Sửa chữa những sai sót cụ thể trong bμi viết

Một phần của tài liệu Ngu van 12 tap 2 (Trang 67 - 168)

 Đọc nhận xét của thầy (cô) giáo về bμi viết.

 Sửa lại các sai sót trong bμi viết.

II  luyện tập ở nhà và chuẩn bị cho bài viết sau 1. Viết lại toμn bộ hoặc một phần bμi viết.

2. Thực hiện các yêu cầu của thầy (cô) giáo, chuẩn bị tốt cho bμi viết số 6.

Viết bμi lμm văn số 6 : nghị luận văn học

(Bμi lμm ở nhμ)

I  h−íng dÉn chung

Để bμi viết đạt kết quả tốt, anh (chị) cần thực hiện các công việc chuẩn bị sau : 1. Đọc lại các tác phẩm (đoạn trích) truyện vμ tuỳ bút đã học ở chương trình Ngữ văn lớp 12 để :

 Nhớ rõ cốt truyện, nhân vật, chi tiết, sự việc chính của mỗi truyện cũng nh− dòng ý nghĩ, cảm xúc vμ những lời văn đẹp của mỗi thiên tuỳ bút.

 Tìm hiểu những nội dung cơ bản vμ đặc sắc nghệ thuật của từng tác phẩm (đoạn trích).

 Ghi lại những ý kiến, đánh giá, những điều muốn bμn luận cùng cảm nghĩ về tác phẩm hoặc về từng mặt, từng khía cạnh của tác phẩm.

2. Học lại để nắm vững hơn cách thức tìm hiểu vμ phân tích một tác phẩm tù sù.

3. Ôn luyện những kiến thức vμ kĩ năng về tiếng Việt đã học để có cách diễn đạt chính xác, rμnh mạch, chặt chẽ, phù hợp với tính chất của bμi văn nghị luận văn học.

4. Ôn lại các kiến thức vμ kĩ năng lμm văn nghị luận, nhất lμ những kĩ năng về lập luận đã học ở lớp 12. Chú ý rèn luyện thêm những mặt còn yếu của bản thân ở các khâu : tìm hiểu đề ; lập dμn ý ; tìm lí lẽ, dẫn chứng vμ tiến hμnh lËp luËn,...

 Nắm vững hơn nữa các tác phẩm truyện vμ tuỳ bút đã học ở lớp 12.

 Vận dụng tốt hơn các kĩ năng lμm bμi văn nghị luận, nhất lμ các kĩ năng phân tích truyện, tuỳ bút vμ kĩ năng lập luận.

 Thông qua việc phân tích tác phẩm, có đ−ợc những hiểu biết đúng đắn về cuộc sống.

Kết quả cần đạt

Ii  gợi ý một số đề bài

1. Trong truyện Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi có nêu lên quan niệm : Chuyện gia đình cũng dμi nh− sông, mỗi thế hệ phải ghi vμo một khúc. Rồi trăm con sông của gia đình lại cùng đổ về một biển, “mμ biển thì

rộng lắm [...], rộng bằng cả n−ớc ta vμ ra ngoμi cả n−ớc ta”.

Anh (chị) có cho rằng, trong thiên truyện của Nguyễn Thi quả đã có một dòng sông truyền thống liên tục chảy từ những lớp ng−ời đi tr−ớc : tổ tiên, ông cha, cho đến lớp người đi sau : chị em Chiến, Việt ?

2. Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bμi tuỳ bút Người lái đò Sông Đμ (Nguyễn Tuân) vμ Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (Hoμng Phủ Ngọc T−ờng).

3. Về một truyện ngắn trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam mμ anh (chị) yêu thích.

III  Gợi ý cách làm bài

1. Cần đọc kĩ đề bμi để tránh những hiểu lầm đáng tiếc dẫn đến lạc đề hoặc xa đề (ví dụ : cho rằng đề 1 chỉ yêu cầu nhắc lại những đặc điểm về nội dung vμ nghệ thuật của truyện Những đứa con trong gia đình, đề 2 đòi hỏi phải đề cập tới cả hai mặt hung bạo vμ trữ tình của sông Đμ, còn để lμm đề 3 thì chỉ cần nhắc lại những kiến thức đã học về một tác phẩm tự sự,...).

2. Cần tìm đủ các luận điểm, luận cứ cần thiết, nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của đề bμi.

3. Xây dựng một dμn ý rõ rμng, mạch lạc. Phần mở bμi giới thiệu đ−ợc vấn

đề nghị luận vμ gây được hứng thú cho người đọc. Phần thân bμi trình bμy các luận điểm, luận cứ theo một tiến trình lập luận hợp lí, chặt chẽ. Phần kết bμi thâu tóm được tinh thần vμ nội dung cơ bản của bμi lμm, đồng thời lưu lại những suy ngẫm sâu xa trong người đọc.

4. Trong quá trình trình bμy luận điểm, luận cứ, cần vận dụng các thao tác lập luận thích hợp. Các thao tác ấy phải kết hợp hμi hoμ, nhuần nhuyễn với nhau. Chú ý không để bμi lμm mắc lỗi về lập luận.

5. Cần cố gắng nâng cao hiệu quả diễn đạt. Lưu ý vận dụng hợp lí, sáng tạo các biện pháp chuyển ý, chuyển đoạn vμ các phép tu từ để các câu, các đoạn văn thêm chặt chẽ vμ hấp dẫn, phù hợp với một bμi nghị luận văn học.

NguyÔn Minh Ch©u

ChiÕc thuyÒn ngoμi xa

TiÓu dÉn

Nguyễn Minh Châu (1930  1989) quê ở lμng Thơi, xã

Quỳnh Hải (nay lμ xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đầu năm 1950, ông gia nhập quân đội, theo học Tr−ờng Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952

đến năm 1958, ông công tác vμ chiến đấu tại S− đoμn 320.

Năm 1962, ông về Phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Tác phẩm chính : Cửa sông (tiểu thuyết, 1967), Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn, 1970), Dấu chân ng−ời lính (tiểu thuyết, 1972), Miền cháy (tiểu thuyết, 1977), Lửa từ những ngôi nhμ (tiểu thuyết, 1977), Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982), Mảnh đất tình yêu (tiểu thuyết, 1987). Ông cũng có nhiều sáng tác viết cho thiếu nhi nh− : Từ giã tuổi thơ (tiểu thuyết, 1974), Những ngμy lưu lạc (tiểu thuyết, 1981), Đảo đá kì lạ (tiểu thuyết, 1985),... vμ một tập tiểu luận phê bình Trang giấy trước đèn (1994). Đặc biệt, với các tập truyện ngắn : Người

đμn bμ trên chuyến tμu tốc hμnh (1983), Bến quê (1985), Chiếc thuyền ngoμi xa (1987), Cỏ lau (1989), Nguyễn Minh Châu đ−ợc coi lμ một trong những cây bút tiên phong của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Năm 2000 ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

 Cảm nhận đ−ợc suy nghĩ của ng−ời nghệ sĩ nhiếp

ảnh khi phát hiện ra sự thật : đằng sau bức ảnh rất

đẹp về chiếc thuyền trong sương sớm mμ anh tình cờ chụp được lμ số phận đau đớn của người phụ nữ vμ bao ngang trái trong một gia đình hμng chμi.

Từ đó thấu hiểu : mỗi người trong cõi đời, nhất lμ người nghệ sĩ, không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhËn cuéc sèng vμ con ng−êi.

 Thấy đ−ợc nghệ thuật kết cấu độc đáo, cách triển khai cốt truyện, khắc hoạ nhân vật của một cây bút viết truyện ngắn có bản lĩnh vμ tμi hoa.

Kết quả cần đạt nguyÔn minh ch©u

Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoμi xa in đậm phong cách tự sự  triết lí của Nguyễn Minh Châu. Với ngôn từ dung dị đời thường, truyện kể lại chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp

ảnh vμ những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật vμ cuộc đời.

Văn bản

(L−ợc phần đầu : Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền vμ biển thật −ng ý, trưởng phòng đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi thực tế chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Nhân chuyến đi thăm Đẩu, người bạn chiến đấu năm xưa, giờ đang lμ chánh án toμ án huyện, Phùng đi tới một vùng biển từng lμ chiến tr−ờng cũ của anh thời kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Phùng đã “phục kích” mấy buổi sáng mμ ch−a chụp đ−ợc bức

ảnh nμo. Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng quyết định thu vμo tờ lịch tháng bảy năm sau cảnh thuyền đánh cá thu lưới vμo lúc bình minh.)

Lúc bấy giờ trời đầy mù từ ngoμi biển bay vμo. Lại lác đác mấy hạt m−a. Tôi rúc vμo bên bánh xích của một chiếc xe tăng(1) để tránh m−a, đang lúi húi thay phim, lúc ngẩng lên thấy một chuyện hơi lạ : một chiếc thuyền l−ới vó(2) mμ tôi

đoán lμ trong nhóm đánh cá ban nãy đang chèo thẳng vμo trước mặt tôi.

Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh ch−a bao giờ tôi đ−ợc thấy một cảnh

“đắt” trời cho như vậy : trước mặt tôi lμ một bức tranh mực tμu của một danh hoạ thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vμo bầu s−ơng mù trắng nh− sữa có pha đôi chút mμu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vμo. Vμi bóng ng−ời lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc nh− t−ợng trên chiếc mui khum khum, đang h−ớng mặt vμo bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt l−ới vμ tấm l−ới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra d−ới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toμn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hμi hoμ vμ đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản vμ toμn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim nh− có cái gì bóp thắt vμo. Chẳng biết ai đó lần đầu đã

phát hiện ra bản thân cái đẹp chính lμ đạo đức ? Trong giây phút bối rối, tôi t−ởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toμn thiện, khám phá

thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn.

Chẳng phải lựa chọn xê dịch gì nữa, tôi gác máy lên bánh xích của chiếc xe tăng hỏng bấm “liên thanh” một hồi hết một phần t− cuốn phim, thu vμo

(1) Đây lμ bãi xe tăng hỏng do quân nguỵ tháo chạy để lại khi bị quân giải phóng tấn công vμo mùa xuân năm 1975.

(2) Thuyền lưới vó : thuyền đánh cá có hai gọng ở mũi thuyền để giăng lưới, khi cá được dồn vμo thì cất lên nh− cất vó.

chiếc Pra-ti-ca(1) cái khoảnh khắc hạnh phúc trμn ngập tâm hồn mình, do cái

đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại.

Tôi chắc mẩm ngay trong ngμy hôm nay hoặc sáng mai đã có thể nhảy lên tμu hoả trở về, nếu cái anh bạn đồng ngũ không cố níu giữ ở chơi thêm vμi bữa.

*

* *

Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vμo trước chỗ tôi đứng. Một người đμn

ông vμ một ng−ời đμn bμ rời chiếc thuyền. Họ phải lội qua một quãng bờ phá(2) nước ngập đến quá đầu gối. Bất giác tôi nghe người đμn ông nói chõ lên thuyền nh− quát : “Cứ ngồi nguyên đấy. Động đậy tao giết cả mμy đi bây giờ”.

Chắc chắn họ không trông thấy tôi. Ng−ời đμn bμ trạc ngoμi bốn m−ơi, một thân hình quen thuộc của đμn bμ vùng biển, cao lớn với những đ−ờng nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt vμ d−ờng nh− đang buồn ngủ. Ng−ời đμn ông đi sau. Tấm l−ng rộng vμ cong nh− l−ng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, b−ớc từng b−ớc chắc chắn, hμng lông mμy cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ

độc dữ lúc nμo cũng nhìn dán vμo tấm lưng áo bạc phếch vμ rách rưới, nửa thân d−ới −ớt sũng của ng−ời đμn bμ.

Từ chỗ chiếc xe tăng mμ tôi đang đứng với chiếc máy ảnh, đi quá mươi b−ớc sâu vμo phía trong có một chiếc xe rμ phá mìn của công binh Mĩ, chiếc xe sơn mμu vμng tươi vμ to lớn gấp đôi một chiếc xe tăng. Hai người đi qua trước mặt tôi. Họ đi đến bên chiếc xe rμ phá mìn. Người đμn bμ đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoμi mặt phá n−ớc chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đ−a một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nh−ng rồi lại buông thõng xuống,

đ−a cặp mắt nhìn xuống chân.

Lão đμn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt l−ng của lính nguỵ ngμy x−a, có vẻ nh− những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận nh− lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt l−ng quật tới tấp vμo l−ng ng−ời đμn bμ, lão vừa

đánh vừa thở hồng hộc, hai hμm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống

(1) Chiếc máy ảnh hiệu Pra-ti-ca.

(2) Phá : vùng biển ăn sâu vμo đất liền.

lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn : “Mμy chết đi cho ông nhờ.

Chúng mμy chết hết đi cho ông nhờ !”.

Ng−ời đμn bμ với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn.

Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mμ nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhμo tới.

Bóng một đứa con nít lao qua trước mặt tôi. Tôi vừa kịp nhận ra thằng Phác  thằng bé trên rừng xuống vừa nằm ngủ với tôi từ lúc nửa đêm. Thằng bé cứ chạy một mạch, sự giận dữ căng thẳng lμm nó khi chạy qua không nhìn thấy tôi. Như một viên đạn trên đường lao tới đích đã nhắm, mặc cho tôi gọi nó vẫn không hề ngoảnh lại, nó chạy tiếp một quãng ngắn giữa những chiếc xe tăng rồi lập tức nhảy xổ vμo cái lão đμn ông.

Cũng y hệt ng−ời đμn bμ, thằng bé của tôi cũng nh− một ng−ời câm, vμ

đến lúc nμy tôi mới biết lμ nó khoẻ đến thế !

Khi tôi chạy đến nơi thì chiếc thắt l−ng da đã nằm trong tay thằng bé, không biết lμm thế nμo nó đã giằng được chiếc thắt lưng, liền dướn thẳng ng−ời vung chiếc khoá sắt quật vμo giữa khuôn ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen nh− hắc ín, loăn xoăn từ rốn mọc ng−ợc lên. Lão đμn ông

định giằng lại chiếc thắt l−ng nh−ng chẳng đ−ợc nữa, liền dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát. Rồi lão lẳng lặng bỏ đi về phía bờ nước để trở về thuyền. Không hề quay mặt nhìn lại, chỉ có tảng l−ng khum khum vμ vạm vỡ cμng có vẻ cúi thấp hơn, nom lão nh−

một con gấu đang đi tìm nguồn nước uống, hai bμn chân chữ bát để lại những vết chân to vμ sâu trên bãi cát hoang vắng.

Người đμn bμ dường như lúc nμy mới cảm thấy đau đớn  vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã.

 Phác, con ơi !

Miệng mếu máo gọi, ng−ời đμn bμ ngồi xệp xuống tr−ớc mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy. Thằng nhỏ cho đến lúc nμy vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vμo người

đμn ông vμ bây giờ đang xuyên qua tâm hồn ng−ời đμn bμ, lμm rỏ xuống những dòng n−ớc mắt, vμ cái thằng nhỏ, lặng lẽ đ−a mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt ng−ời mẹ, nh− muốn lau đi những giọt n−ớc mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt.

Thế rồi bất ngờ người đμn bμ buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo lão đμn ông. Cả hai ng−ời lại trở về chiếc thuyền.

Khoảnh khắc sau, bãi cát lại trở về với vẻ mênh mông vμ hoang sơ. Giữa tiếng sóng ngoμi khơi dội những tiếng kêu ồ ồ vμo cõi im lặng, chỉ có tôi vμ thằng bé đứng trơ giữa bãi xe tăng hỏng, trên tay thằng nhỏ vẫn cầm chiếc thắt l−ng, hai chúng tôi đ−a mắt ngơ ngác nhìn ra một quãng bờ phá vừa ban nãy chiếc thuyền đậu.

Như trong câu chuyện cổ đầy quái đản, chiếc thuyền lưới vó đã biến mất.

*

* *

(L−ợc một đoạn : Biết Phùng chứng kiến sự tμn bạo của cha mình, thằng bé Phác đâm ra căm ghét anh. Ba hôm sau, cũng trong lμn s−ơng sớm, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đμn ông

đánh vợ, cảnh cô chị gái tước đoạt con dao găm mμ đứa em trai định dùng lμm vũ khí để bảo vệ người mẹ đáng thương. Không thể nén chịu hơn được nữa, Phùng xông ra buộc lão đμn ông phải chấm dứt hμnh động độc ác. Lão đμn ông đánh trả, Phùng bị thương, anh được đưa về trạm y tế của toμ án huyện. ở đấy anh đã nghe câu chuyện của người đμn bμ hμng chμi với bao sự cảm thông vμ ngỡ ngμng, ngạc nhiên.)

Đây lμ lần thứ hai, người đμn bμ được Đẩu mời đến về công việc gia đình.

Cũng không phải lμ lần đầu đến một nơi công sở nhưng người đμn bμ vẫn có vẻ sợ sệt, lúng túng  cái vẻ lúng túng, sợ sệt mμ ngay lúc mụ đứng giữa bãi xe tăng cũng không hề thấy có.

Người đμn bμ chỉ quen sống giữa mặt nước vừa đặt chân vμo trong gian phòng đầy bμn ghế vμ giấy má liền tìm đến một góc tường để ngồi.

Ngồi sau một chiếc bμn lớn, Đẩu nhổm dậy chỉ chiếc ghế mây tr−ớc mặt, cố lμm ra vẻ thân mật :

 Chị ngồi lên đây, sao lại thế, hãy ngồi lên chiếc ghế nμy...

Đẩu phải nói đến l−ợt thứ hai, mụ mới dám rón rén đến ngồi ghé vμo mép chiếc ghế vμ cố thu ng−ời lại.

§Èu hái :

 Thế nμo, chị đã nghĩ kĩ ch−a ?

Ng−ời đμn bμ ng−ớc lên nhìn Đẩu, rồi lại cúi mặt xuống.

 Th−a đã...

Đẩu gật đầu. Anh đứng dậy. Tự nhiên anh rời chiếc bμn đến đứng vịn vμo l−ng ghế ng−ời đμn bμ ngồi, giọng trở nên đầy giận dữ, khác hẳn với giọng một vị chánh án :

 Ba ngμy một trận nhẹ, năm ngμy một trận nặng. Cả n−ớc không có một ng−ời chồng nμo nh− hắn. Tôi ch−a hỏi tội của hắn mμ tôi chỉ muốn bảo ngay với chị : Chị không sống nổi với cái lão đμn ông vũ phu ấy đâu ! Chị nghĩ thế nμo ?

Ng−ời đμn bμ h−ớng về phía Đẩu, tự nhiên chắp tay lại vái lia lịa :

 Con lạy quý toμ...

 Sao, sao ?

 Quý toμ bắt tội con cũng đ−ợc, phạt tù con cũng đ−ợc, đừng bắt con bá nã...

Lúc bấy giờ tôi đang ngồi giấu mặt sau bức mμn vải hoa ngăn chỗ lμm việc bên ngoμi vμ phòng ngủ bên trong của Đẩu. Sau câu nói của ng−ời đμn bμ, tôi cảm thấy gian phòng ngủ lồng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá. Tôi vén lá mμn b−ớc ra.

Ng−ời đμn bμ nhận ra đ−ợc tôi ngay. Mụ nhấp nhổm xoay mình trên chiếc ghế nh− bị kiến đốt, vμ về sau tôi mới sực nghĩ ra, mụ nghĩ rằng toμ án đã bố trí sẵn tôi ngồi phía sau để chuẩn bị lμm nhân chứng.

 Chị cứ ngồi nguyên đấy !  Đẩu nói với vẻ đầy hμo hứng của một con người bảo vệ công lí vừa có thêm người đến tiếp viện, anh chạy sang phòng bên xách một chiếc ghế cho tôi. Bấy giờ d−ới con mắt của ng−ời đμn bμ hμng chμi, vị chánh án không phải lμ Đẩu đã trở về ngồi sau chiếc bμn lớn mμ lμ tôi, với mấy vết thương đã lên da non nhưng vẫn để dấu vết trên mặt.

 Tuỳ bμ !  Đẩu thay đổi cách x−ng hô, khoác lên mình cái cung cách bề ngoμi của một vị chánh án  chủ tr−ơng nguyên tắc của chúng tôi lμ kêu gọi hoμ thuËn...

Đang ngồi cúi gục xuống, ng−ời đμn bμ bỗng ngẩng lên nhìn thẳng vμo chúng tôi, lần l−ợt từng ng−ời một, với một vẻ ban đầu hơi ngơ ngác.

 Chị cám ơn các chú !  Người đμn bμ đột nhiên thốt lên bằng một giọng khẩn thiết  Đây lμ chị nói thμnh thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt, nh−ng các chú đâu có phải lμ ng−ời lμm ăn... cho nên các chú đâu có hiểu

đ−ợc cái việc của các ng−ời lμm ăn lam lũ, khó nhọc...

Chỉ mấy lời mμo đầu ấy, người đμn bμ đã mất hết cái vẻ ngoμi khúm núm, sợ sệt. Điệu bộ khác, ngôn ngữ khác.

Một phần của tài liệu Ngu van 12 tap 2 (Trang 67 - 168)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(217 trang)