Các rào cản liên quan đến tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của lao động di cƣ

Một phần của tài liệu TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA LAO ĐỘNG TRẺ DI CƢ ĐẾN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp tại 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc) (Trang 38 - 41)

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.4. Các rào cản liên quan đến tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của lao động di cƣ

Tại Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy nhận thức của công nhân về CSSKSS có nhiều hạn chế, thậm chí nhiều n ười di cư còn c ưa từng nghe tới cụm từ

CSSKSS. Điều này xuất phát từ nhiều n uyên n ân, tron đó côn tác truyền thông l n uyên n ân cơ bản. Chính bản thân những công nhân cho biết, họ cũn có cơ hội tham gia các buổi truyền t ôn , n ưn do t ời lượng truyền thông ngắn, chủ đề lại dài, cộng thêm tâm lý e ngại, nên họ không bày tỏ ý kiến k i đề cập đến các vấn đề tình dục. T êm v o đó, tại các địa phươn , Liên đo n Lao động là cơ quan thực hiện nhiều hoạt động truyền t ôn , tron đó có c ủ đề về CSSKSS, n ưn oạt động n y cũn đan gặp nhiều k ó k ăn. Thứ nhất, truyền thông về CSSKSS chỉ là một hoạt động nhỏ, không phải là nhiệm vụ ưu tiên của ngành Lao động, của tổ chức côn đo n. Thứ hai, s lượng công nhân lớn, nguồn lực của Liên đo n lao động có hạn, không thể đáp ứn được nhu cầu của tất cả côn n ân đan l m việc tại các KCN.

Kết quả từ một nghiên cứu khẳn định, theo s liệu báo cáo của Trung tâm CSSKSS, s côn n ân được khám phụ khoa là rất ít. Kể từ tháng 4/2006 tới tháng 4/2007, mới chỉ có duy nhất xí nghiệp gạch tuy nen tiến hành khám phụ khoa cho công nhân. Cụ thể, năm 2006 có 69 nữ côn n ân được k ám, điều trị phụ khoa, 1 tháo vòng, 5 k ám t ai; năm 2007: 69 k ám, 57 điều trị phụ k oa. Báo cáo cũn cho thấy nam công nhân ít quan tâm tới CSSKSS, ít k ám v điều trị các bệnh LTQĐTD v đa p ần trong s họ cho rằng dịch vụ SKSS là của nữ. Bên cạn đó việc dịch vụ CSSKSS dành cho nam giới còn ít, các dịch vụ hiện tại chủ yếu phục vụ khách hàng nữ [40].

Nghiên cứu của Đo n Min Lộc, Võ An Dũn (2006), cũn c ỉ ra những rào cản, nhu cầu c ưa được đáp ứng trong tiếp cận dịch vụ SKSS/KHHGĐ của n ười di cư, tron đó có các yếu t kinh tế, về nhận thức của bản thân họ [63]. Với đồn lươn n ận được cũn vậy, n ười di cư ặp nhiều k ó k ăn do các c i p í về nhà ở, giáo dục, y tế, chi phí sinh hoạt [64]. Từ p ía n ười cung cấp, thiếu nguồn nhân lực và vật lực trong việc cung cấp dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ c o n ười di cư, việc lập kế hoạch cung cấp dịch vụ n y cũn c ưa tín đến nhóm dân s di cư. Các c ươn trìn cun cấp thông tin và dịch vụ CSSKSS, các chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ SKSS và các mô ìn CSSKSS c ưa tạo cơ ội đầy đủ đến n ười di cư [53].

Về môi trường chính sách, mặc dù đ có n iều cải thiện trong việc quản lý n ười di cư, tuy n iên việc cung cấp một s dịch vụ xã hội cơ bản vẫn còn có sự phân biệt giữa n ười di cư v n ười dân tại chỗ (phân biệt theo hộ khẩu). Thời gian giải quyết các thủ tục giấy tờ tại các cơ sở y tế n nước cũn c ưa p ù ợp với thời ian m n ười di cư có t ể đến khám chữa bệnh. Mặc dù chính quyền các địa p ươn cũn có sự cam kết v đáp ứng linh hoạt khi thực hiện các chính sách với tinh thần tạo điều kiện t i đa để n ười di cư tiếp cận dịch vụ CSSKSS. Tuy nhiên, mô hình cung cấp dịch vụ ở cấp x /p ườn đều dựa vào sự quản lý hành chính dân di cư. Điều này làm giảm cơ ội tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSKSS của họ. Mặt khác, lao độn di cư p ần đôn còn trẻ tuổi, có sức khoẻ và mục đíc di cư để kiếm tiền, nên CSSKSS c ưa phải là lựa chọn ưu tiên [63].

Một s tác giả k ác cũn đưa ra n ận định, tron các n óm di cư, p ụ nữ là đ i tượng dễ bị tổn t ươn với các vấn đề về SKSS n ư các bện LTQĐTD (tron đó có HIV), man t ai n o i ý mu n và phá thai không an toàn. Hiện tại, khung pháp lý và việc thực t i các quy định ở Việt Nam c ưa bảo đảm được quyền lợi cho nhữn n ười di cư. Một s yếu t tác độn đến tình trạn di cư n ư việc t ay đổi các quan niệm và ràng buộc truyền th ng khiến phụ nữ di cư dễ bị tổn t ươn với các n vi n uy cơ v bệnh tật. Tình trạng di biến động của phụ nữ đ k iến họ gặp k ó k ăn tron việc tiếp cận các dịch vụ CSSKSS. Những hành vi n uy cơ v việc tiếp cận các dịch vụ SKSS của phụ nữ di cư c ịu ản ưởng lớn từ các yếu t văn óa - xã hội, nhất là các thói quen và phong tục tập quán cổ truyền [38].

N ười di cư c ưa được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ cơ bản, lại thiếu hiểu biết về SKTD và SKSS nên nguy cơ lây n iễm các bện LTQĐTD ia tăn . Đ t ế, họ cũn không có nhu cầu tìm hiểu các nguồn thông tin chính thức hay lựa chọn các dịch vụ có chất lượng t t về SKSS và SKTD. Bên cạn đó, iểu biết về cơ sở cung cấp dịch vụ cũn l một rào cản lớn trong lựa chọn tiếp cận của n ười di cư, họ t ườn tìm đến các hiệu thu c khi gặp vấn đề về SKSS, do không biết nơi cun cấp dịch vụ CSSKSS. Tại một s địa p ươn , có rất ít cơ sở cung cấp dịch vụ, điều đó ản ưởn đến những lựa chọn c o lao độn di cư có n u cầu sử dụng. Chính vì thế

các đ i tượn n y t ường ít hoặc k ôn t ay đổi n vi n uy cơ, k ôn có k ả năn t ực hiện các kỹ năn s ng tích cực [40].

Giá cả dịch vụ cũn l một yếu t ây k ó k ăn c o côn n ân lao động khi có nhu cầu sử dụng. Cùng một dịch vụ út điều hòa kinh nguyệt, nếu thực hiện tại cơ sở y tế n nước giá dịch vụ phải trả l 80.000 đồng (với thai <12 tuần), trong k i đó nếu thực hiện tại cơ sở y tế tư n ân t ì iá dịch vụ phải trả l 350.000 đồng.

Tuy nhiên, nhiều công nhân khi lựa chọn dịch vụ sử dụng t ường ngần ngại tới cơ sở y tế công lập mà chọn cơ sở y tế tư n ân để đảm bảo bí mật danh tính, phù hợp với thời gian làm việc. Lý do k ác cũn được côn n ân lao độn đưa ra l cơ sở y tế công lập đôn n ười, dễ bị phát hiện [40].

Một s nghiên cứu do Quỹ Dân s Liên hợp qu c thực hiện năm 2011cũn c ỉ ra rằng, các yếu t văn óa - xã hội có ản ưởn đến hành vi tình dục và sinh sản của phụ nữ di cư bao ồm: tôn giáo, dân tộc, những vấn đề về giới, giá trị chuẩn mực và niềm tin truyền th ng (nhận thức về nữ tính, nhữn điều cấm kỵ về tình dục, niềm tin vào s phận và nghiệp c ướng). Họ bị mắc kẹt trong xã hội chuyển đổi (ở đây c uyển đổi chính là từ nông dân sang công nhân, chuyển đổi môi trườn văn óa - xã hội);

mạn lưới xã hội với những ản ưởng tích cực và tiêu cực; sự kỳ thị, lo sợ mất thể diện và mu n che giấu vấn đề; những rào cản tron cơ c ế và thể chế (thiếu khuôn khổ pháp lý hợp lý và hiệu quả với phụ nữ di cư, trác n iệm của chính quyền địa p ươn với n ười di cư); kiến thức và khả năn tiếp cận thông tin của phụ nữ di cư [38].

Một phần của tài liệu TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA LAO ĐỘNG TRẺ DI CƢ ĐẾN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp tại 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc) (Trang 38 - 41)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(187 trang)