Quan niệm sáng tác của Trần Kim Trắc

Một phần của tài liệu Đặc điểm truyện ngắn trần kim trắc (Trang 28 - 32)

Chương 1. HÀNH TRÌNH VĂN HỌC CỦA TRẦN KIM TRẮC

1.3. Các sáng tác của Trần Kim Trắc

1.3.1. Quan niệm sáng tác của Trần Kim Trắc

Trần Kim Trắc có quan niệm về sáng tác thật nhẹ nhàng, nhưng điều này không khiến ông thiếu coi trọng nghề văn của mình mà ngược lại.

Thứ nhất, ông quan niệm văn chương là duyên nợ, là cái nghiệp chứ không phải nghề. Trần Kim Trắc đến với nghiệp văn cũng tự nhiên như theo cách mạng vậy! Ông bảo: “Cách đây hơn thế kỷ, tôi là anh bộ đội đánh Pháp tuổi hai mươi ở Tiểu đoàn 307. Nhờ có học chút ít văn vẻ, tôi được giao nhiệm vụ trưởng ban tuyên truyền của tiểu đoàn. Thời đó cuộc sống hào hùng, sinh động nên viết cái gì cũng sướng. Chữ nghĩa ở đâu cứ tuôn ra ào ào, mình chỉ việc sắp xếp lại cho nó có lớp lang, trật tự thôi. Nhưng lúc đó chủ yếu là viết báo, viết tin, viết động viên chiến sĩ mình chiến đấu” [80]. Và rồi đúng vào giai đoạn nước sôi lửa bỏng, ông cho ra đời truyện ngắn Cái lu. Sau đó, ngã rẽ cuộc đời khiến ta cứ ngỡ Trần Kim Trắc đã chôn vùi tài năng văn chương của mình ở “chốn sơn tràng” với biệt danh “vua ong”. Thế nhưng, khi đồng đội cũ ở Tiểu đoàn 307 tìm đến động viên ông viết lại, câu chữ cứ tuôn ra đầy hào hứng như thời còn ở lính.

Thứ hai, ông quan niệm, văn chương phải bắt nguồn từ cuộc sống, được viết bằng thực tế cuộc sống và từ xúc cảm thật. Có như thế thì văn chương mới có thể đi vào lòng người được. Nhà văn từng thú nhận: “Tôi viết văn do thôi thúc từ những cảm xúc thực tế cuộc sống. Thấy cái gì hay hay về tình đời - tình người thì viết về hiện thực đó” [79, 71]. Nhà văn Trần Kim Trắc từng nói với nhà văn Nguyễn Khải: “Tôi sống tức là tôi đã viết. Còn viết ra giấy là sau… sau đó”. Quan niệm này có phần ngược lại với nhiều nhà văn:

“Chúng tôi đã viết tức là chúng tôi đã sống” [79, 182]. Với Trần Kim Trắc, sống tức là đã có tác phẩm rồi, phần còn lại của ông là ghi ra giấy, chép sạch lại những kí ức mà ông từng trải qua. Theo ông: “Cuộc đời này thật đẹp, thật đáng sống, thật vui và tôi kể hầu quý anh chị những chuyện thật đẹp, thật

đáng sống, thật vui ấy” [22]. Vì vậy, văn ông luôn có cảm xúc thật, nhất là tình cảm yêu thương dễ đi vào lòng công chúng.

Thứ ba, ông đề cao cái đẹp trong văn chương. Ông quan niệm, viết văn cũng là một hành trình khám phá, lao động nghiêm túc. Nó đòi hỏi người cầm bút phải có sự trải nghiệm, tìm tòi và đầy trách nhiệm chứ làm văn chương không phải là trò chơi chấp nhận viết cẩu thả được. Ngày chập chững viết, ông đã từng phải: “…tập cách quan sát theo lối riêng, quan sát những chi tiết bình thường. Quan sát đó rồi lưu lại đó trong ký ức để khi cần lại lấy ra sử dụng. “Mình viết văn thì phải lí lắc (nghĩa là linh hoạt, chữ lí lắc là chữ của nhà văn sử dụng), phải ví đầu mình như quả chuông vậy. Cứ có ai gõ vào là tự nhiên lại vang ra” [29]. Thế nên, cần phải viết thận trọng, kĩ lưỡng, thường phải bóc tách, loại bỏ những phần dư thừa. Trần Kim Trắc đã có cách so sánh về nghề viết văn rất lạ. Ông cho rằng: “Viết văn cũng như chơi hoa. Có nhiều hoa, nhiều màu sắc không đủ, mà phải biết nghệ thuật cắm hoa mới cho ra một bình hoa đẹp. Muốn đạt đến nghệ thuật thì phải có thời gian. Viết văn cũng vậy. Có trình độ, sự hiểu biết không thôi chưa đủ, còn phải có óc quan sát và kinh nghiệm sống” [83]. Và quan trọng hơn “viết văn là công việc tìm ngọc trong đời. Ngọc là vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong mỗi người” [6]. Tuy nhiên,

“không phải cứ làm nhà văn thì phải có nhiều gian khổ, phải bị ngược đãi mới viết hay mà đó chỉ là một điều kiện. Cuộc sống luôn tồn tại những mặt tốt xấu, thiện ác, bên trong, bên ngoài. Văn học có trách nhiệm khơi dậy hai mặt tồn tại đó. Con người dù có bị nhiều thứ che lấp đi, nhưng bên họ tính thiện vẫn còn tồn tại. Nhiệm vụ của nhà văn là phải nhìn cho ra chất ngọc trong đá đó. Nhà văn phải là người đi khai phá những mảnh đất vỡ hoang, tìm từng chi tiết để tạo cho nhân vật của mình tính cách riêng biệt.” Nên “Đừng cố “rặn”

theo kiểu ý thức đi trước, tình cảm đi sau, nó sẽ đi ngược lại với tự nhiên và khó thấm vào lòng người đọc” [83]. Vì vậy, theo ông: “Không viết thì thôi, mà đã viết thì phải cứ viết cho đàng hoàng, vắt tim óc ra mà viết để hậu sinh

đừng nhìn tác phẩm mình ngán ngẩm. Nhưng quan trong hơn là tác phẩm của mình phải có hơi thở cuộc sống, tui viết mà tưởng tượng người đọc cùng cười cùng khóc với nhân vật của mình thấy mới đã!” [80].

Thứ tư, ông quan niệm, để nhà văn và công chúng gần gũi nhau thì nhà văn phải là người hiểu đời, hiểu mình, hiểu người và đặc biệt là phải “đầy ứ tình thương” và trung thực. Hay nói cách khác, nhà văn phải hiểu độc giả cần gì để có thể tiến gần đến họ bằng những tác phẩm của mình. Và ông cho rằng đôi khi người viết cần phải hóa thân thành một nhà văn thứ hai để quan sát nhân vật mà mình viết ra được trung thực nhất. Có lẽ, văn chương của Trần Kim Trắc tiến gần với độc giả hơn cũng bởi: “Cái độc đáo của nhà văn có khi phải hóa thân làm một anh nhà văn thứ hai để quan sát lại nhân vật là chính mình đang viết rất trung thực không giấu giếm. Bởi cuộc đời của mỗi người ít ra cũng bằng một quyển tiểu thuyết tồi”. Nhà văn đặt mình vào vị trí người đọc, người thưởng thức tác phẩm để mà viết: “tôi viết cái gì mình thích và cảm nhận độc giả cũng sẽ thích” [33].

Việc so sánh Trần Kim Trắc với các nhà văn Nam Bộ khác cùng thế hệ sẽ giúp chúng ta nhận rõ hơn quan niệm sáng tác của ông. Trước hết, hãy nói về Sơn Nam, người đã rong ruổi “trên từng cây số” ở mảnh đất Nam Bộ để nhặt những “bụi vàng” của cuộc đời làm nên tác phẩm cho mình. Con người đã dành cả đời để “viết về khẩn hoang Nam Bộ” tâm niệm: “Viết văn để viết văn, để yêu nước chứ không nhằm một mục đích nào khác. Văn nghệ khác với văn hóa thông tin... Muốn viết văn tốt, cần phải khảo cứu. Miền Nam chưa có lịch sử, cho nên tôi phải khảo cứu về con người và vùng đất Nam Bộ thì mới có thể viết về con người và vùng đất đó...” [53]. Sơn Nam có một niềm tin mãnh liệt, kì bí vào quê hương của mình. Truyện ngắn của Sơn Nam đi vào lòng độc giả cũng nhờ một phần vào niềm tin kì bí ấy. Nhà văn thật sự đã khiến cho người đọc rung động và có một cảm tưởng ngậm ngùi trước những thân thế tàn phai, một nỗi buồn man mác trước những đổi thay của thời

cuộc. Trang Thế Hy là một trường hợp khác. Ông viết văn là để bênh vực những con người bất hạnh cho nên điểm tựa tin cậy của người cầm bút là nỗi đau khổ của số đông thầm lặng. Ông luôn thấu hiểu và ưu ái họ. Văn ông tôn thờ cái đẹp với hi vọng “cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới” (Dostoievsky). Bởi thế, ngòi bút của Trang Thế Hy luôn chú trọng vào những vấn đề nhân bản của cuộc sống. Cũng là nhà văn Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư xem viết văn là một nhu cầu bức bách, kiểu như đói ăn khát uống. Một quan niệm nhẹ nhàng nhưng không hề cẩu thả với cảm xúc và dễ dãi với nghề văn. Trả lời phỏng vấn trên báo Tiền Phong, Nguyễn Ngọc Tư hồn nhiên tự nhận: “Tôi là một cây bút nghĩ thế nào, viết thế ấy, nghĩ sao viết vậy”. Thế nhưng chị ý thức công việc viết văn là “một lựa chọn khó, đầy nhọc nhằn, nặng nề, dằn vặt”

[19]. Chị không cường điệu sứ mệnh văn chương, nhưng chị cũng không coi đó là một cuộc dạo chơi. Chị chỉ cố gắng “chọn viết những gì mà người đi trước không viết thôi. Với những gì người đi trước viết rồi, nếu mình đi lại con đường ấy, hoặc mình phải tránh qua một bên, hoặc là mình phải vượt trội hơn. Nhưng vượt trội thì khó quá, ví dụ như để vượt qua Vũ Trọng Phụng thì thôi…đi, Tư không tự làm khó mình mà chọn cái mình làm được” [84]. Trong khi viết, chị vẫn nhận ra tính đặc thù của nghề viết so với những nghề nghiệp khác, nhưng không vì thế mà chị sùng bái văn chương như cái gì cao cả hơn cuộc sống. Bởi vậy truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư thấm đẫm sự hồn nhiên, chất phác. Nhưng nếu chỉ có hồn nhiên thì nhà văn trẻ như chị đã không đứng vững cho đến bây giờ mà văn chương của chị đau đáu ân tình, đầy tinh thần trách nhiệm của một công dân với xã hội, của một con người biết sống nhiệt huyết và tận tụy với mình, với người. Chỉ có điều, chúng được cất lên bởi một giọng hồn nhiên, có phần “tưng tửng” nhưng thật ra đằng sau nó là cả một sự nghèn nghẹn, chua xót khó có thể thốt nên lời…

Như vậy, so với các nhà văn Nam Bộ khác như Sơn Nam, Trang Thế Hy và cây bút trẻ sau này là Nguyễn Ngọc Tư thì Trần Kim Trắc đến với văn

chương đầy duyên nợ và cũng tự nhiên như hơi thở cuộc đời ông vậy. Con đường sáng tác của ông không liền mạch như những nhà văn khác, quan niệm văn chương của ông không cầu kì nhưng mỗi tác phẩm ra đời lại tạo được dấu ấn độc đáo và lôi cuốn người đọc đến lạ kỳ.

Một phần của tài liệu Đặc điểm truyện ngắn trần kim trắc (Trang 28 - 32)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(156 trang)