Tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến, giáo dục pháp luật

Một phần của tài liệu Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác pháp chế trong trường Đại học hoa lư (Trang 83 - 86)

Công tác PBGDPL hiện đã được Nhà trường đầu tư, quan tâm, tuy nhiên, như đã trình bày, để đạt được hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền pháp luật cần phải đối mặt với nhiều khó khăn. Vì vậy, nhóm tác giả tập trung đề xuất một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, nhóm giải pháp nâng cao công tác PBGDPL nằm trong giải pháp nâng cao hiệu quả công tác pháp chế nói chung, bao gồm:

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng và trách nhiệm của lãnh đạo Nhà trường đối với công tác PBGDPL. Đưa công tác PBGDPL vào nghị quyết/nội dung sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ, kế hoạch của đơn vị; coi đây là một nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của nhà trường và của các đơn vị. Chỉ đạo xây dựng kế hoạch PBGDPL và triển khai thực hiện hiệu quả; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc nhắc nhở, đánh giá kết quả thực hiện; có chế độ khen thưởng và xử lý vi phạm kịp thời. Cấp ủy và người đứng đầu phải gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ, thường xuyên cập nhật thông tin để thực hiện (tránh trường hợp không đọc văn bản; sử dụng, viện dẫn những văn bản đã hết hiệu lực thi hành;…)

- Tiếp tục đẩy mạnh nâng cao nhận thức cho viên chức, người lao động, HSSV về tầm quan trọng của công tác PBGDPL, làm cho mỗi cá nhân nhận thức rõ việc tìm

71

hiểu và thực thi pháp luật nói chung, thực hiện nghiêm túc các nội quy, quy định, quy chế của ngành, của Nhà trường vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ, trách nhiệm với chính bản thân mình, với tập thế và cộng đồng.

- Xây dựng kế hoạch PBGDPL và tổ chức thực hiện hiệu quả. Việc xây dựng kế hoạch là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo tính chủ động trong công việc, tránh tình trạng bị động, làm việc theo thời vụ, không đảm bảo tính khoa học và hiệu quả. Kế hoạch xây dựng cụ thể cho từng năm học, học kỳ, tháng, tuần; đảm bảo tính khoa học (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, địa điểm, đối tượng tuyên truyền…); tính thực tiễn, tính khả thi (có thể thực hiện được, tránh chung chung, quá nhiều nội dung, mang tính hình thức, đối phó); tính linh hoạt (có thể điều chỉnh theo từng thời điểm và tình hình thực tế).

- Nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác PBGDPL. Nhà trường tạo điều kiện để những người làm công tác PBGDPL được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn về PBGDPL do các cấp, các ngành tổ chức; phối hợp với cơ quan tư pháp tỉnh để tổ chức các buổi tập huấn; xây dựng tủ sách pháp luật, trang bị các điều kiện, phương tiện cần thiết để giảng viên, viên chức cập nhật kiến thức pháp luât.

Thứ hai, nhóm giải pháp nâng cao, đổi mới hình thức tuyên truyền, PBGDPL.

Trước hết, cần nâng cao chất lượng hình thức tuyên truyền, PBGDPL truyền thống như hình thức tuyên truyền trực tiếp (tuyên truyền miệng).

Tuyên truyền miệng là hình thức tuyên truyền mà đặc trưng chính là dùng lời lẽ trực tiếp truyền đạt nội dung pháp luật cho người nghe, chủ yếu thực hiện thông qua các hội nghị, hội thảo, toạ đàm, tập huấn… và ở Nhà trường được thực hiện nhiều qua việc giảng dạy. Hình thức này có tính linh hoạt cao, có thể tiến hành ở nhiều địa điểm, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào. Chủ thể thực hiện hoạt động PBGDPL thông qua hình thức tuyên truyền trực tiếp cần đáp ứng yêu cầu cơ bản gồm: (1) Gây thiện cảm ban đầu cho người nghe. Thiện cảm ban đầu thể hiện ở nhân thân, tâm thế và biểu hiện của người nói khi bước lên bục tuyên truyền, ở danh tiếng, phẩm chất đạo đức, học hàm, học vị, chức vụ của người nói. Thiện cảm ban đầu còn được tạo ra bởi khung cảnh của hội trương, diễn đàn, lớp học, hay dáng vẻ bề ngoài, y phục, nét mặt, cử chỉ, phong thái, lời giao tiếp ban đầu. Người nói cần tươi cười bao quát hội trường/lớp học, có lời chào mừng, mở đầu dí dỏm, công bố thời gian, chương trình làm việc rõ ràng, thoải mái… sẽ gây được thiện cảm với người nghe. Trong những phút đầu tiên của bài giới thiệu, người nói phải nêu được những vấn đề chủ yếu mà người nghe cần tìm hiểu nhất, có thể bắt đầu từ một câu chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đại chúng nói đến nhiều thời gian qua hoặc có thể bắt đầu từ một bộ phim đã chiếu khá phổ thông, một tình huống xảy ra trong địa bàn nơi tổ chức tuyên truyền hay qua một số trò chơi đoán ý… (2) Tạo sự hấp dẫn, gây ấn tượng trong

72

khi nói. Nghệ thuật tuyên truyền là tạo nên sự hấp dẫn, gây ấn tượng bằng giọng nói, điệu bộ, ngôn ngữ. Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc nhưng truyền cảm, tránh lối nói đều đều. Giọng nói, âm lượng phải thay đổi theo nội dung và nhấn mạnh vào những điểm quan trọng, cần phải chú ý. Động tác, cử chỉ cần phù hợp với nội dung và giọng nói để nâng cao hiệu quả tuyên truyền của lời nói. Sắc thái có tác dụng truyền cảm rất lớn. Vẻ mặt của người nói cần thay đổi theo diễn biến của nội dung. Khi nói, cần chú ý nhìn vào một nhóm người ngồi dưới, thỉnh thoảng người nói cần thay đổi vị trí nhìn để tạo sự chú ý, đưa ra số liệu, sự kiện để minh hoạ, đặt câu hỏi để tăng thêm sự chú ý của người nghe. (3) Bảo đảm các nguyên tắc sư phạm. Người nói cần tôn trọng các nguyên tắc sư phạm. Từ bố cục bài nói, diễn đạt các đoạn văn, liên kết giữa các đoạn văn đến cách nói đều phải rõ ràng, mạch lạc, logic; dẫn dắt người nghe từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa (phương pháp suy diễn) hoặc từ xa đến gần (phương pháp quy nạp) và tuỳ từng vấn đề mà dùng lý luận soi sáng cho thực tiễn hoặc từ thực tiễn mà đi sâu vào lý luận. (4) Tạo được tính thuyết phục cho bài nói thông qua chứng minh, giải thích và phân tích. Người nói cần có các dẫn chứng xác thực, khách quan để làm sáng tỏ và xác nhận tính đúng đắn của vấn đề. Các dẫn chứng đưa ra gồm số liệu, sự kiện, hiện tượng, nhân chứng, danh ngôn, kinh điển đảm bảo tính chính xác, tiêu biểu, toàn diện và sát hợp với vấn đề nêu ra. Dựa trên dẫn chứng, người nói đưa ra lý lẽ để giảng giải giúp người nghe hiểu rõ và hiểu đúng vấn đề. Lập luận trong khi giải thích phải chặt chẽ, chính xác, mạch lạc, khúc triết, không nguỵ biện; đồng thời đánh giá vấn đề nhằm tìm được đặc điểm, bản chất, điểm mạnh, điểm yếu, điểm tốt, điểm xấu, sự phù hợp, không phù hợp của vấn đề. Sau khi phân tích phải có kết luận, đánh giá, hướng người nghe vào định hướng tư duy đúng đắn, không làm cho người nghe hoài nghi, dao động, hoang mang.

Bên cạnh đó, cần đổi mới, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền PBGDPL. Thực hiện kết hợp linh hoạt, sáng tạo các hình thức truyền thống với hiện đại (trang thông tin điện tử, mạng Internet, phát thanh có hình…) bằng việc chia sẻ qua các nhóm Zalo, Faccebook, các trang mạng xã hội… nhằm tăng tính hấp dẫn và đảm bảo hiệu quả. Đặc biệt cần ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác PBGDPL tại Nhà trường, một giải pháp mang tính đột phá, phù hợp với xu thế chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác PBGDPL không chỉ giúp tiết kiệm chi phí, thời gian tổ chức mà còn mở rộng đối tượng tiếp cận, tăng tính linh hoạt và cá nhân hóa trong truyền thông pháp luật. Đây là công cụ hữu hiệu để khắc phục tình trạng tuyên truyền pháp luật theo lối truyền thống mang tính hình thức, rập khuôn, kém hấp dẫn - một thực trạng còn tồn tại tại nhiều CSGD đại học hiện nay, trong đó có Trường Đại học Hoa Lư. Trên cơ sở điều kiện thực tế của Nhà trương, nhóm tác giả đề xuất một số nội dung cụ thể cần triển khai như:

73

- Xây dựng chuyên mục PBGDPL trên Cổng thông tin điện tử của Trường, kết hợp sử dụng mã QR để truy cập nhanh các văn bản pháp luật và nội dung pháp lý quan trọng nhằm tạo một kênh thông tin chính thống, dễ truy cập, cập nhật thường xuyên, giúp cán bộ, giảng viên, HSSV tiếp cận hệ thống pháp luật nhanh chóng, thuận tiện. Nội dung chuyên mục nên bao gồm: Tin tức pháp luật cập nhật theo tuần/tháng;

các văn bản QPPL quan trọng (theo nhóm chủ đề: giáo dục, lao động, quyền lợi người học…); văn bản QLNB đã ban hành của Nhà trường; chuyên mục hỏi - đáp pháp luật;

video clip, infographic, podcast về pháp luật. Kết hợp in mã QR dán tại các khu vực công cộng trong Trường (bảng tin, thư viện, phòng họp, phòng sinh hoạt khoa), khi quét sẽ truy cập tới chuyên trang trên.

- Tổ chức các hoạt động PBGDPL trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp - trực tuyến thông qua các hoạt động như tổ chức tọa đàm trực tuyến với luật sư, chuyên gia pháp lý trên nền tảng Zoom, Google Meet, Microsoft Teams; Livestream trên fanpage Trường/Đoàn Thanh niên về các chủ đề pháp luật đang được quan tâm (ví dụ: quyền lợi sinh viên, pháp luật lao động, việc làm…); tạo video clip ngắn hoặc infographic đơn giản giới thiệu văn bản pháp luật mới – phù hợp thị hiếu người trẻ.

Thứ ba, tăng cường đánh giá hiệu quả công tác PBGDPL, đồng thời gắn công tác PBGDPL với nhiệm vụ phát triển văn hóa pháp lý trong Trường.

Tổ chức khảo sát định kỳ nhận thức pháp luật của các đối tượng trong Trường, đo lường mức độ tiếp nhận thông tin, mức độ thay đổi hành vi. Từ đó có điều chỉnh về nội dung và phương pháp thực hiện phù hợp. Phổ biến pháp luật không chỉ là việc truyền tải nội dung pháp luật mà còn hướng tới xây dựng ý thức pháp luật, thái độ tôn trọng và hành xử đúng quy định pháp luật trong môi trường giáo dục. Do đó, việc xây dựng môi trường học đường kỷ cương, nề nếp; ban hành các quy tắc ứng xử, chế tài nội bộ và đưa pháp luật vào sinh hoạt chính trị, sinh hoạt chuyên môn là rất cần thiết.

Như vậy, để thực hiện tốt chức năng pháp chế trong giai đoạn chuyển đổi mô hình quản trị đại học theo hướng tự chủ, Nhà trường cần coi trọng hơn nữa công tác PBGDPL, thực hiện đồng bộ các giải pháp về thể chế, tổ chức, con người và công nghệ.

Chỉ khi đó, PBGDPL mới thực sự phát huy vai trò là cầu nối giữa pháp luật với thực tiễn, giữa quy phạm với ý thức pháp lý của từng thành viên trong cộng đồng đại học.

Một phần của tài liệu Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác pháp chế trong trường Đại học hoa lư (Trang 83 - 86)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)