Nguyễn Đình Thi từng quan niệm

Một phần của tài liệu BỘ đề ôn HSG văn 9 (Trang 111 - 117)

B. YÊU CẦU CỤ THỂ

3. Nguyễn Đình Thi từng quan niệm

“Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những chất liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh”.

(Trích Tiếng nói của văn nghệ, SGK Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục, 2011, tr.12 -13).

Em hiểu thế nào là điều mới mẻ, lời nhắn nhủ trong quan niệm của Nguyễn Đình Thi? Qua bài thơ Ánh trăng, em hãy làm rõ điều mới mẻlời nhắn nhủ mà nhà thơ Nguyễn Duy muốn góp vào đời sống.

5,0

- Yêu cầu về kĩ năng

Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết có cảm xúc. Không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.

- Yêu cầu về kiến thức

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải làm sáng tỏ những nội dung cơ bản sau :

a. Giải thích khái niệm (0,5 điểm)

- Điều mới mẻ: là cách cảm nhận và thể hiện độc đáo của người nghệ sĩ về hiện thực đời sống.

- Lời nhắn nhủ: Là tư tưởng, tình cảm, thông điệp thẩm mỹ mà người nghệ sĩ muốn gửi đến bạn đọc thông qua tác phẩm nghệ thuật của mình.

Thông điệp ấy gắn với chức năng giáo dục và cải tạo xã hội của văn học nghệ thuật.

0,25 0,25

b. Điều mới mẻlời nhắn nhủ của Nguyễn Duy qua Ánh trăng (4,0 điểm)

- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm (0,25 điểm)

+ Nguyễn Duy là nhà thơ – chiến sĩ, gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Ông cũng là cây bút có sức sáng tạo bền bỉ sau năm 1975.

+ Ánh trăng được viết năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ vừa mang đến điều mới mẻ, vừa là lời nhắn nhủ sâu sắc của Nguyễn Duy về thái độ sống của con người.

- Điều mới mẻ mà Nguyễn Duy thể hiện qua Ánh trăng (2,0 điểm)

Trăng là đề tài quen thuộc của thơ ca xưa nay, nhưng Nguyễn Duy vẫn có những cảm nhận và cách thể hiện riêng.

+ Bài thơ Ánh trăng mới mẻ ở nội dung:

Trăng được thể hiện như là biểu tượng cho vẻ đẹp bình dị mà vĩnh hằng của thiên nhiên, theo nhân vật trữ tình từ thời thơ ấu bình yên đến những ngày chiến tranh ở rừng. Vì thế, trăng còn là biểu tượng của quá khứ gian khó mà tươi đẹp, của nghĩa tình thắm thiết, đằm sâu với quê hương, đồng đội, bạn bè.

Trăng còn được Nguyễn Duy đặt vào trong mối quan hệ đa chiều với nhân vật trữ tình: Nếu quá khứ trăng là tri kỉ thì hiện tại trăng bị biến thành người dưng. Từ tình huống Thình lình đèn điện tắt, nhà thơ phát

0,25

0,25

0,75

0,75

hiện thêm một vẻ đẹp khác đáng trân trọng của trăng: thủy chung, bao dung mà nghiêm khắc, có khả năng thức tỉnh con người.

+ Bài thơ Ánh trăng mới mẻ ở nghệ thuật: Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc mà vẫn chứa chất triết lí sâu xa; hình ảnh thơ đa nghĩa, có tính biểu tượng cao; kết hợp giữa chất tự sự với tính trữ tình; kết cấu bài thơ theo mạch thời gian; tạo được tình huống bất ngờ; hầu như không sử dụng dấu chấm câu và chỉ viết hoa chữ đầu tiên của mỗi khổ thơ...

- Lời nhắn nhủ của tác giả qua bài thơ (1,5 điểm):

+ Bài thơ có ý nghĩa như một lời cảnh tỉnh, lời nhắc nhở chúng ta đừng quên đi những gì đẹp đẽ đã gắn bó với con người trong quá khứ, cần phải sống tình nghĩa, thủy chung. Đạo lí “uống nước nhớ nguồn” đã được gửi gắm kín đáo và tinh tế.

+ Trong cuộc sống, con người cũng cần những phút “giật mình”, nghĩa là trạng thái thức tỉnh của lương tâm, soi lại bản thân để nhận ra sự thiếu sót, vị kỉ, chưa hoàn thiện. Nếu không có những phút giật mình như thế, con người ta rất dễ đánh mất chính mình, phản bội lại quá khứ ân tình, ân nghĩa.

0,5

0,75

0,75

c. Đánh giá (0,5 điểm)

- Chính những khám phá mới mẻ về nội dung nghệ thuật, chính thông điệp giàu tính nhân văn đã làm nên sức sống của bài thơ và phong cách nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Duy. Đó đồng thời là bản chất của sáng tạo nghệ thuật, là yêu cầu đối với mỗi người nghệ sĩ (bài học về sáng tạo).

- Bài thơ không phải là một sản phẩm của triết lí khô khan, lời nhắn nhủ phải được thể hiện với tính nghệ thuật mới có khả năng lay động. Điều đó cũng đòi hỏi độc giả phải là người đồng sáng tạo để cảm nhận được những thông điệp mà người nghệ sĩ muốn gửi tới (bài học về tiếp nhận).

0,25

0,25

Lưu ý :

- Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh.

- Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có những suy nghĩ và cách trình bày sáng tạo.

- Điểm lẻ toàn bài tính đến 0,25.

---HẾT---

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 CẤP TỈNH

GIA LAI Năm học: 2011 – 2012 --- --- Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian phát đề)

Ngày thi: 29/3/2012

--- Câu 1: (8 điểm)

Hãy đọc đoạn văn sau:

“ Bên kia những hàng cây bằng lăng, tiết trời đầu thu đem đến cho con sông Hồng một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra. Vòm trời cũng như cao hơn. Những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ vàng thau xen với màu xanh non- những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ. Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, đây là một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến- cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình.”

(Trích Bến quê – Nguyễn Minh Châu) Suy nghĩ của em về vấn đề đặt ra trong đoạn trích trên.

Câu 2: (12 điểm)

Cảm nhận của em về hai đoạn thơ sau:

a) Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

(Trích Viếng lăng Bác – Viễn Phương) b) Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca

Một nốt trầm xao xuyến.

Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời ĐỀ CHÍNH

THỨC

Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc.

(Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải)

---Hết---

Họ và tên thí sinh:...Số báo danh...Phòng...

* Giám thị không giải thích gì thêm.

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 CẤP TỈNH

GIA LAI Năm học: 2011 – 2012 --- --- ĐỀ DỰ BỊ Môn thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian phát đề)

Ngày thi: 29/3/2012

--- Câu 1: (8điểm)

Suy nghĩ của em về vấn đề Tố Hữu nhắn gửi trong đoạn thơ sau:

Một ngôi sao chẳng sáng đêm Một thân lúa chín chẳng nên mùa vàng

Một người đâu phải nhân gian Sống chăng như đốm lửa tàn mà thôi

(Trích - Tiếng ru) Câu 2: (12 điểm)

Sự khám phá và cách thể hiện hình ảnh ánh trăng trong các tác phẩm: Ngắm trăng của Hồ Chí Minh, Ánh trăng của Nguyễn Duy.

---Hết---

Họ và tên thí sinh:...Số báo danh...Phòng...

* Giám thị không giải thích gì thêm.

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 CẤP TỈNH

GIA LAI Năm học: 2011 – 2012 --- ---

ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ CHÍNH THỨC Môn thi: NGỮ VĂN

(Đáp án và hướng dẫn chấm có 04 trang)

--- Câu 1: (8 điểm)

I- Yêu cầu về kĩ năng:

- Học sinh biết huy động kiến thức đã tích lũy hoặc đã trải nghiệm để làm bài và xác định được vấn đề nghị luận thuộc phạm vi nghị luận xã hội chứ không phải nghị luận văn học.

- Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận xã hội nội dung bàn về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.

- Bố cục rõ ràng, lập luận thuyết phục, cảm xúc, trình bày sạch đẹp, không mắc lỗi các loại.

II- Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể có những cách hiểu khác nhau về vấn đề nghị luận được đặt ra trong đoạn trích.

1. Cách hiểu thứ nhất: Vẻ đẹp bình dị của quê hương.

a) Mở bài:

Giới thiệu vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của quê hương, xứ sở vốn gần gũi, quen thuộc với mỗi người trong cuộc sống nhưng nhiều khi chìm khuất khiến ta không để ý và chưa nhận ra.

b) Thân bài:

- Vẻ đẹp của quê hương thật nên thơ nhưng bây giờ Nhĩ mới nhận thấy. Khi phát hiện ra điều đó, Nhĩ tưởng chừng như lần đầu tiên mình phát hiện tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của bến quê - bãi bồi bên kia sông Hồng. Từ cảm nhận của Nhĩ, người đọc thức tỉnh nhận ra vẻ đẹp của quê hương mà ngày thường có muôn vàn lí do bị che khuất.

- Quê hương là nơi lưu giữ những kỉ niệm đẹp; là nơi neo đậu bình yên cho tâm hồn và những gì thuần phác vốn gắn bó, thân thuộc trong cuộc sống của mỗi người. (Dẫn chứng minh họa)

- Phê phán, thức tỉnh những ai chưa và không biết trân trọng vẻ đẹp của quê hương.

- Liên hệ bản thân:

+ Biết yêu quý vẻ đẹp bình dị mà có giá trị bền vững của quê hương.

+ Những hành động thiết thực để góp phần giữ gìn và bảo vệ quê hương, đất nước.

c) Kết bài: Mỗi người cần có ý thức giữ gìn và trân trọng vẻ đẹp của quê hương.

2. Cách hiểu thứ hai: Trong cuộc sống, con người thường thích khám phá thế giới xa lạ mà quên đi những điều quý giá, vẻ đẹp bình dị, gần gũi đang ở quanh ta.

a) Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận.

b) Thân bài:

- Nhĩ nhận ra thời trẻ mình mải mê khám phá chân trời xa lạ mà quên đi những điều quý giá, vẻ đẹp của điều bình dị gần gũi. Sự nhận thức ở Nhĩ về vẻ đẹp của bến quê cũng là sự nhận thức đối với người đời khi đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn những vẻ đẹp của quê hương.

- Con người cần phải biết trân trọng những điều bình dị mà có giá trị bền vững của quê hương, gia đình, cuộc sống... Có như vậy mới không ân hận, hối tiếc trong đời. (Dẫn chứng minh họa)

- Những người thích khám phá thế giới xa lạ mà không biết quý trọng, quên đi điều quý giá, vẻ đẹp gần gũi sẽ đánh mất cơ hội có được những giá trị đích thực của cuộc sống.

- Liên hệ bản thân:

+ Biết nhận ra những giá trị bền vững trong gia đình, quê hương, cuộc sống.

+ Thận trọng trong học tập, hành động, không sa vào những điều vòng vèo, chùng chình để đạt đến ý nghĩa thiết thực trong cuộc đời.

c) Kết bài: Con người cần có ước mơ, khám phá nhưng đừng quên thực tại và hãy biết trân trọng những điều quý giá trong cuộc sống hàng ngày.

Một phần của tài liệu BỘ đề ôn HSG văn 9 (Trang 111 - 117)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(227 trang)
w