Thi công xây dựng

Một phần của tài liệu 1 huong dan ky thuat thiet ke thi cong be biogas KT1 KT2 bo NNPTNT (Trang 21 - 33)

PHẦN I: NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN

2.3. Thi công xây dựng

Công tác thi công gồm các công việc sau:

2.3.1. Laáy daáu

Hỡnh 7. Laỏy daỏu beồ phaõn huỷy

a. Laỏy daỏu f. Xaõy coồ beồ phaõn huỷy

b. Đào đất g. Xây bể điều áp và bể nạp c. Xây đáy bể phân hủy h. Trát và quét lớp chống thấm khí d. Xây thành bể phân hủy i. Đổ các nắp đậy

e. Đặt ống lối vào và lối ra j. Lấp đất

Việc đầu tiên khi thi công là phải xác định cốt ±0 và vị trí bể phân hủy.

Cốt ±0 là mốc để xác định các mức như cốt tràn và độ sâu của đáy bể phân hủy, bể điều áp và bể nạp. Cốt ±0 phải bằng hoặc thấp hơn nền chuồng và cao hơn mặt sân để nước xả tự chảy ra cống rãnh và nước mưa từ cống rãnh không chảy vào bể. Đánh dấu cốt ±0 vào một vật cố định (tường, cọc mốc) để từ đó xác định độ sâu của các bộ phận.

Tiếp theo hãy xác định vị trí bể phân hủy và bể điều áp trên mặt bằng.

Đánh dấu tâm bể bằng một cọc tre. Lấy dấu hố cần đào bằng một vòng tròn với bán kính bằng bán kính ngoài của bể cộng thêm 15 - 20 cm.

2.3.2. Đào đất a. Yeâu caàu chung

- Không xáo trộn đất nguyên thuỷ và chất các vật nặng, đất đã đào xung quanh hoá.

- Khi thi công tới ống lối vào và lối ra sẽ xẻ tiếp khe đặt ống. Không đào trước để tránh sụt lở.

- Đất đào lên cần đổ vào nơi thích hợp để không ảnh hưởng tới việc thi coâng.

- Nếu có nước ngầm thì nhất thiết phải: 1) Đào rãnh thu nước quanh đáy về hố thu nước để dễ dàng bơm nước ra khỏi hố; 2) Tăng chiều dày lớp đất chèn xung quanh khối xây để chống lại lực ác-simét nâng khối xây lên.

- Gặp mạch nước rỉ ngang, cần dùng đất sét để bịt lại.

Hình 8. Đào đất b. Kích thước hố đào

Đường kính hố đào phải bằng đường kính của các khối xây trong bản vẽ thiết kế cộng thêm khoảng 40 - 50 cm lớp đất chèn lấp quanh khối xây.

c. Thành hố đào

Độ dốc của thành hố đào cần theo qui định sau.

Thành hố có thể đào thẳng đứng khi độ sâu không vượt quá những giá trị quy định ở bảng 4.

Bảng 4. Độ sâu (m) cho phép đào thành hố thẳng đứng

Khi độ sâu hố đào vượt quá giới hạn qui định ở bảng 4, phải đảm bảo độ dốc như qui định ở bảng 5.

Bảng 5. Độ dốc nhỏ nhất cho phép của thành hố

Chú thích: Độ dốc (hay độ nghiêng) là tỷ số giữa độ cao của thành hố và khoảng cách giữa chân và đỉnh của thành hố tính theo phương nằm ngang.

2.3.3. Xây đáy bể phân hủy

Nếu nền đất có cấu tạo đồng nhất thuộc cấp đất III và IV (phải dùng cuốc chim hoặc xà beng để đào) thì đáy có thể lát gạch.

Khi gặp nơi đất có cường độ kém thì phải xử lý nền và đổ đáy bằng bê toâng.

Loại đất Trường hợp không có nước ngầm Trường hợp có nước ngầm

Đất cát và đất cát sỏi 1,00 0,60

Đất thịt pha cát và đất thịt 1,25 0,75

Đất sét 1,50 0,95

Đất đặc biệt rắn chắc 2,00 1,20

Loại đất Độ dốc

Đất cát 1:1

Đất thịt pha cát 1:0,78

Đất có sỏi và đá cuội 1:0,67

Đất thịt 1:0,50

Đất sét 1:0,33

Đất hoàng thổ khô 1:0,25

Hình 9. Xây đáy Phải lấy dấu chu vi đáy để đảm bảo đáy tròn.

Nếu xây, đặt gạch theo các đường tròn đồng tâm, không trùng mạch và đảm bảo mạch đầy vữa. Xây từ ngoài vào trong. Vòng gạch ngoài cùng là chân tường nên đặt gạch dọc hướng tâm. Các vòng trong đặt gạch ngang vuông góc với bán kính.

Nếu đổ bê tông, phải nhào trộn bê tông ở trên theo đúng thành phần cấp phối rồi lần lượt đổ xuống đáy. Gặp nước ngầm mạnh nên lót một tấm ni lông xuống dưới rồi đổ bê tông lên trên.

Sau khi lát hoặc đổ bê tông xong, nếu gặp nơi có nước ngầm, phải múc nước từ hố thu nước thường xuyên, ít nhất trong 24 giờ để đảm bảo cho vữa đông kết được.

Đợi cho đáy đủ chắc (ít nhất sau 1 ngày) rồi xây thành bể.

2.3.4. Xây thành bể phân hủy

Trước khi xây, nếu trời nắng hoặc hanh khô thì đem gạch nhúng nước cho ướt rồi đợi khô bề mặt mới đem xây.

Vữa xây có cấp phối như đã nêu trong bảng 3 ở trên.

Thành bể thiết bị KT1 và KT2 có dạng đới cầu. Việc xây thành đới cầu là kỹ thuật mới, được thực hiện bằng biện pháp định tâm và bán kính.

a. Định tâm và bán kính của thành bể + Trường hợp KT1:

Dùng một cọc gỗ dài bằng 1/2 bán kính. Đóng một đinh 5 cm vào đầu cọc, khoảng cách từ mũ đinh tới đầu cọc khoảng 1 cm.

Xây tạm một trụ gạch để giữ cọc đứng thẳng tại tâm của đáy. Như vậy mũ đinh chính là tâm bể phân hủy.

Hình 10. Định tâm và bán kính KT1

Ảnh 1. Định tâm và bán kính khi xây bể phân huỷ thiết bị KT1

Chú ý không đóng cọc định tâm vào đáy vì sẽ tạo ra một lỗ thủng ở đáy, dễ bị rò rỉ sau này.

Dùng một sợi dây để xác định bán kính. Buộc một đầu dây vào một đầu đinh (buộc lỏng để dây có thể quay quanh đinh). Lấy một điểm trên dây cách tâm một đoạn bằng bán kính bể phân hủy cộng thêm 2 cm (chiều dày lớp vữa trát). Đánh dấu điểm đã chọn bằng một nút buộc. Khoảng cách từ điểm đã đánh dấu tới tâm là bán kính trong của cốt gạch của thành bể (không kể lớp trát).

+ Trường hợp KT2

Để định tâm, ta đóng chiếc đinh 5 cm vào tâm đáy và cũng chừa một khoảng bằng 1 cm rồi buộc dây định bán kính như trường hợp trên.

Hình 11. Định tâm và bán kính KT2

b. Xây thành bể phân hủy

Việc xây được thực hiện theo từng hàng, lần lượt từ dưới lên trên. Gạch được đặt nằm ngang, chiều dài nhất của viên gạch được nối tiếp nhau tạo thành một vòng tròn khép kín. Mỗi khi đặt viên gạch, luôn dùng dây định bán kính để kiểm tra cự ly và độ nghiêng của viên gạch cho chính xác, nhờ vậy đảm bảo thành đúng dạng vòm cầu đều đặn, không méo mó.

Đầu tiên vạch trên mặt đáy bể một vòng tròn bán kính bằng bán kính trong của chân tường cộng thêm 2 cm. Xây hàng gạch đầu tiên mép trong của viên gạch tiếp tuyến với vòng tròn này. Cần trát ngay nơi tiếp giáp giữa chân tường và đáy cả ở phía ngoài và phía trong thật cẩn thận vì bể hay rò rỉ ở đáy. Lớp trát phải thật đầy vữa và miết chặt. Trát theo cung tròn, không có góc cạnh. Có thể dùng chai nhỏ để miết vữa trát nơi tiếp giáp cho đều và nhẵn.

Khi xây tiếp tới hàng trên, đặt cạnh dưới viên gạch theo hàng gạch dưới và dùng dây xác định bán kính để kiểm tra mép cạnh trên của các viên gạch. Chú ý tránh không để mạch vữa trùng nhau với hàng gạch dưới.

Xây đến đâu thì miết mạch ngay đến đó và đảm bảo cho mạch no vữa.

Đối với thiết bị KT1, vài hàng gạch đầu ngả ra phía ngoài nên có thể bị đổ khi vữa chưa khô. Do vậy phải chèn phía ngoài cho gạch khỏi đổ.

Khi xây tới những hàng phía trên, viên gạch ngả vào phía trong có thể bị đổ, nhất là khi xây tường có chiều dày bằng chiều nhỏ nhất của viên gạch, nghĩa là gạch đặt nghiêng. Do vậy cần phải giữ gạch khỏi đổ. Có nhiều biện pháp nhưng đơn giản và dễ thực hiện nhất là biện pháp sau.

Dùng một sợi dây dài khoảng 1,5 m, một đầu buộc vào một móc thép để móc vào viên gạch cần giữ, đầu kia buộc vào một que nhỏ cắm vào thành đất của hố hoặc buộc và quấn vào viên gạch đối trọng và thả cho dây căng theo tiếp tuyến với mặt ngoài thành bể.

Hình 12. Giữ gạch khi xây thành

Điều chỉnh chiều dài của dây theo độ nghiêng của viên gạch cần giữ cho vừa đủ giữ gạch. Mỗi hàng chỉ gồm vài chục viên gạch nên số dây giữ cuõng khoâng caàn nhieàu.

Ảnh 2. Dây giữ gạch khi xây thành vòm

Viên gạch đầu tiên của mỗi hàng cần giữ cho tới khi xây xong toàn bộ cả hàng. Khi đã xây được vài viên gạch tiếp theo, mỗi viên sẽ có 2 viên 2 bên giữ nên có thể lấy dây giữ ra để dùng cho các viên gạch mới xây, không cần giữ nữa gạch vẫn không đổ.

2.3.5. Đặt các ống nối

Khi xây tường bể phân hủy tới độ cao chỗ nối ống thì cần đặt ống vào vị trí như thiết kế. Thông thường những chỗ nối này hay bị rò rỉ nên cần phải cẩn thận để không tốn công xử lý về sau.

Cần chống giữ để cố định ống cho chắc, không bị lay động, rồi dùng vữa chèn kỹ, nhét đầy chỗ nối.

Phía dưới mặt sau ống nên chèn gạch hoặc đất để vữa không bị chảy.

Vữa trát quanh chỗ nối không quá ướt để tránh bị chảy.

Khi vữa đã đỡ ướt, cần trát và miết lại thật kỹ, nhất là phía dưới và mặt sau. Vữa chảy sẽ tách khỏi ống.

Tất cả những chỗ nối ống đều cần xây cẩn thận như trên.

Hình 13. Chèn vữa khi đặt ống

2.3.6. Xaõy coồ beồ phaõn huỷy

Nên xây làm 2 bước: bước đầu sau khi xây xong vòm sẽ tiếp tục xây luôn phần chân cổ, tức là tới bậc đỡ nắp. Sau đó trát bể phân hủy cho tới hết đoạn này. Phần còn lại sẽ xây tiếp sau. Làm như vậy là để việc lên xuống thi công phía trong bể được thuận lợi và có đủ ánh sáng.

Để đảm bảo cho cổ thật tròn, nên dùng gạch chặt đôi để miệng bể gần với đường tròn hơn và cũng áp dụng biện pháp định tâm và bán kính để xây. Tuy nhiên bây giờ tâm dịch chuyển theo một trục thẳng đứng.

Dùng một thanh gỗ hoặc tre thẳng dài bằng đường kính ngoài của cổ cộng thêm khoảng 20 cm.

Để định tâm, đóng một chiếc đinh 5 cm vào điểm chính giữa tại mặt trên của thanh, chừa lại một đoạn đinh khoảng 1 cm.

Dùng một đoạn dây định bán kính cổ như khi xây thành bể nêu trên.

Ở mặt dưới thanh, đóng 2 chiếc đinh ở 2 đầu tại vị trí cách đinh định tâm một khoảng bằng bán kính ngoài của cổ và cũng chừa lại khoảng 2 cm.

Xây hàng gạch đầu tiên dựa vào vòng tròn vạch trên mặt thành bể.

Hỡnh 14. ẹũnh taõm khi xaõy coồ

Tới hàng gạch tiếp theo, ta đặt 2 viên gạch đối xứng nhau qua tâm rồi đặt thanh định tâm lên, 2 đinh ở đầu tỳ vào mép 2 viên gạch và dùng dây định tâm để điều chỉnh cho đinh định tâm nằm đúng tâm thành bể (cách đều các viên gạch ở hàng gạch dưới). Dùng 2 viên gạch này để giữ cố định thanh định tâm. Khi xây các viên gạch tiếp theo trong hàng, dùng dây định

tâm để kiểm tra mép trên của các viên gạch, đảm bảo tất cả các viên gạch đều cách tâm một đoạn đúng bằng bán kính.

Phần trên của cổ hình nón cụt nên khi trát có thể dùng khuôn đổ nắp để làm dưỡng trát cho khít với nắp.

Nếu bố trí ống lấy khí ra ngang qua thành cổ bể thì cần đặt ống ngay dưới vị trí của nắp để tránh váng làm tắc ống.

2.3.7. Xây bể điều áp và bể nạp

Sau khi nối xong ống lối ra với bể phân hủy và xây tới phần vòm chứa khí, có thể tiến hành xây luôn bể điều áp.

Tuy nhiên nên xây xong phần vòm của bể phân hủy rồi lấp đất và xây tiếp bể điều áp. Tốt nhất bể điều áp nên xây trên nền đất nguyên thuỷ.

Việc xây bể điều áp dạng vòm cầu được tiến hành tương tự như với bể phân hủy KT2. Cần chú ý đảm bảo cốt đáy và cốt tràn đúng như thiết kế.

Hình 15. Xây bể điều áp Hình 16: Xây bể nạp

Bể nạp xây thông thường. Chú ý đáy bể nạp phải cao hơn cốt tràn để tránh không cho dịch phân hủy mới nạp (phân còn tươi) tràn lên bể nạp, gaõy maỏt veọ sinh.

Nếu muốn cho phân tự chảy từ chuồng vào bể thì đáy bể nạp phải thấp hôn coát chuoàng.

2.3.8. Trát, đánh màu

Công việc trát giữ vai trò quyết định đảm bảo cho công trình kín nước và kín khí. Nhiệm vụ này được thực hiện chủ yếu bởi lớp vữa ở mặt trong của công trình. Do vậy không cần trát mặt ngoài để tiết kiệm.

Việc trát nên thực hiện sau khi đã xây xong thành bể để lớp trát đồng đều, không bị phân thành nhiều tầng với chất lượng không đồng đều.

Ngoài ra trát như vậy cũng tránh được việc bể bị nổi lên khi trời mưa hoặc nước ngầm ra mạnh.

Yêu cầu chung đối với việc trát là phải đảm bảo vữa trát bám dính chắc vào bề mặt khối xây, độ dày đồng đều, lớp trát được miết chặt, các góc, cạnh, mép phải miết tròn.

Khi trát bề mặt cong phải dùng bay, không dùng bàn xoa phẳng, có thể dùng bàn xoa bằng đế dép mềm.

Vữa trát có cấp phối như đã nêu ở bảng 3.

Các lớp vữa có chiều dày 20 mm.

Ảnh 3. Bàn xoa bằng đế dép

Lớp vữa chống thấm nước gồm 3 lớp: lớp lót dày khoảng 6 - 7 mm, lớp nền dày khoảng 10 - 11 mm và lớp phủ ngoài bằng hồ xi măng nguyên chất được xoa nhẵn (đánh màu) dày khoảng 3 mm.

Lớp vữa chống thấm khí gồm 5 lớp và quét chất chống thấm bên ngoài theo quy trình 7 bước sau đây:

Bước 1. Cọ rửa sạch mặt cần trát nếu bị bẩn.

Bước 2. Lớp 1: Dùng hồ xi măng nguyên chất quét lên bề mặt cần trát.

Bước 3. Lớp 2: Trát lớp vữa mỏng 5 - 6 mm. Đợi cho lớp này hơi khô rồi dùng bay miết thật kỹ.

Bước 4. Lớp 3: Đợi 1 - 2 giờ sau cho lớp vữa trên đủ khô lại quét lớp hồ xi măng thứ 2 tương tự như bước 2.

Bước 5. Lớp 4: Trát lớp vữa thứ 2 tương tự như bước 3.

Bước 6. Lớp 5: Đánh màu bằng xi măng nguyên chất.

Bước 7. Lớp chống thấm khí: Dùng hồ xi măng có pha phụ gia chống thấm khí theo tỷ lệ 0,5 - 0,7% (0,1 kg phụ gia pha với 10 - 12 kg xi măng) quét lên lớp trát vài lớp. Đợi cho lớp này khô rồi quét lớp tiếp theo.

2.3.9. Đổ nắp đậy

Nắp đậy bể phân hủy nên tiến hành đổ sớm ngay từ khi khởi công xây dựng. Nắp dày nên không cần cốt thép, chỉ bằng bê tông cát vàng mác 200.

Mặt dưới và cạnh bên cần đánh mầu thật nhẵn, sau đó quét lớp chống thấm như với bể phân hủy.

Nắp có dạng hình nón cụt. Nên làm một khuôn bằng thép để đổ bê tông đồng thời dùng làm dưỡng khi trát cổ.

Nắp đổ xong cần che nắng và tưới nước để dưỡng hộ cho bê tông đông kết tốt, tránh các vết nứt.

Ảnh 4. Khuôn và nắp

Nếu bố trí ống lấy khí ra ngang qua thành cổ bể thì không cần đặt ống ở nắp.

Cần bảo đảm đúng kích thước theo thiết kế để khi đậy nắp không bị kích hoặc mớm với mép trong của cổ. Khi xây cổ nên dùng nắp để kiểm tra kích thước của cổ cho khít với nắp.

Nắp bể điều áp và bể nạp nên rộng hơn miệng bể. Những nắp này phải có cốt thép để đảm bảo chịu tải trọng tốt.

2.3.10. Lấp đất

Khi tường đã đủ cứng, nếu không có nước ngầm thì có thể lấp đất dần để giữ cho phần đã xây càng vững, không cần đợi xây xong mới lấp.

Nếu có cát hoặc xỉ đổ lấp xung quanh là tốt nhất, nhất là ở phần chân beồ phaõn huỷy.

Với kiểu KT1, chân tường được giữ bởi lớp đất lấp nên nếu không đầm chặt rất dễ bị nứt vỡ khi chứa nước, dịch phân hủy.

Nếu gặp nước ngầm, nên trát kỹ đáy và phần chân tường để nước không thấm vào công trình. Nếu yên tâm, không cần phải để rãnh thu nước thì có theồ laỏp daàn.

Cần lấp đất cẩn thận để tránh cho công trình không bị sụt lở, nứt vỡ về sau.

Nên lấp dần từng lớp dày khoảng 15 cm rồi đầm chặt sau đó lại lấp lớp tiếp theo. Chú ý lấp đều các phía của bể để tránh làm cho tường bể phân hủy bị nứt vỡ.

Đặc biệt quan tâm chèn kỹ phía dưới các ống lối vào và lối ra, đáy bể điều áp. Nếu không bể điều áp bị sụt, dễ bẻ gãy ống nối.

Hình 17. Lấp đất

Một phần của tài liệu 1 huong dan ky thuat thiet ke thi cong be biogas KT1 KT2 bo NNPTNT (Trang 21 - 33)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(180 trang)