Chăm sóc sức khỏe sinh sản của lao động nhập cƣ

Một phần của tài liệu TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA LAO ĐỘNG TRẺ DI CƢ ĐẾN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp tại 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc) (Trang 30 - 36)

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.2. Chăm sóc sức khỏe sinh sản của lao động nhập cƣ

Từ năm 2994, Ủy ban về phụ nữ và trẻ em di cư đ xuất bản báo cáo quan trọng về thiếu các dịch vụ CSSKSS cho phụ nữ di cư. Hội nghị qu c tế về Dân s và Phát triển tại Cairo 1994 cũn n ấn mạn đến nhu cầu đặc biệt về CSSKSS trong n óm di cư. T eo đó, n óm c uyên ia về SKSS cho phụ nữ di cư đ được thành lập và xây dựn ướng dẫn về cung cấp các dịch vụ CSSKSS cơ bản cho phụ nữ di cư. Hướng dẫn n y được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận và xây dựng c ươn trìn CSSKSS c o p ụ nữ di cư bao ồm: gói dịch vụ cơ bản t i thiểu được triển k ai tron k u n ân đạo, làm mẹ an toàn, bạo lực giới và tình dục, bệnh

LTQĐTD tron đó có HIV, KHHGĐ v các vấn đề SKSS k ác n ư c ăm sóc sau phá thai, cắt âm vật và vị thành niên. N ư vậy, tron đề tài luận án này, có 2 nội dung về CSSKSS c o lao động trẻ di cư tại các KCN đ trùn với khung của c ươn trìn CSSKSS nêu trên đó là: BPTT/KHHGĐ và các bệnh LTQĐTD.

Ở một góc nhìn khác, một s nghiên cứu cũn c ỉ ra rằng phụ nữ di cư có nhiều khả năn bị bện ơn nam iới, do có thể phụ nữ di cư p ải làm việc trong nhữn điều kiện có nhiều áp lực đến sức khỏe ơn. Tại Trung Qu c, các nghiên cứu cũn đ c ỉ ra nhữn đặc điểm về biện pháp CSSK giữa n ười di cư v n ười dân tại chỗ, xem xét các yếu t liên quan đến kiến thức về SKSS và tìm kiếm dịch vụ của n ười di cư để CSSK ở khu đô t ị [72]. Tuy nhiên, nghiên cứu đều khẳn định, chỉ có một tỷ lệ nhỏ phụ nữ di cư báo cáo các vấn đề về SKSS, tron k i đa s đ i tượn n y đều thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức liên quan đến các bện LTQĐTD. Cả hai khía cạn đó đều liên quan đến trìn độ học vấn của n ười di cư v t ời ian lưu trú tại nơi đến. Ngoài ra, nghiên cứu cũn tìm t ấy nhiều bằng chứng cho thấy việc tiếp cận dịch vụ CSSK của phụ nữ di cư bị giới hạn bởi một s rào cản về cơ c ế, chính sách của trun ươn v địa p ươn liên quan đến vấn đề nhập cư [72]. Bên cạn đó, lao độn di cư còn t iếu kiến thức về CSSKSS, tỷ lệ lao động nữ nhập cư mắc một s bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản cao n ưn ọ không biết được cách p òn , điều trị và việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS, SKTD còn nhiều k ó k ăn do điều kiện kinh phí, thời ian v t ôn tin do cơ sở cung cấp [70].

Một s nghiên cứu k ác liên quan đến SKSS/SKTD của n ười di cư Trun Qu c cũn đưa ra n iều nội dun để đo lườn , đán iá bao iồm hiểu biết về các lện LTQĐTD, n iễm khuẩn đường sinh sản, BPTT. Lựa chọn nội dung SKSS trong nghiên cứu này có nhiều điểm tươn đồng với lựa chọn các vấn đề mà tác giả luận án quan tâm. Ở đây, n iều khía cạnh quan trọng trong việc CSSKSS đ được chỉ ra. Cụ thể, trong s nhữn n ười đ n e/biết bất kỳ bện LTQĐTD, có 79,1%

n ười nghe/biết về bệnh lậu, 46,2% n ười nghe/biết về bệnh Condyloma, 86,1%

n ười nghe/biết về bện ian mai, 14,5% n ười nghe/biết về bệnh hạ cam và 82,2% nghe/biết về bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản. Đán quan tâm ơn có đến

75% nhận định không sử dụng bất kỳ BPTT nào trong lần quan hệ tình dục đầu tiên.

Trong s ít n ười có sử dụng BPTT, có 85,5% cho rằng họ hài lòng với biện pháp hiện dùng, 46,6% lực lượn lao độn di cư đ k ôn biết về nhữn ưu điểm/n ược điểm của p ươn p áp v 75,3% k ôn có kiến thức về ngừa thai khẩn cấp. Nghiên cứu cũn c ỉ ra rằng có tới 23,4% s n ười được hỏi trả lời đ có quan ệ tình dục trước hôn nhân (một t án trước cuộc điều tra) tron đó có 14,0% sử dụng BCS.

Cuộc điều tra cũn đ đưa đến kết luận: kiến thức của lao độn di cư về SKSS và SKTD còn hạn chế, dịch vụ CSSKSS c ưa đáp ứn được nhu cầu của lao động nhập cư. Do vậy, cần phải có các can thiệp toàn diện về SKTD và sinh sản kết hợp với đ o tạo, nâng cao nhận thức và kỹ năn , n vi của cả n ười di cư v các n cung cấp dịch vụ CSSKSS. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả đ k ôn đề cập nhiều đến cơ sở, nguồn, kênh tiếp cận BPTT, kiến thức về các bện LTQĐTD m l o độn di cư có t ể tiếp nhận [73].

Trong khi, một nghiên cứu khác về ản ưởng của di cư nội bộ đ i với sức khoẻ sinh sản. Nghiên cứu cũn đ lựa chọn n óm lao động tuổi từ 18-49 ở hai khu vực thành thị v nôn t ôn để thu thập thông tin. Sau khi thu thập thông tin và phân tích s liệu, nhóm tác giả đ đưa ra n ận định, so với n ười k ôn di cư n ười di cư đan sử dụn BPTT cao ơn (50,4% so với 35,0%) và họ nhận dịch vụ KHHGĐ từ cơ sở y tế cũn cao ơn n ười k ôn di cư (67,1% so với 47,5%). Về CSSKBMTE cũn có sự khác biệt giữa n ười di cư v k ôn di cư, tỷ lệ n ười di cư sin tại cơ sở y tế nhiều ơn n ười k ôn di cư (27,1% so với 18,9%) v được c ăm sóc trước sin cao ơn (91,4% so với 70,4%). N ư vậy, lựa chọn đ i tượn , địa bàn và phạm vi của nghiên cứu này có phần khác biệt, nghiên cứu này có tập trung vào gần n ư tất cả các đ i tượn tron độ tuổi sin đẻ v địa bàn thành thị nông thôn. Trong khi đó, ở đề tài luận án này, nghiên cứu sinh chỉ lựa chọn n óm lao động di cư tuổi từ 18-30 đan làm việc tại các KCN thuộc địa bàn 2 tỉnh, không quan tâm đến việc họ sinh ra và lớn lên ở đâu, ọ đan s ng tại nơi đến ở khu vực thành thị hay nông thông [74].

Một nghiên cứu về “Quan ệ xuyên biên iới v SKSS của p ụ nữ di cư nội bộ” tại Ấn Độ. Kết quả c o t ấy, thanh thiếu niên có xu ướng bắt đầu quan hệ tình dục nhiều ơn nếu bạn bè của họ đ quan ệ tình dục (Sieving, Eisenberg, Pettingell,

& Skay, 2006) hoặc thậm chí họ nhận thức được rằng bạn bè họ đ bắt đầu quan hệ tình dục (Kinsman, Romer, Furstenberg, & Schwarz, 1998; & Miller, 2000). M i quan hệ n y cũn đún với các mạng xã hội trực tuyến liên quan tới các bạn đồng trang lứa (Young & Jordan, 2013). Hỗ trợ xã hội, bao gồm cả tình cảm (n ĩa l c ăm sóc v ỗ trợ), thôn tin (n ư tư vấn), và hỗ trợ công cụ (n ư tiền, viện trợ) là bảo vệ hành vi n uy cơ đ i với vị thành niên (Ennett, Bailey, & Federman, 1999; Mazzaferro et al, 2006, McNeely & Falci, 2004) [76]. N ư vậy, nghiên cứu n y cũn có một s điểm tươn đồng với nội dung báo cáo luận án của nghiên cứu sinh, đó l tìm iểu tình trạng quan hệ tình dục, sử dụng BPTT của lao động trẻ di cư, tron đó có n óm lao động c ưa lập ia đìn .

Tuy nhiên, nghiên cứu về “Quan ệ xuyên biên iới v SKSS của p ụ nữ di cư nội bộ” cũng có một s hạn chế, đó là:

Thứ nhất, việc điều tra chỉ tập trun v o n ười di cư tron nước ở các khu ổ chuột tại Ấn Độ do đó k ôn t ể k ái quát óa đ i với các n óm dân cư k ác.

Thứ hai, trong nghiên cứu n y ít quan tâm đến đến hoạt động truyền thông, tư vấn về những vấn đề sức khỏe liên quan.

Thứ ba, s liệu có được từ một cuộc điều tra cắt ngang, các m i quan hệ xã hội có thể t ay đổi theo thời ian v điều quan trọn l các t ay đổi m i quan hệ với quê ươn có t ể ản ưởn đến SKSS tron k i đó nghiên cứu c ưa tìm t ấy được sự t ay đổi về hành vi tình dục nếu m i quan hệ xã hội t ay đổi.

Không nằm ngoài biến động chung ở khu vực cũn n ư trên t ế giới. Ở Việt Nam, v o năm 2004 Tổng cục Th n kê đ t ực hiện nghiên cứu về “Cần đáp ứng nhu cầu CSSKSS/KHHGĐ của n ười di cư”. Kết quả cho thấy, hiểu biết về CSSKSS/KHHGĐ của n ười di cư c ưa đầy đủ; nhận thức về các vấn đề SKSS/KHHGĐ, p á t ai v bện LTQĐTD còn ạn chế; tỷ lệ sử dụn các BPTT thấp (65,8%), nhất là phụ nữ tuổi 15-24 v c ưa lập ia đìn . N ười di cư t ường

tìm đến các hiệu thu c khi gặp vấn đề về SKSS, do không biết nơi cun cấp dịch vụ này [53].

Một nghiên cứu k ac cũn n ận định, rất ít lao động nữ di cư phải điều trị viêm nhiễm đường sinh sản, n ưn n uy cơ mắc bệnh của họ vẫn cao vì điều kiện vệ sin , nước sinh hoạt của khu ở trọ k ôn đảm bảo mặc dù hiện nay môi trường chính sách đã có nhiều cải thiện trong việc quản lý n ười di cư [63]. Năm 2006, Viện Khoa học Dân s , Gia đìn v Trẻ em, Trung tâm Thông tin đ t ực hiện nghiên cứu “Đán iá n u cầu thông tin và dịch vụ CSSKSS của n óm dân di cư tự do ở Hà Nội và thành ph Hồ C í Min ”. Nghiên cứu đ đưa ra một s kết luận về nhu cầu SKSS/KHHGĐ c ưa được đáp ứng của n ười di cư v VTN/TN di cư, bao gồm: 1) Thông tin sâu về các nội dun SKSS/KHHGĐ v t ôn tin cụ thể về mạng lưới các dịch vụ CSSKSS được cung cấp ở địa bàn thành ph , quận, p ường, kể cả tư n ân v n nước là nhu cầu n đầu c o n óm dân di cư; 2) Nhận thức về n uy cơ lây n iễm các bệnh LTQĐTD và kiến thức CSSKTD tươn đ i thấp, nhất là ở nam giới; 3) Kiến thức và thực hành vệ sin , c ăm sóc các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản của nhóm nữ di cư t ấp; 4) Theo dõi và quản lý t ai n én đ i với nữ di cư c ưa được thực hiện ở địa bàn nhập cư; Các dự án, mô hình can thiệp nhằm nâng cao SKSS của n ười di cư ở địa bàn nghiên cứu có tác dụng rõ rệt đến nhận thức, kiến thức và hành vi CSSKSS/KHHGĐ. N ưn tín bền vững của các dự án, mô ìn n y c ưa cao. Mô ìn can t iệp nhằm cải thiện việc đáp ứng dịch vụ CSSKSS, mặc dù có thể tùy thuộc v o đặc điểm cụ thể ở mỗi nơi, cần bao gồm các thành t cơ bản dưới đây: 1) Nân cao năn lực xác định và xây dựng kế hoạch can thiệp dài hạn cho những vấn đề SKSS ở địa p ươn ; 2) Tăn cường truyền thông, thông tin và giáo dục để tạo sự tiếp cận hai chiều giữa nhữn n ười cung cấp dịch vụ v dân di cư; 3) Tổ chức các trung tâm cung cấp dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ tại cơ sở y tế dưới hình thức kết hợp giữa n nước v tư n ân để kết hợp nguồn lực, phát huy mặt mạnh của từn lĩn vực y tế nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về thời gian, loại hình dịch vụ c ăm sóc… Đ i với chính quyền đô t ị, nên có cơ c ế theo dõi và quản lý với chính quyền địa p ươn xuất cư để có thể kết hợp theo dõi, quản lý v c ăm sóc sức khoẻ nói c un v c ăm sóc SKSS/KHHGĐ nói riên c o n ười di cư v VTN/TN di cư [63].

Vậy câu hỏi đặt ra tại sao lại nảy sinh mâu thuẫn giữa nhu cầu và thực tế tiếp cận dịch vụ CSSKSS ở n ười nhập cư. N iên cứu đ c ỉ ra rằng, trên thực tế mô hình cung cấp dịch vụ ở cấp p ườn đều dựa vào sự quản lý hành c ín dân di cư. Điều này làm giảm cơ ội tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSKSS của bản thân họ. Vì họ ở trong độ tuổi lao động, có sức khoẻ và mục đíc di cư để kiếm tiền, tăn t u n ập, nên CSSKSS không phải l ưu tiên. Hơn nữa, do tính di biến động cao, nên n óm di cư cũn k ôn t ực hiện đăn ký tạm trú n iêm túc, m t ường dựa vào chủ nhà trọ, điều n y vô ìn c un đ đẩy họ ra khỏi kế hoạch cung cấp dịch vụ của địa b n cư trú.

Bên cạn đó, n ười di cư c ưa nằm trong diện quản lý càng khó tiếp cận các dịch vụ ở địa bàn xã/p ường. S liệu điều tra còn cho thấy các c ươn trìn cun cấp thông tin và dịch vụ CSSKSS t ường niên của hai ngành dân s và y tế, các chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ SKSS và các mô hình CSSKSS c o n ười di cư tại TP HCM hoặc tại quận Gò Vấp o n to n c ưa ướn đến n óm đ i tượng này [63].

Đến năm 2010, Tổng cục DS-KHHGĐ v Học viện Quân y ph i hợp thực hiện đề t i “K ảo sát thực trạng và nhu cầu dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ của công nhân ở một s KCN”. Để triển k ai đề tài, nghiên cứu đ , sử dụng kết hợp giữa p ươn p áp địn tín , địn lượng và thu thập s liệu thứ cấp. Địa bàn nghiên cứu là các tỉn Vĩn P úc, Hải P òn , Đồn Nai, Vĩn Lon . Mẫu nghiên cứu định lượng là 1600 công nhân tại 4 tỉnh trên (4 tỉnh có KCN). Nghiên cứu n y đ c ỉ ra, về nội dung của SKSS/KHHGĐ có 83,6% côn n ân đ tưn n e đến vấn đề về SKSS, nội dung nghe nhiều nhất là cải thiện, c ăm sóc b mẹ và trẻ em trước trong và sau sinh (77,3%), thấp nhất là quyền được quyết định hành vi sinh sản. Mức độ tiếp cận của côn n ân đ i với các nội dung về SKSS còn hạn chế (> 50%). Kết quả cũn c o t ấy, kiến thức về các bện LTQĐTD của lao độn di cư k á t t, có 96,13% lao độn di cư n e/biết về HIV/AIDS, giang mai là 84,13%, lậu (82,94%).

N ưn kiến thức về bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản lại khá thấp, có tới 90,7% s n ười trả lời ít biết một triệu chứng của nhiễm khuẩn đường sinh sản, 90,6% ít biết một hậu quả của bệnh nhiễm khuẩn. Về BPTT, có trên 86% n ười đ n e nói oặc đ sử dụng ít nhất một BPTT, tron đó đìn sản có 97,1% và BCS có 86,7% [51].

Một phần của tài liệu TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA LAO ĐỘNG TRẺ DI CƢ ĐẾN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp tại 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc) (Trang 30 - 36)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(187 trang)