Yêu cầu về nội dung và cách cho điểm

Một phần của tài liệu BỘ đề ôn HSG văn 9 (Trang 52 - 59)

B. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ

II. Yêu cầu về nội dung và cách cho điểm

(Học sinh có thể sắp xếp, trình bày theo nhiều cách, nhưng cần đảm bảo một số ý cơ bản mang tính định hướng dưới đây)

* Hiểu nội dung, ý nghĩa câu chuyện. 1,0

- Ngọn gió: Hình ảnh tượng trưng cho những khó khăn, thử thách, những nghịch cảnh trong cuộc sống.

- Cây sồi: Hình ảnh tượng trưng cho lòng dũng cảm, dám đối đầu, không gục ngã trước hoàn cảnh

-Ý nghĩa câu chuyện: Trong cuộc sống con người cần có lòng dũng cảm, tự tin, nghị lực và bản lĩnh vững vàng trước những khó khăn, trở ngại của cuộc sống.

* Bài học giáo dục từ câu chuyện.

- Cuộc sống luôn ẩn chứa muôn vàn trở ngại, khó khăn và thách thức nếu con người không có lòng dũng cảm, sự tự tin để đối mặt sẽ dễ đi đến thất bại (Một ngọn gió dữ dội băng qua khu rừng già. Nó ngạo nghễ thổi tung tất cả các sinh vật trong rừng, cuốn phăng những đám lá, quật gẫy các cành cây)

- Muốn thành công trong cuộc sống, con người phải có niềm tin vào bản thân, phải tôi luyện cho mình ý chí và khát vọng vươn lên để chiến thắng nghịch cảnh. (Tôi có những nhánh rễ vươn dài, bám sâu vào lòng đất. Đó chính là sức mạnh sâu thẳm nhất của tôi)

Lưu ý: Trong quá trình lập luận học sinh nên có dẫn chứng về những tấm gương dũng cảm, không gục ngã trước hoàn cảnh để cách lập luận thuyết phục hơn.

1,5 1,5

* Bàn luận về bài học giáo dục của câu chuyện:

+ Không nên tuyệt vọng, bi quan, chán nản trước hoàn cảnh mà phải luôn tự tin, bình tĩnh để tìm ra các giải pháp cần thiết nhằm vượt qua các khó

khăn, thử thách của cuộc sống. 1,0

+ Biết tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân để luôn có một bản lĩnh kiên cường trước hoàn cảnh và cũng phải biết lên án, phê phán những người có hành

động và thái độ buông xuôi, thiếu nghị lực. 1,0

Câu 3 (10 điểm) 1.Mở bài

- Dẫn dắt vấn đề một cách trôi chảy, ấn tượng, khái quát được vấn đề (1,0đ) 2. Thân bài

- Làm sáng tỏ được hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ từ cuộc đời thật đi vào thơ ca (8đ) + Từ cuộc đời thật:

. Là những người xuất thân từ những làng quê nghèo (Đồng chí), là mọi tầng lớp giai cấp xung phong ra trận (Bài thơ về tiểu đội xe không kính)... tất cả đều có thật, gần gũi, quen thuộc.1,0đ

. Họ từ biệt làng quê, ruộng đồng, mái trường, xí nghiệp để bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.1,0đ

. Ở chiến trường họ gặp những khó khăn, gian khổ, thiếu thốn nhưng người lính lạc quan, yêu đời, và nhờ tình đồng chí, đồng đội giúp họ vượt qua mọi khó khăn.1,0đ

. Anh bộ đội Cụ Hồ có tình yêu quê hương, đất nước tha thiết.1,0đ + Đi vào thơ ca.

. Chính những hình ảnh giản dị, chân thực ấy của người lính đã tạo nên cảm hứng cho nhà thơ Chính Hữu và Phạm Tiến Duật.. 1,0đ

. Các tác giả đã đưa người lính từ cuộc đời thật đi vào thơ ca (DC và phân tích) 2,0đ . Hai bài thơ đã trở thành hai bức tượng đài của anh bộ đội Cụ Hồ trong hai thờ kì lịch sử vẻ vang của dân tộc.1,0đ

3 Kết bài:

Khái quát lại vấn đề và nêu cảm xúc suy nghĩ của bản thân. 1,0đ

************************************************************************

*

ĐỀ THI HOC SINH GIOI Câu 1: (4 điểm)

Cảm nhận của em về khổ thơ cuối trong “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:

Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.

Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

( Ngữ văn 9 – tập một) Câu 2:( 4 điểm)

Chuyện về một cuộc thi

Tại thế vận hội đặc biệt Seatte (dành cho những người tàn tật) có chín vận động viên đều bị tổn thương về vật chất hoặc tinh thần cùng tập trung trước vạch xuất phát để tham dự cuộc đua chạy cự li 100 m.

Khi súng hiệu nổ, tất cả cùng lao đi với quyết tâm chiến thắng. TRừ một cậu bé. Cậu cứ vấp ngã liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người kia nghe tiếng khóc, giảm tốc độ, ngoái lại nhìn. Rồi họ quay trở lại. Tất cả, không thiếu một ai. Một cô gái bị hội chứng Down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé:

- Như thế này, em sẽ thấy tốt hơn.

Cô gái nói xong,cả chín người cùng khoác tay nhau sánh bước về vạch đích.

( Theo quà tặng cuộc sống) Bài học về cuộc sống mà em cảm nhận được từ câu chuyện trên?

Câu 3:( 12 điểm)

Đánh giá bài thơ “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, Đặng Quốc Khánh đã nhận xét: “ Chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mĩ”.

Phân tích bài thơ để làm sáng tỏ nhận định trên.

***************************************

HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ BIỂU ĐIỂM Câu 1:

Bài làm của học sinh cần đáp ứng những yêu cầu sau:

A- Về nội dung:

ĐỀ THI HỌ C SIN H GIỎ I LỚP 9 Năm

học 2015

- 2016

-Bức tranh ở khổ thơ cuối bài thơ “đoàn thuyền đánh cá” là bức tranh hoành tráng với âm thanh, hình ảnh tràn đầy sức mạnh của con người, đoàn thuyền và ngập tràn ánh sáng.

- Câu hát cùng gió khơi đưa thuyền đi nay vẫn câu hát ấy căng buồm đưa thuyền về. Nhưng giờ đây không chỉ còn là sức mạnh của gió mà sức mạnh niềm vui con người như được nhân lên vì thuyền đầy cá. Nếu ở khổ đầu, sau khi màn đêm bao trùm trên biển, khi đó con người mở cửa đêm ra khơi đánh cá thì giờ đây họ - những người dân chài đang “chạy đua cùng mặt trời”.

Không còn là sự tiếp nối của nhịp sống tự nhiên, con người mà quan hệ của thiên nhiên, con người là quan hệ song song, đua tranh. Chạy đua vói mặt trời cũng là chạy đua với thời gian.Con người đang giữ lấy từng giây, từng phút, đang vượt lên trên cả thời gian để tạo của cải cho cuộc sống mới, để xây dựng cống hiến. Những con người lao động đã về đến bến khi bình minh vừa ló dạng.

-Cảnh biển một ngày mới được mở rộng đến muôn dặm và tràn ngập ánh sáng. Hình ảnh nhân hóa “mặt trời đội biển” đi lên mở ra một ngày mới tốt đẹp hơn,ánh sáng của mặt trời không chỉ mang đến màu của cảnh vật mà còn mang “ màu mới” cho cuộc sống mà những người lao động đang từng ngày, từng giờ cống hiến. Sức tưởng tượng của bút pháp lãng mạn khiến bờ bãi thuyền về trong dòng thơ cuối rực rỡ huy hoàng ánh sáng.

- Mắt của ngàn vạn con cá phơi trên bờ biển như cùng hướng về một phía phản chiếu tai sáng bình minh rực sáng muôn dặm dài xa như bờ biển đất nước.

B- Hình thức:

Học sinh có thể trình bày và lập luận khác nhau song bài viết phải có kết cấu chặt chẽ, có khả năng cảm thụ tốt, phân tích thỏa đáng làm sáng rõ nội dung yêu cầu của đề bài. Văn viết mạch lạc có cảm xúc.

Câu 2:

Bài làm cần đáp ứng những yêu cầu sau:

A- Về nội dung:

1- Xác định ý nghĩa của câu chuyện:

- Câu chuyện diễn ra ở một thế vận hội của những người khuyết tật, nơi con người luôn khao khát chiến thắng để khẳng định mình, xóa đi những mặc cảm là người tàn phế, để có thêm niềm tin vào nghị lực sống.

- Tám con người, tám hoàn cảnh, tám nỗi đau tật nguyền nhưng có chung một tấm lòng cảm thông, yêu thương, sẵn sàng hi sinh chiến thắng của mình vì người khác.

- Cô bé bị bệnh Down tưởng như khiếm khuyết nhất về trí tuệ đã có những lời nói thật dịu dàng, yêu thương, động viên cậu bé bất hạnh, giúp cậu chiến thắng nỗi buồn, sự mặc cảm.

2- Bài học rút ra:

- Hãy biết cảm thông, chia sẻ, biết hi sinh vì mọi người. Đó là chiến thắng lớn nhất trong cuộc đời mỗi con người: chiến thắng sự ích kỉ.

- Chiến thắng không phải là tất cả. Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi ta biết giúp đỡ người khác cùng chiến thắng dù ta có phải chậm lại một bước.

- Cách nhìn nhận đánh giá con người của chúng ta. Có thể họ khiếm khuyết về mặt thể chất nhưng tâm hồn họ đầy tròn thương yêu, chia sẻ, cảm thông…

B Về hình thức:

Học sinh biết cách làm bài nghị luận. Bài viết có bố cục chặt chẽ. Biết vận dụng nhuần nhuyễn các thao tác lập luuaanj: giải thích, chứng minh, bình luận.

Câu 3:

A Về nội dung:

Bài làm cần có các ý cơ bản sau:

+ Giới thiệu lời nhận xét.

+Giới thiệu bài thơ về nhan đề, kết cấu và thể thơ.Bài thơ viết theo thể thơ tự do, câu thơ dài ngắn khác nhau phù hợp với giọng điệu trẻ trung, ngang tàng của chất lính Trường Sơn, trả qua những khốc liệt của chiến tranh nhưng họ vẫn phơi phới niềm tin.

+ Bài thơ theo mạch cảm xúc với hai hình ảnh gắn liền nhau: xe không kính và người chiến sĩ lái xe.

+ Hiện thực khốc liệt của thời kì chiến tranh qua hình ảnh những chiếc xe không kính.

+ Hình ảnh người lính lái xe Trường Sơn với tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, ý chí chiến đấu vì miền Nam.Tin tưởng chiến thắng,lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến. Họ luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng.

+Bài thơ ca ngợi người chiến sĩ lái xe Trường Sơn dũng cảm, hiên ngang, tràn đầy niềm tin chiến thăng. Đó cũng là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

B Về hình thức:

Viết đúng kiểu bài nghị luận về tác phẩm thơ.Vận dụng nhuần nhuyễn các phép lập luận, kết hợp tốt các phương pháp biểu đạt. Bố cục rõ ràng, chặt chẽ, văn viết mạch lạc, từ ngữ trongg sáng, giàu cảm xúc, không mắc lỗi về câu, từ, chính tả thông thường.

***************************************************************

**********

Phòng GD &ĐT Thanh Oai Trường THCS Nguyễn Trực-KB Môn Ngữ văn

Thời gian làm bài: 150 phút (Không kể thời gian giao đề) Câu 1: (4,0 điểm)

Cảm nhận về chi tiết vết thẹo trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng ?

Câu2:(4,0điểm)

Trong bức thư của một du học sinh Nhật bàn về “Văn hóa Việt” có đoạn:

“Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường”.

Là một người Việt trẻ tuổi, bạn suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?

Câu 3 : ( 12 điểm )

Có ý kiến cho rằng: “Bài thơ “Đồng chí ”của Chính Hữu là một bức tranh tráng lệ, cao cả, thiêng liêng về người chiến sĩ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Em hiểu điều đó như thế nào? Hãy phân tích bài thơ để làm sáng tỏ.

...Hết....

Hướng dẫn chấm Câu 1 : (4

II . Về nội dung:

Bài viết có thể trình bày theo các cách khác nhau nhưng cơ bản nêu được các ý sau:

1. Nêu được vai trò của chi tiết nghệ thuật trong truyện:

- Chi tiết là một trong những yếu tố nhỏ nhất tạo nên tác phẩm; để làm nên một chi tiết nhỏ có giá trị đòi hỏi nhà văn phải có sự thăng hoa về cảm hứng và tài năng nghệ thuật.

- Nghệ thuật là một lĩnh vực đặc thù: Tầm vóc của người nghệ sỹ có thể được làm nên từ những yếu tố nhỏ nhất. Nhà văn lớn có khả năng sáng tạo được những chi tiết nhỏ nhưng giàu giá trị biểu đạt, góp phần đắc lực trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm.

2. Đánh giá giá trị của chi tiết “vết thẹo” trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của NguyễnQuangSáng. a.

Giá trị nghệ thuật:

- Tạo sự hoàn chỉnh, chặt chẽ cho cốt truyện: Vết thẹo trên mặt ông Sáu là chi tiết nghệ thuật đặc sắc, nối kết các tình tiết trong truyện, tạo nên nghệ thuật thắt nút, mở nút bất ngờ, hợp lý:

+ Ông Sáu trở về gia đình gặp con vì vết thẹo mà bé Thu không nhận cha.

+ Nhờ vết thẹo mà khi bà giải thích Thu hiểu cha và hối hận.

+ Thu nhận cha, yêu cha, yêu vết thẹo, không muốn chia tay cha.

- Tạo kịch tính, tăng sức hấp dẫn cho tác phẩm.

b. Giá trị nội dung: Chi tiết nhỏ nhưng góp phần thể hiện nội dung truyện.

- Vết thẹo là chứng tích của chiến tranh, chiến tranh đã gây ra nỗi đau về thể xác và tinh thần cho con người, đã chia cắt nhiều gia đình.

- Chứng tỏ chiến tranh có thể hủy diệt tất cả nhưng không thể hủy diệt được tình cảm con người: cụ thể tình cha con.

- Làm rõ nét vẻ đẹp của các nhân vật:

+ Ông Sáu yêu nước, dũng cảm,dám chấp nhận hi sinh.

+ Bé Thu có cá tính mạnh mẽ, có tình yêu thương cha sâu sắc, mãnh liệt.

Câu 2: (4,0 điểm)

*. Yêu cầu:

I. Về kĩ năng:

- Thí sinh thể hiện tốt kĩ năng làm văn nghị luận xã hội.

- Bố cục rõ ràng, diễn đạt trôi chảy, lập luận chặt chẽ, không mắc lỗi ngữ pháp, dùng từ, chính tả.

II. Về kiến thức:

Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau song cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

1. Giải thích ý kiến

- Tự hào: là sự hãnh diện, tự tin về điều gì đó.

- 4000 năm văn hiến: là quá trình lịch sử dài lâu, gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước, tạo nên những truyền thống văn hoá lâu đời và tốt đẹp của dân tộc.

- Xấu hổ: cảm giác hổ thẹn vì lỗi lầm hoặc sự kém cỏi, không xứng đáng.

- 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường”: chỉ sự tương phản đầy nghịch lý, nhấn mạnh những truyền thống văn hoá lâu đời tốt đẹp chỉ là lý thuyết đóng khung trong sử sách, còn thực tế đời sống không chứng minh cho truyền thống văn hoá lâu đời đó.

Ý cả câu là một lời cảnh tỉnh đối với mỗi người Việt Nam: không nên ngủ quên trong quá khứ và hãnh diện về truyền thống văn hoá lâu đời của dân tộc mà cần để truyền thống văn hoá tốt đẹp đó thể hiện trong thực tế cuộc sống hàng ngày.

2. Phân tích lý giải

2.1. Vì sao nói “thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến”?

- Vì trong thực tế không phải dân tộc nào cũng có lịch sử phát triển lâu đời như vậy.

- Trong suốt 4000 năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần, hình thành bản sắc văn hoá của dân tộc với những nét tốt đẹp, biểu hiện phong phú ở nhiều lĩnh vực của đời sống.

2.2. Vì sao nóiThật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường”?

- Vì 4000 năm văn hiến là nền tảng, hành trang quý báu, nhưng nó hoàn toàn là thành tựu của quá khứ. Không thể chỉ tự hào về những điều trong sử sách, vì văn hoá của một dân tộc cần biểu hiện thành những điều cụ thể trong cuộc sống hiện tại.

- Thực tế hiện nay đáng cảnh báo vì sự xuống cấp của những giá trị văn hoá trong lối sống, VD: truyền thống nhân đạo, tương thân tương ái ngàn xưa đang đứng trước nguy cơ bị đẩy lùi bởi thói vô cảm và chủ nghĩa cá nhân; truyền thống trọng tình nghĩa mai một trước chủ nghĩa thực dụng và toan tính....

3. Đánh giá

- Ý kiến trên có tác dụng nhắc nhở, cảnh tỉnh mỗi người Việt Nam nhìn lại chính mình, để biết trân trọng quá khứ của cha ông đồng thời có ý thức gìn giữ và phát triển những truyền thống văn hoá tốt đẹp trong hiện tại.

- Tuy nhiên, sẽ là phiến diện nếu không ghi nhận những tấm gương nỗ lực để bảo vệ và phát huy truyền thống đó trong đời sống. Từ đó, rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.

Câu 3: (12 điểm)

Một phần của tài liệu BỘ đề ôn HSG văn 9 (Trang 52 - 59)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(227 trang)
w