Khó khăn, hạn chế

Một phần của tài liệu Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác pháp chế trong trường Đại học hoa lư (Trang 75 - 78)

2.2. Việc thực hiện các nhiệm vụ công tác pháp chế

2.3.2. Khó khăn, hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm, dựa trên kết quả thực tế và các tiêu chí đánh giá hiệu quả, có thể thấy công tác pháp chế tại Trường Đại học Hoa Lư còn tồn tại một số khó khăn, hạn chế, đó là:

63

- Công tác pháp chế là nhiệm vụ quan trọng được lãnh đạo Nhà trường quan tâm, đặc biệt là trong thời gian những năm gần đây. Tuy nhiên, nội dung này lại chưa được thể hiện một cách rõ nét trong các văn bản quy định của Nhà trường, nổi bật phải kể đến Quy chế tổ chức và hoạt động. Các nhiệm vụ của công tác pháp chế đang được quy định rải rác, không tập trung trong một số điều khoản của Quy chế này.

Điều này có thể dẫn đến viên chức, người lao động trong Trường nhận thức sai lệch hoặc không nhận thức được vị trí, vai trò của công tác pháp chế, đồng thời cũng chưa thể hiện hết chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công tác pháp chế và bộ phận phụ trách công tác này.

- Tuy nhân sự phụ trách công tác pháp chế đã được lãnh đạo Nhà trường quan tâm bổ sung, nhưng số lượng nhân sự chuyên trách còn mỏng cũng như chưa có nhiều kinh nghiệm, chủ yếu là viên chức kiêm nhiệm, trong khi khối lượng công việc lớn đồng thời công tác tư vấn pháp lý đòi hỏi phải nghiên cứu chuyên sâu ở nhiều lĩnh vực nên tính chuyên nghiệp trong triển khai thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế. Hiện nay, việc tuyển dụng, bổ sung nhân sự làm công tác pháp chế cũng gặp nhiều khó khăn do vị trí này đòi hỏi yêu cầu về năng lực chuyên môn, hiểu biết sâu rộng, đồng thời cũng liên quan đến chính sách tinh giản biên chế, chỉ tiêu số lượng người làm việc, vị trí việc làm của Nhà trường dẫn đến một số trường hợp chưa đáp ứng được yêu cầu tham mưu cho lãnh đạo đơn vị về những vấn đề pháp lý chuyên sâu.

- Nhân sự có năng lực xây dựng văn bản nội bộ ở các đơn vị còn khá hạn chế và không đồng đều. Đội ngũ này của các đơn vị đa phần cũng là giảng viên kiêm nhiệm nên kỹ năng, nghiệp vụ xây dựng văn bản còn hạn chế. Trong khoảng vài năm gần đây, số lượng văn bản pháp luật, văn bản chỉ đạo, điều hành của cấp có thẩm quyền về giáo dục, đào tạo, về chế độ chính sách của nhà giáo, viên chức, người lao động trong CSGD đại học có thay đổi, nhiều quy định mới, nội dung mới đòi hỏi Nhà trường phải cập nhật, sửa đổi bổ sung các văn bản quản lý. Một số văn bản QPPL còn chưa rõ ràng, còn chồng chéo hoặc chưa phù hợp với quản lý thực tiễn dẫn đến gây khó khăn, lúng túng trong triển khai tại cơ sở. Trong thời gian qua, Nhà trường tuy đã ban hành một số lượng lớn văn bản quản lý, nhưng việc đánh giá chất lượng nội dung, mức độ đồng bộ và khả năng áp dụng thực tế của hệ thống văn bản QLNB lại chưa được phản ánh rõ.

- Việc rà soát văn bản nội bộ chưa được thể hiện một cách rõ ràng mà chỉ thực hiện chung trong Kế hoạch công tác pháp chế, Kế hoạch năm học và các Báo cáo thực hiện nhiệm vụ năm học; Nhà trường thiếu việc hệ thống hóa các văn bản QLNB cũng như chưa thực hiện đánh giá định kỳ theo giai đoạn cho công tác xây dựng văn bản.

- Văn bản QLNB do Nhà trường ban hành cơ bản tuân thủ đường lối, chủ trương của Đảng, văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên nhưng vẫn chưa thực sự đồng

64

bộ, còn tình trạng văn bản chất lượng chưa cao, việc nghiên cứu, tham mưu, đề xuất chính sách chưa có khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về tính chiến lược và tầm nhìn dài hạn; quy trình xây dựng văn bản thực tế mới chỉ đưa ra các bước chung, cơ bản trong quy định công tác văn thư, chưa có hướng dẫn cụ thể thực hiện từng bước dẫn đến một số lúng túng trong triển khai của các đơn vị, hồ sơ xây dựng văn bản còn thiếu thống nhất. Vai trò thẩm định văn bản của bộ phận pháp chế chưa hẳn được đề cao, các dự thảo văn bản được xây dựng chủ yếu bởi viên chức, đơn vị chuyên môn, chỉ trong khoảng 1, 2 năm gần đây có sự tham gia thẩm định của bộ phận pháp chế nên gặp phải hạn chế về kỹ năng, kiến thức tổng hợp, nắm bắt quy định pháp luật một cách có hệ thống.

- Công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật là một trong những hoạt động quan trọng trong xây dựng và thực hiện pháp luật. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền pháp luật cần phải đối mặt với nhiều khó khăn như số lượng, động lực và năng lực của đội ngũ chuyên trách, chuyên môn về pháp luật.

Các cán bộ chuyên trách tuyên truyền pháp luật cần được bổ sung cũng như được đào tạo đầy đủ kiến thức pháp luật và được hưởng đủ các chính sách hỗ trợ. Điều này giúp họ có đủ động lực để thực hiện tốt công tác tuyên truyền pháp luật. Kế hoạch PBGDPL trong Nhà trường chưa được ban hành thường xuyên (trong giai đoạn 2020 – 2025, Nhà trường mới chỉ ban hành Kế hoạch vào năm 2023). Hình thức và nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho viên chức, người lao động và người học vẫn còn có hạn chế. Hiện nay, việc sử dụng chủ yếu hình thức, phương tiện truyền thống không đủ hiệu quả trong việc truyền tải thông tin pháp luật cho giảng viên, viên chức, người lao động và đặc biệt là người học. Hình thức mời báo cáo viên từ các cơ quan trực tiếp thực thi pháp luật đến tuyên truyền còn hạn chế nên các báo cáo tuyên truyền thiếu tính thực tiễn, khả năng áp dụng chưa cao. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động tuyên truyền cho đội ngũ và người học chưa đồng bộ. Nhà trường cũng chưa có cơ chế đánh giá hiệu quả, tổng hợp, phân tích phản hồi từ người học và cán bộ, viên chức để điều chỉnh nội dung tuyên truyền.

- Trong thực hiện công tác pháp chế, tuy đã có sự phối hợp giữa các đơn vị nhưng vẫn còn hiện tượng công tác pháp chế tập trung chủ yếu tại Phòng Tổ chức – Thanh tra, ít lan tỏa sang các đơn vị về mặt chuyên môn, nhất là trong khâu xây dựng chính sách đặc thù hoặc kiểm tra, đánh giá tuân thủ pháp luật trong hoạt động chuyên môn sâu. Một số viên chức, người lao động chưa nhận thức được đầy đủ, mục đích yêu cầu và tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát. Việc đấu tranh với những vi phạm, những hạn chế sai sót vẫn còn tồn tại tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm.

Nguồn lực đầu tư cho hoạt động giám sát còn chưa nhiều.

Một phần của tài liệu Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác pháp chế trong trường Đại học hoa lư (Trang 75 - 78)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)