hơn là những tác nhân của cái chết trong thế kỷ 20: thiết giáp, máy bay ném bom, và hơi độc; những hầm hố, những nấm mồ của các chiến sĩ vô danh, những trại tập trung, và những hố chôn tập thể.
Khi lưu tâm tới những khủng khiếp đó, những khủng khiếp đa phủ bóng tối lên mọi thành tựu của thời đại mà sự sống đã ban cho, người ta thường nảy sinh một số ghi nhận chung. Trong khi diễn ra những sự kiện kinh hoàng, người châu Âu đã vứt bỏ vị thế lãnh đạo thế giới; châu Âu đã bị che khuất bởi sự điên loạn của chính nó.
Vào năm 1914, uy tín và sức mạnh của châu Âu là vô song. Người châu Âu đã đứng đầu trong hầu hết mọi lĩnh vực mà người ta có thể nêu ra - khoa học, văn hóa, kinh tế... Qua các đế quốc thuộc địa và những công ty thương mại, các cường quốc châu Âu thống trị thế giới. Đến 1945, hầu hết điều đó đã tuột khỏi tay châu Âu: người châu Âu đã bắn giết nhau đến độ kiệt sức. Sức mạnh chính trị của châu Âu đã suy giảm rất nhiều; sức mạnh quân sự và kinh tế của châu Âu đã bị bắt kịp và vượt qua; sức mạnh đế quốc của châu Âu không còn tồn tại. Văn hóa châu Âu không còn tin tưởng vào khả năng của nó; uy tín và vị thế tinh thần của châu Âu đã tan thành mây khói. Ngoại trừ một trường hợp ngoại lệ, mọi quốc gia châu Âu tiến vào binh lửa 1914 đều phải chịu thảm bại về quân sự và hủy diệt về chính trị. Quốc gia duy nhất đã né tránh được thảm họa toàn diện thì chỉ có thể sống còn bằng cách từ bỏ sự độc lập tài chính và chính trị của nó. Khi cát bụi của thời chiến cuối cùng đã lắng xuống, những điêu tàn của châu Âu được kiểm soát bởi hai cường quốc ngoài châu Âu là Hoa Kỳ và Liên Xô, hai cường quốc không có mặt vào lúc khởi đầu cuộc chiến.
Bản đồ 24: Âu châu trong đại chiến 1914-1918
Trên mặt trận tinh thần, ta phải ghi nhận về sự tương phản lớn lao giữa tiến bộ vật chất của văn minh châu Âu với sự thoái bộ khủng khiếp trong những giá trị tri thức. Chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa phát-xít và chủ nghĩa cộng sản tìm thấy những người tham gia không những chỉ trong những tầng lớp đại chúng của những quốc gia bị chiến tranh tàn phá hơn cả mà còn giữa những tinh hoa có học vấn nhất của châu Âu và trong
những quốc gia dân chủ nhất của nó.
Trên mặt trận biên chép sử, ta phải ghi nhận sự việc là những điều kinh khiếp tại châu Âu đã diễn ra trong một khoảng thời gian không quá một đời người, và những quan điểm có tính chủ quan, phe phái và đượm màu sắc chính trị vẫn tiếp tục ngự trị trong cảm nghĩ của người dân. Dẫu sao, đó là bản chất của con người. Trong cả hai cuộc Thế chiến, có một điều như nhau đã xảy ra đó là chiến thắng đã ngả về phía những liên minh các cường quốc; và lối giải thích của các cường quốc này về thời kỳ đó vẫn tiếp tục thống trị các sách lịch sử và truyền thông đại chúng thời hậu chiến.
Trên mặt trận diễn giải về chiến tranh, nhiều năm đã trôi qua trước khi một số sử gia bắt đầu trầm tư về tính thống nhất của “nội chiến châu Âu”.
Những người đã sống qua hai cuộc Thế chiến thường có ấn tượng về những sự không liên tục của chúng. “Cuộc chiến tranh của người lính”
1914-1918 thường được cho là rất khác với “cuộc chiến tranh của người dân” 1939-1945. Giờ đây, sau khi sự việc đã xảy ra, người ta càng lúc càng hiểu rõ rằng những xung đột nối tiếp nhau đó đã hình thành một phần của một tiến trình năng động: hai cuộc Thế chiến là những hồi riêng lẻ của cùng một vở kịch. Hơn hết thảy, những đấu thủ chính của Thế chiến thứ Hai đã được tạo ra bởi sự việc đang còn dang dở của Thế chiến thứ Nhất.
Đối đầu với chủ nghĩa bành trướng Đức, và sau đó là đối đầu với chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát-xít, các quốc gia dân chủ châu Âu chỉ có thể sống còn bằng cách kêu gọi sự trợ giúp của Hoa Kỳ - trước tiên trong 1917-1918 và sau đó trong 1941-1945. Sau đó họ đã phải dựa nhiều vào sức mạnh của Hoa Kỳ để có thể đứng vững.
Do vậy, những năm từ 1914 đến 1945 là khoảng thời gian rối ren của châu Âu, lấp đầy khoảng không gian nằm giữa nền hòa bình lâu dài của cuối thế kỷ 19 và một nền hòa bình lâu dài hơn của “Chiến Tranh Lạnh”.
Những năm đó bao gồm những chạm trán quân sự dữ dội 1914-1918, sự sụp đổ của bốn đế chế, sự bùng nổ cách mạng cộng sản tại Nga, sự nổi lên của một chục nhà nước có chủ quyền. Thời gian ngưng bắn của những thập niên giữa hai Thế chiến, phát-xít nắm quyền tại Italy, Đức và Tây Ban Nha, và rồi là Thế chiến thứ Hai 1939-1945.
Ở trung tâm của những rối ren là Đức, một nhà nước dân tộc mới nhất, năng động nhất châu Âu và đang bực tức nhất vì không hài lòng. Ranh giới của vùng chấn động chạy dọc theo biên giới phía đông của Đức. Đức không ấp ủ nhiều ý đồ chống Tây Âu. Nhưng tại Đông Âu, nó đứng trước sự hấp dẫn của các láng giềng tương đối yếu và nghèo, cùng với nước Nga, là sự thách thức của quốc gia châu Âu duy nhất có thể tranh đua với sức mạnh quân sự Đức. Vì lý do đó, từ khởi đầu, cuộc đấu tranh để nắm quyền quyết định tương lai của châu Âu là giữa Đức và Nga. Từ khởi đầu, các chế độ dân chủ phương Tây bị xem là có vai trò của những kẻ cướp bóc, không quan tâm đến số phận của những người châu Âu tại Đông Âu, nhưng quyết tâm chặn đứng sự phát triển của bất cứ cường quốc quá tham vọng nào của châu lục nhằm tránh nguy cơ cường quốc đó cuối cùng sẽ quay lại chống phương Tây. Nhóm các sức mạnh đó chi phối đời sống chính trị châu Âu trong phần còn lại của thế kỷ 20. Nó tồn tại ở dưới hai cuộc Thế chiến, và do phát minh vũ khí nguyên tử và sự can dự của người Mỹ, nên nó có thể gây ra một Thế chiến thứ Ba.
Tuy vậy, bằng cách này hay cách khác, kỷ nguyên xung đột toàn diện đã được giới hạn trong 30 năm đẫm máu. Nó đã bắt đầu và kết thúc tại Berlin, thủ đô Đức. Nó đã bắt đầu vào ngày 1 tháng Tám 1914, tại Dinh Chưởng ấn, bằng tuyên chiến của hoàng đế Đức với Nga. Nó kết thúc ngày 8 tháng năm 1945 tại Sở chỉ huy quân đội Liên Xô tại Berlin-Karlshorst, nơi điều ước thứ ba cho biết Đức đã đầu hàng vô điều kiện.
❖ ❖ ❖
THẾ CHIẾN THỨ NHẤT TẠI CHÂU ÂU, 1914-1921
Khi Đại chiến nổ ra trong tháng tám 1914, nhiều người đã nghĩ rằng nó chỉ kéo dài trong ba hoặc bốn tháng. Vậy mà qua lễ Giáng sinh, chiến tranh vẫn còn đó. Theo quan niệm qui ước thì chiến tranh hẳn phải khốc liệt hơn so với quá khứ, nhung cũng có tính quyết định hơn. Phe nào giành được ưu thế trong những giai đoạn đầu thì sẽ có những phương tiện để đạt được chiến thắng nhanh chóng. Vậy mà chiến tranh không diễn ra trong bốn tháng mà trong hơn bốn năm. Ngay cả đến lúc đó, chiến tranh vẫn không mang tính quyết định: Chỉ đến 1945, “Tam Giác Lớn” của các khối sức mạnh quân sự - chính trị mới được định rõ, và trong một số khía cạnh thì phải đến 1991.
Trong hình thể ban đầu của chúng, những cấu trúc địa lý chính trị của Tam Giác Lớn có vẻ như một thử nghiệm. Nhược điểm lớn của Đồng minh Tây Âu (Anh và Pháp) là chỉ có Pháp là có quân thường trực đông đảo. Hai nước này phải trải qua hai năm không ổn định trước khi có thể phát huy toàn bộ tiềm lực. Và trước tiên, chúng đã nỗ lực lôi kéo Italy vào phe Đồng minh trong năm 1915; tiếp đến là phát triển quân đội tại Anh và Đế chế Anh; và thứ ba là sự gia nhập của Hoa Kỳ trong tháng Tư 1917. Nhật Bản, một nước châu Á cùng cánh với Anh, đã tuyên chiến với Đức vào ngày 23 tháng Tám 1914, nhưng không giữ một vai trò nào trong cuộc xung đột tại châu Âu. Đế chế Nga, cộng sự chính của Đồng minh, thì bị vướng bận bởi những thủ tục động viên vụng về, bởi một mạng giao thông quốc nội rộng lớn, bởi những nghi ngờ về khả năng công nghiệp của nó, và bởi sự thiếu nhất trí về các mục tiêu chiến lược. Tuy vậy, Nga là nước đã tung đòn tấn công trong buổi đầu. Và cuối cùng Nga đã sụp đổ, không phải vì thiếu đạn dược hoặc binh đội, nhưng do sự suy thoái tinh thần và chính trị.
Các cường quốc Trung Âu (Đức và Áo-Hung) được hưởng mọi lợi thế từ chính sách đã được củng cố và những tuyến giao thông quốc nội. Do Italy ngả theo Đồng minh nên họ đã mất một cộng sự, nhưng không ngờ lại có một đồng minh kiên cường là Đế chế Ottoman, buộc phải ngả theo họ trong tháng Mười một 1914 do lo sợ Nga. Năm 1914, họ hoảng sợ trước triển vọng phải đối đầu với một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận. Nhưng sự lo âu của họ là không cần thiết: họ đã chứng tỏ khả năng có thể duy trì những chiến dịch lớn trên tám chiến trường - tại Mặt Trận Phía Tây, ở Bỉ và Pháp; tại Mặt Trận Phía Đông, chống lại Nga; tại vùng Balkan; tại Trung Đông; tại Caucasus; tại Italy; tại các thuộc địa; và trên biển.
Vào lúc nổ ra chiến tranh, những phe lâm chiến không nói ra những mục tiêu của họ. Khi lao vào chiến tranh, mục tiêu trong đầu của các cường quốc Trung Âu là phòng thủ và ngăn chặn. Họ muốn ngăn không để Áo bị phá hoại ngầm, muốn phá vỡ sự bao vây Đức và theo họ nghĩ, chặn trước những yêu sách của Nga và Pháp. Tuy vậy, họ đã nhanh chóng hình thành một loạt những đòi hỏi. Họ trù định chuyển các tỉnh miền đông của Bỉ (Liege và Antwerp) cho Đức, và những phần của Serbia và Romania cho Áo; gia tăng các lãnh thổ thúộc địa Đức nhằm làm suy yếu các Đế chế Nga và Anh; và thiết lập bá quyền chính trị và kinh tế trên “Mitteleuropa”, bao gồm cả Ba Lan. Nhưng chỉ có mục tiêu của Ottoman là có phần sống còn.
Các cường quốc Liên minh thì lao vào chiến tranh vì họ bị tấn công và do tinh thần tự tôn của họ. Trong khi Serbia hy vọng đẩy được người Áo ra khỏi Bosnia, thì mục tiêu của Pháp là giành lại Alsace-Lorraine, Anh thì hướng đến những đền bù tài chính và thuộc địa và Nga thì ấp ủ những kế hoạch nhằm bành trướng hơn nữa lãnh thổ của mình. Tháng Chín 1914, Bộ Tổng tham mưu Nga công bố “Bản đồ châu Âu tương lai” và bản đồ này rất giống với bản đồ được thực hiện năm 1945.879 Ngoài ra, Nga đã kín
đáo buộc các đồng minh của nó phải dành cho nó quyền kiểm soát eo biển trong thời hậu chiến. Iatly thì hướng đến irredenta (sáp nhập vào Italy những lãnh thổ láng giềng có người Italy sinh sống).
Một số quốc gia giữ thế trung lập. Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Netherlands và ba quốc gia vùng Scandinavia đã duy trì sự trung lập của họ trong suốt cuộc chiến và đã thịnh vuợng từ đó. Bulgaria thì bị lôi kéo vào chiến tranh trong tháng Chín 1915, Romania trong tháng Tám 1916, Hy Lạp trong tháng Sáu 1917. Cũng trong năm đó, Trung Hoa ngả về phe Đồng minh do bị quân Nhật tấn công. Ngoài ra, còn một số khác cũng lao vào chiến tranh.
Vài trăm thành viên Đạo quân Ba Lan của Pilsudski đã mở Mặt Trận Phía Đông bằng cách vượt qua biên giới Nga gần Cracow trong ngày 6 tháng Tám 1914. Mục tiêu của họ là chứng tỏ rằng Ba Lan vẫn còn sinh động cau hơn một thế kỷ bị chia cắt. Và họ đã khôn ngoan rút lui khi quân Cossack tiến đến; sau đó, họ được sáp nhập vào quân đội Áo.
Như mọi khi, các chiến thuật và chiến lược quân sự được dựa trên những bài học của những cuộc chiến tranh đã xảy ra trong thời gian trước đó. Chiến tranh Pháp-Phổ và Chiến tranh Boer cho thấy sự dễ bị tổn thương của tấn công bằng bộ binh. Vì thế, người ta nghĩ rằng có thể tìm thấy giải đáp trong ba lãnh vực - trong việc sử dụng pháo tập trung như thứ vũ khí được sử dụng trước tiên để tấn công các vị trí của đối phương trên chiến trường, trong việc sử dụng đường sắt để triển khai các lực lượng tấn công, và trong việc sử dụng kỵ binh để bao vây và truy đuổi. Ở Mặt Trận Phía Đông, những điều vừa kể đã tỏ ra có hiệu quả. Nhưng ở phía Tây, nơi đã có những tuyến chiến hào kiên cố, thì phải mất hàng ngàn cuộc bắn phá mới mong phá vỡ các lô cốt bằng bê tông. Mặc dầu phòng ngự đã tỏ rõ nhưng ưu điểm đối với tấn công, các tướng lãnh đã chẳng mấy nhanh chóng để xét lại những chủ trương của họ. Máy bay, với động cơ còn yếu kém và không đáng tin cậy, chỉ được sử dụng để thám sát, hướng dẫn pháo
binh, và không chiến. Ở đa số các nơi, do không có đường rải đá, nên việc dùng sức ngựa là điều cần thiết. Ở biển khơi, ngư lôi bắn đi từ tàu ngầm đã tỏ ra nguy hiểm hơn những khẩu Dreadnoughts 16 inch.
Tại Mặt Trận Phía Tây, quân Đức suýt thành công trong một cuộc tấn công dữ dội trước khi cuộc chiến tiêu hao được đưa vào. Trong khi cánh giữa của quân Đức thọc vào trung tâm Champagne thì cánh phải tiến theo một đường vòng cung lớn ngang qua miền bắc Pháp. Hướng đến việc lặp lại chiến thắng năm 1870, quân Đức tiến về Paris từ ba hướng. Họ bị quân Bỉ chặn lại tại Liège, và lực lượng viễn chinh Anh chặn tại Ypres. Quân Đức của cánh giữa bị chậm trễ bởi những cuộc giao tranh tại Épemay. Vào tuần lễ đầu của tháng Chín 1914, thủ đô Pháp đang đối diện với thảm họa.
Vào phút cuối, tướng Joffre kêu gọi 600 taxi Renault đưa tất cả những quân dự bị còn lại của Pháp ra chiến tuyến Mame. Cánh giữa của quân Đức đã rút lui. Trong khi đó cánh phải thì quá xa. Trong tháng Mười và Mười một, Mặt Trận Phía Tây đã ổn định dọc theo toàn bộ chiều dài của tuyến chiến hào đôi chạy từ Thụy Sĩ đến Eo biển, (xem Bản đồ 24).
Trong ba năm năm sau đó, chiến tuyến hầu như không biến đổi. Cả hai phe đều đổ người và khí tùi vào với những mức độ rất lớn nhằm chọc thủng phòng tuyến đối phương. Nhưng mọi nỗ lực đều không thành. Chưa bao giờ máu người châu Âu lại phải đổ ra nhiều đến thế. Trong ba trận đánh diễn ra ở Ypres, tại Vimy Ridge, tại Somme, và hơn hết thảy tại Verdun, tổn thất nhân mạng có thể tính bằng con số hàng chục ngàn mỗi tiếng đồng hồ. Đây là một thảm kịch thiếu suy nghĩ mà chẳng có ai thấy trước và cũng chẳng có ai biết cách làm cho nó dừng lại. Cuộc rút quân có kế hoạch của Đức nhằm chuẩn bị những vị trí phòng thủ giữa Arras và Soissons trong tháng Hai 1917 là một hành động hiếm hoi có tính duy lý.
Và công chúng đã chỉ mặt những tướng lãnh bất tài. Về quân đội Anh, người ta đã nói rằng, “Họ là những con sư tử được lãnh đạo bởi những
“con lừa.” (Douaumont)
Tại Mặt Trận Phía Đông - chạy ngang qua trung tâm Ba Lan - các cường quốc Trung Âu đã đạt được chiến thắng lớn hơn và đã tránh được địa ngục của chiến tranh chiến hào. Tháng Tám 1914, hai đạo quân Nga vượt qua biên giới, một tiến vào Đông Phổ ở phía bắc, và đạo quân kia tiến sâu vào Galicia ở phía nam. “Cỗ Máy Nga” đạt được thắng lợi đáng kể trong khi chuyển động một cách từ tốn. Nhưng rồi vận may đã thay đổi: tại trận đánh hồ Masurian diễn ra trong tháng Chín, Hindenberg và Lundendorff tiêu diệt toàn bộ đạo quân phương bắc của Nga và rửa hận cho thất bại của Đức tại Marne. Đạo quân phương nam của Nga bị chặn lại ở bên ngoài Cracow. Trong mùa đông 1914-1915 những trận đánh bất phân thắng bại đã diễn ra cả trên biên giới Đức - Nga gần Lódz lẫn trên biên giới Hungary trong dãy Carpathes. Nhưng sau đó trong tháng Năm 1915, tại Gorlice, Galicia, quân Đức đã thực hiện được điều không thể thực hiện tại phía Tây: chọc thủng các tuyến của đối phương và tỏa rộng ra ở vùng đồng bằng bên kia. Tháng Tám, quân Đức chiếm đóng Warsaw và tái chiếm Lvov. Sang thu, họ tiến vào Lithuania và vượt qua các dãy núi để vào Romania. (Petrograd)