Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.5. Chính sách pháp luật liên quan di cư và CSSKSS cho người di cư tại Việt Nam
Bên cạn các cơ sở lý luận n ư đ nêu, tron n iên cứu này tác giả còn dựa v o các cơ sở thực tiễn là nhữn điều kiện cụ thể về kinh tế - xã hội của đất nước, tron đó các n ân t đặc biệt quan trọng không thể không nhắc tới ở đây l luật p áp v các c ín sác có liên quan đến di cư v CSSKSS c o n ười di cư.
Từ nhữn năm 1960 Đảng và N nước ta đ xác định di dân, phân b lại dân cư l nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh qu c phòng của qu c gia. Đây l iai đoạn đất nước còn bị chia cắt, miền Bắc phát triển kinh tế theo mô hình chủ n ĩa x ội, miền Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến tới th ng nhất đất nước. Chủ trươn của N nước ta l “vận động một bộ phận đồn b o vùn đồng bằng lên khai hoang và phát triển kinh tế miền núi, thành lập các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp…”. Về tổng thể, di dân k ai oan (trước năm 1975), v di dân đi kinh tế mới (sau năm 1975) và di dân nông thôn – nông thôn, hay còn gọi là di dân nông nghiệp, với mục tiêu điều chỉnh dân cư, sử dụn t i n uyên đất đai, p át triển kinh tế nông thôn miền núi, tăn cườn đo n kết dân tộc, bảo đảm an ninh qu c phòng, biên giới trên đất liền [18].
Sau năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được độc lập, c ín sác di dân cũn đ t ay đổi. Giai đoạn này chính sách di dân của Đảng và N nước ta tập trung vào mục tiêu kiến thiết nền kinh tế sau chiến tran , đảm bảo qu c phòng an ninh, biên giới hải đảo, tái địn can địn cư. Giai đoạn 1976 – 1980: N nước đ ban n trên 30 văn bản pháp qui về các chính sách liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự nghiệp di dân nông nghiệp [18]. Tron đó t ời kỳ này, chính sách di dân có thể chia thành 3 nhóm chính: Chính sách hỗ trợ cho hộ gia đìn , cá n ân; c ín sác đầu tư c o k u kin tế mới; các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế cả vùng [25].
Ngày 29 tháng 11 năm 2006, Qu c hội k óa XI đ ban n Luật cư trú s 81/2006/QH11. Tại điều 3 quy định về Quyền tự do cư trú của công dân “Công dân có đủ điều kiện đăn ký t ường trú, tạm trú thì có quyền yêu cầu cơ quan n nước có thẩm quyền đăn ký t ường trú, tạm trú. Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan n nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định” [43].
Ngày 24 t án 6 năm 2007 C ín p ủ ban hành Nghị định s 56/2010/NĐ- CP về sửa đổi, bổ sung một s điều của Nghị định s 107/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết v ướng dẫn thi hành một s điều của Luật Cư trú nêu rõ:
Điều 3. Nghiêm cấm các hành vi lạm dụn quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân [10]:
a) Ban n văn bản quy phạm pháp luật, văn bản k ác liên quan đến quy định về hộ khẩu mà làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân;
b) Ban n văn bản quy phạm pháp luật, văn bản k ác liên quan đến quy định về hộ khẩu trái với quy định của Luật Cư trú v các văn bản ướng dẫn Luật Cư trú;
c) Ban hành quy định hạn chế quyền tự do cư trú của công dân trái thẩm quyền, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định;
d) Đưa ra các quy định về hộ khẩu l m điều kiện để hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trái với quy định của pháp luật;
e) C ý giải quyết hoặc từ ch i giải quyết các yêu cầu về hộ khẩu của công dân trái quy định của pháp luật cư trú, l m ạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
N y 23 t án 11 năm 2009, Qu c hội ban hành Luật s 40/2009/QH12 Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Tại Điều 9 của Luật quy định quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe trong khám bệnh, chữa bệnh, Không bị kỳ thị, phân biệt đ i xử hoặc bị ép buộc khám bệnh, chữa bện , được tôn trọng về tuổi tác, giới tính, dân tộc, tín n ưỡng, không bị phân biệt i u n èo, địa vị xã hội [44].
N y 14 t án 11 năm 2008, Qu c hội ban hành Luật s 25/2008/QH12 Luật Bảo hiểm Y tế, tại Điều 26 quy định về Đăn ký k ám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế có 2 khoản nêu rõ: 1.Trường hợp n ười tham gia bảo hiểm y tế phải làm việc lưu động hoặc đến tạm trú tại địa p ươn k ác t ì được khám bệnh, chữa bện ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với tuyến chuyên môn kỹ thuật v nơi n ười đó đan l m việc lưu động, tạm trú t eo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; 2.
N ười tham gia bảo hiểm y tế được t ay đổi cơ sở đăn ký k ám bệnh, chữa bệnh ban đầu v o đầu mỗi quý [45].
Luật Bảo hiểm xã hội: Được Qu c hội t ôn qua n y 20 t án 11 năm 2014 (Luật s 58/2014/QH13). Luật quy địn đ i tượng áp dụn , n ười làm việc Hợp đồn k ôn xác định thời hạn, Hợp đồn có xác định thời hạn, Hợp đồn lao động theo mùa vụ theo công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 t án đến 12 t án . N ười làm việc theo Hợp đồn lao động có thời hạn từ đủ 01 t án đến dưới 03 tháng. Và được đảm bảo các chế độ: Hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con hoặc nhận con nuôi.
Được ưởng trợ cấp m đau khi mắc các bệnh phải chữa trị dài hạn t eo quy định của Bộ Y tế [46].
N y 05 t án 6 năm 2008 Ban c ấp n Trun ươn đ ban n C ỉ thị s 22-CT/TW về Tăn cườn côn tác l n đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ hài hòa, ổn định trong các doanh nghiệp. Chỉ thị nêu rõ “C ăm lo cải thiện đời s ng vật chất, tinh thần của n ười lao động; hoàn thiện chính sách tiền lươn , bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quy hoạch phát triển KCN, KCX gắn với quy hoạc k u dân cư;
lao độn ”. T ực hiện các chủ trươn trên, N nước đ ban n một hệ th ng các văn bản quy phạm pháp luật, c ín sác liên quan đến điều kiện s ng, làm việc của n ười lao độn tron các KCN, KKT đ được ban hành [1].
N y 18 t án 6 năm 2012 Qu c hội ban hành Bộ Luật Lao động (Luật s : 10/2012/QH13), tại Điều 116 Bộ luật Lao độn nêu rõ “Nơi có sử dụn lao động nữ, phải có chỗ thay quần áo, buồng tắm và buồng vệ sinh nữ. Ở nhữn nơi sử dụng nhiều lao động nữ, n ười sử dụn lao động có trách nhiệm iúp đỡ tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc hỗ trợ một phần c i p í c o lao động nữ có con ở lứa tuổi gửi trẻ, mẫu iáo” [47].
Việc điểm các văn bản pháp luật về c ín sác di cư v CSSK c o n ười di cư n ư trên để nhấn mạnh rằng, bên cạnh các cơ sở lý luận, chúng ta còn có cả các cơ sở thực tiễn rất quan trọn để lý giải v đán iá các vấn đề nghiên cứu được đặt ra và thực tế tại các KCN thuộc địa bàn 2 tỉnh Bắc Gian v Vĩn P úc, các doan nghiệp đ có một s chính sách hỗ trợ n ười lao động liên quan đến vấn đề CSSK nói c un tron đó có vấn đề CSSKSS n ư c ín sác ỗ trợ 100% kinh phí, hỗ trợ 1 phần kin p í để n ười lao độn đi k ám sức khỏe định kỳ hoặc mời các cơ sở y tế trên địa bàn về khám sức khỏe c o n ười lao động tại doanh nghiệp.
Tiểu kết chương 2
C ươn n y tác iả tập trung xây dựn cơ sở lý luận v cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu. Về cơ sở lý luận, đó l việc địn n ĩa v iải thích các khái niệm làm việc n ư SKSS, di cư, lao động trẻ, KCN là việc thao tác hóa khái niệm CSSKSS với tư các l k ái niệm cơ sở, ay nói k ác đi l k ái niệm g c của đề tài.
Bên cạn đấy, là việc lựa chọn các cách tiếp cận lý thuyết c o đề tài (cụ thể là các lý thuyết n động xã hội, lựa chọn hợp lý và mạn lưới xã hội). Về mặt thực tiễn, tác giả đặc biệt nhấn mạn đến các yếu t đặc biệt quan trọn liên quan đến đ i tượng nghiên cứu là hệ th ng pháp luật và các chính sách xã hội về di cư v CSSKSS c o n ười di cư, cũn n ư n ững biểu hiện cụ thể của c ún trên địa bàn nghiên cứu.
Nhữn cơ sở lý luận và thực tiễn n ư đ nêu l vô cùn quan trọn đ i với các cuộc nghiên cứu thực nghiệm dưới nhãn quan xã hội học. Trong cuộc nghiên cứu về tiếp cận dịch vụ CSSKSS của chúng tôi, nhữn cơ sở lý luận và thực nghiệm đó k ôn c ỉ l án san soi đường, hay là kim chỉ nam giúp cho việc tiếp cận đ i tượng nghiên cứu, chúng còn là những công cụ không thể thiếu trong việc phân tích, tổng hợp, nhất là giải t íc v đán iá về các vấn đề đ đặt ra của cuộc nghiên cứu.
Chương 3