sử dụng các thuốc giảm đau và chống viêm. Nhóm thuốc giảm đau được sử dụng trong 192trường hợp, chiếm 95,5%., trong đó paracetamol sử dụng cho cả 192 bệnh nhân, còn pregabalin sử dụng kết hợp trong 70 trường hợp (chiếm 34,8%). Kết quả của chúng tôi cao hơn hẳn với kết quả sử dụng paracetamol để giảm đau trong nghiên cứu của Đỗ Thị Hương Giang tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên [23] và Nông Thị Len tại bệnh viện điều dưỡng và phục hội chức năng Thái Nguyên [29].
Trong phác đồ của Bộ Y tế, hầu hết các bệnh lý cơ xương khớp đều được điều trị bằng nhóm thuốc chống viêm, và phổ biến nhất là nhóm chống viêm
51
NSAID.Nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng nhóm NSAID được chỉ định trong 83,6%, corticoid được chỉ định trong 7,0% và colchicin dùng trong 12,9% các trường hợp trong mẫu nghiên cứu. Các bệnh nhân khi mới nhập viện có chỉ định dùng NSAID đường tiêm (gồm meloxicam 15mg/ml, chiếm 46,3%, diclofenac 75mg/3ml chiếm và sau đó chuyển sang đường uống. Trong đó, thuốc được sử dụng nhiều nhất là meloxicam 7,5mg đường uống (83,6%). Hoạt chất meloxicam có những ưu điểm nổi bật hơn các NSAID khác như liều thấp hơn, chỉ cần dùng 1 lần/
ngày, tác dụng trên COX-2 gấp khoảng 10 lần trên COX-1, tác dụng giảm đau tương tự diclofenac nhưng tác dụng phụ trên ống tiêu hóa rất ít gặp so với diclofenac. Celecoxid được chỉ định trong 4 trường hợp, chiếm 2,0% mẫu.
Nhóm thuốc chống viêm corticoid được sử dụng trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi khá ít, chỉ trong 14 trường hợp, chiếm 7,0% với hoạt chất methylprednisolon, chỉ định đường tiêm với 8 bệnh nhân (4,0%) và cả 14 bệnh nhân đều sử dụng đường uống trong nối tiếp điều trị.
Colchicin dùng cho cả 21 trường hợp bệnh nhân bị gout vào viện điều tri, trong đó có 2 bệnh nhân được điều trị nối tiếp bằng allopurinol.
Nhóm thuốc dùng trong điều trị tiếp theo được sử dụng điều trị bệnh lý cơ xương khớp tại bệnh viện Bãi Cháy là nhóm chống thoái hóa khớp chậm. Do bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi đều là bệnh nhân cao tuổi, co dấu hiệu lão hóa ( tuổi trung bình là 71,2±8,2) nên trong nhiều trường hợp nằm viện vì bệnh lý cơ xương khớp khác cũng được chỉ định bổ sung thêm hoạt chất thuộc nhóm chống thoái hóa khớp chậm, cụ thể là glucosamine, chiếm 44,3%. Diacerin dùng trong 15,4% mẫu.
Nhóm thuốc chống loãng xương được sử dụng trong nghiên cứu của chúng tôi gồm có alendronat, và calcitonin, với 66 trường hợp bệnh nhân được chỉ định.
Ngoài các nhóm thuốc chính dùng trong điều trị kể trên, còn có nhóm thuốc hỗ trợ điều trị được sử dụng, gồm thuốc giãn cơ, giảm tiết acid dạ dày, vitamin và khoáng chất.Nhóm vitamin và khoáng chất được sử dụng trong hầu hết các trường hợp, nhiều nhất là calci –vitamin D (89,1%), vitamin B1-B6-B12 chiểm 68,7% và
52
mecobalamin là 15,4%. Nhóm thuốc giãn cơ với hoạt chất chính được sử dụng trong mẫu nghiên cứu là eperison cũng có trong 73,6% cỡ mẫu. Nhóm giảm tiết acid, bảo vệ dạ dày được sử dụng trong nghiên cứu của chứng tôi chỉ có nhóm ức chế bơm proton, với omeprazole đường tiêm (52,2%), ít sử dụng hơn là rabeprazol (9,5%), lansoprazol đường uống chiếm 20,9% và omeprazole đường uống được sử dụng nhiều nhất nhóm (65,2%).