Chương 1. HÀNH TRÌNH VĂN HỌC CỦA TRẦN KIM TRẮC
1.3. Các sáng tác của Trần Kim Trắc
1.3.2. Mối quan hệ giữa văn và đời trong truyện ngắn Trần Kim Trắc
Trần Kim Trắc đã tham gia hoạt động cách mạng lúc vừa tròn 16 tuổi.
Cậu con trai trẻ tuổi ngày ấy hoạt động nội thị với việc rải truyền đơn, giấu vũ khí, phục vụ cách mạng. Bị giặc bắt giam ba tháng và một năm tù treo. Vừa ra tù được vài ngày, Trần Kim Trắc lại tìm đến chiến khu VIII làm ở ban truyên truyền lưu động. Từ đây, ông chính thức đi theo con đường cách mạng, vào bộ đội trong biên chế Tiểu đoàn 307. Anh lính Trần Kim Trắc đã đi suốt dặm dài 9 năm kháng chiến chống Pháp. Đó là khoảng thời gian “không một người cầm bút Việt Nam nào chưa một đôi lần viết về người lính, hướng về người lính như một đối tượng tìm hiểu, phát hiện, ngợi ca” [54, 9]. Nhà văn Ngô Thảo đã nhận định như thế về sự chiếm lĩnh của đề tài người lính - một mảng văn học không thể thiếu trong suốt 30 năm trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta. Với Trần Kim Trắc, cuộc sống người lính là khoảng thời gian đẹp nhất trong đời đối với ông. Đây là khoảng thời gian Trần Kim Trắc tràn đầy sức lực nhất với ham muốn tìm tòi những cái mới để cống hiến cuộc đời. Nhớ về thời còn là lính, ông bảo “Cách mạng với tôi là một ân huệ” [79, 182], cuộc đời chiến sĩ ấy đã cho ông những trải nghiệm đáng quý để ông có đủ vốn liếng viết về người lính một cách chân thật và gần gũi.
Trong truyện ngắn Cái lu, Trần Kim Trắc viết: “Bộ đội về đóng quân đã năm năm rồi. Tình quân dân thật là khăng khít. Bộ đội ngoài công tác tăng gia sản xuất, học tập, không khi nào quên bốn điều trong “tứ quân bất khứ”
nghĩa là nếu chưa quét nhà, chưa xách nước, chưa nói chuyện kháng chiến, chưa kiểm thảo với nhân dân là chưa có dời đi nơi khác được” [75, 140]. Thế
nên, trong lúc anh em đang nghỉ trưa thì anh bộ đội tên Danh tranh thủ xách nước đổ vào lu cho dân dùng nhưng trong lúc trút nước kê tĩn vào miệng lu, anh không may để tuột tay làm vỡ nó. Dù sau đó bà Tư chủ nhà không phiền trách gì nhưng anh đã lặng lẽ đi phát cỏ cuốc đất, trồng khoai để lấy tiền mua lu bồi thường cho dân. Bởi anh nghĩ rằng “Mượn phải trả, làm hư hỏng phải bồi thường” [75, 141], nên “thà mệt còn hơn để cho đồng bào còn phiền”.
Lính là vậy đấy! Họ sống đầy trách nhiệm và rất nghiêm khắc ngay cả với bản thân mình “Tôi làm lỗi, tôi hải tự lo” [75, 143], vì theo họ “Làm lỗi mà không dám nhận lỗi là hèn, nặng tội hơn làm lỗi. Nhận tội rồi để đó không sửa chữa là nói dối, nặng tội hơn là sự hèn nhát nữa” [72, 62]. Câu chuyện thật cảm động đã làm hiện lên kỉ niệm cuộc sống của người lính vô cùng đẹp đẽ. Dù cuộc sống còn vất vả, thiếu thốn đủ đường nhưng quan trọng hơn hết vẫn là tình thương. Tình cảm đồng đội dành cho nhau, tình quân dân dành cho nhau để cùng nhau sát cánh vượt qua những khó khăn gian khổ, làm nên sự thành công cho cuộc kháng chiến. Những người lính trẻ ấy luôn tuân thủ ý thức kỷ luật quân đội, đó là những nét đẹp trong phẩm chất của người lính cụ Hồ.
Hình ảnh cậu bé làm liên lạc trong Lính “nhí” đã gợi lên cho người đọc sự liên tưởng về bóng dáng của nhà văn vào những ngày bắt đầu cuộc hành trình tìm đến lí tưởng cách mạng và được giác ngộ. Anh lính nhí khi mới 12 tuổi đã đi theo bộ đội, sau 2 năm làm liên lạc, được ông Kim Thể trung đội trưởng Đại đội 1 đề nghị cấp giấy khen và làm thủ tục nhập ngũ khiến anh sung sướng như chính cảm xúc của Trần Kim Trắc trong những ngày đầu tìm đến chiến khu. Câu chuyện phần nào thể hiện khát vọng được đi theo cách mạng, phục vụ kháng chiến như đã ăn sâu vào trong tâm khảm của người con đất Việt. Để rồi, ngoài những lần đổ máu trên trận mạc, cuộc sống của những người lính trẻ ấy có lúc cũng rất vô tư, hồn nhiên và tinh nghịch ngay cả trước tình huống nguy cấp: “Đời chiến sĩ quần áo chỉ có một bộ nghiêm bộ nghỉ.
Lội băng đồng mùa nước nổi, ba lô ướt, quần áo dính bùn. Tất cả phải cùng
lúc giặt phơi, trong khi chờ quần áo phơi khô để mặc tiếp, các anh đành phải làm “con nhộng lộ thiên” [73, 13]. Nào ngờ, đang lúc chờ đợi, các anh tranh thủ nấu cơm, lau súng, cả đoàn nhộng đang “lộ thiên” thì bỗng nhiên có đoàn chị em phụ nữ tới thăm, các anh không còn có thể giấu mình vào đâu được, đành phải nhảy “ùm xuống ao” để nấp mình và hiển nhiên họ bị lũ cá vồ đâm vào “vật gì thừa ra chúng cũng ngoặm” đau đến thấu trời. Thế nhưng tâm hồn họ vẫn sống với những phút giây lãng mạn, tràn đầy niềm vui và hạnh phúc của những người lính trẻ.
Bạn đọc thích thú câu chuyện Mua heo về nuôi, nhà văn có nhắc đến món quà anh lính tân binh tặng nàng thật đặc biệt, rất lính. Anh vào chợ tìm mua bằng được chú heo sữa để tặng người yêu nuôi làm giống. Anh phải cho heo uống rượu và bế heo như bế em ở trên xe để mang về nhà nàng. Món quà tặng người yêu có một không hai này rất thực tế nhưng đã nói hộ tấm lòng chân thành của anh lính với người con gái mình yêu.
Câu chuyện Khăn thơm tặng chàng cũng đã để lại cho người đọc một ấn tượng sâu sắc về người lính trên con đường hành quân, anh rất hạnh phúc khi được cô gái dân quân trao tặng chiếc khăn đội đầu. Thế rồi, “Chiếc khăn này anh không đem ra dùng mà xếp rất kỹ, cất trong ba lô. Suốt cuộc hành trình chín năm, đêm đêm anh lấy ra thưởng thức mùi tóc thơm hoa sứ” [73, 16]. Món quà của cô gái trao tặng anh trước khi tiếp tục cuộc hành trình đã khiến người chiến sĩ ấy hằng đêm thao thức. Cảm động hơn bởi trong suốt cuộc hành trình chín năm anh vẫn trân quý kỷ vật ấy.
Cái kính trở quẻ viết về chuyện anh Năm Hỉ với thói quen đi ngủ ít khi tự mắc mùng. Bởi thế, có lần anh chui nhầm mùng phụ nữ mà cứ ngỡ là văn phòng tiểu đoàn nên ngủ ngon lành, lại còn để quên “xắc - cốt” phải làm “đặc công” trở lại nhà, không may gặp con mực xồ lên… khiến bà chủ nhà “cười đến phun cổ trầu”. Câu chuyện làm hiện lên những năm tháng đầy gian khổ nhưng vô cùng dí dỏm trong những cuộc hành quân thầm lặng của người lính
năm nào. Cũng có lúc cuộc sống đời lính tráng đẩy họ vào tình huống dở khóc dở cười như trong truyện Xương gãy cốt còn. Kỉ niệm khó quên trong đời của anh tiểu đội phó tên Cón đêm khuya khó ngủ, chui nhầm vào giường con gái người ta, bị ban chỉ huy gọi lên kiểm điểm… Hay anh lính trẻ Nam Tân phải nhận kỷ luật của cấp trên sau một lần hẹn hò với con gái ông chủ nhà, không dám nhìn bạn bè trong câu chuyện Nhớ làm cửa hậu đã mang lại nụ cười hóm hĩnh, hài hước cho người đọc. Cuộc sống đời lính thật giản dị “tối đâu là nhà ngã đâu là giường”, thế nhưng trong lòng mỗi người chiến sĩ đều mang một quyết tâm chung vì nhiệm vụ cách mạng. Thật đáng tự hào!
Rất nhiều kỉ niệm đầy thú vị về cuộc sống của người lính một thời đã được Trần Kim Trắc dựng lại đầy chân thực và sinh động trong phần một của tập truyện Nụ cười 307 (2006). Chúng ta phải kể đến các truyện ngắn như: Ó đâm, Yếu tố bất ngờ, Chiến công đầu tiên, Lại tư tây, Nhường trận địa...
Ngoài ra, dấu ấn đời lính ấy cũng in đậm trong các truyện ngắn: Chuyện học trò đi làm lính, Đồng đội, Dầu Hồng Lạc, Tạ Văn Bang, Tiếng đàn kìm, Đi ba về bốn, Anh Ba Đô, Trinh sát viên một mắt, Mấy sông cũng lội, Con trai ông tướng, Trận đánh chưa ghi vào lịch sử, Sức sống một bài ca,…
Thời đạn bom khói lửa, người lính cách mạng luôn sống trách nhiệm với cộng đồng. Ta nhận ra tình yêu cách mạng, tình yêu Tổ quốc, đất nước trong họ thật mãnh liệt. Những câu chuyện về tình quân dân như cá với nước, những kỉ niệm khó quên… đã được nhà văn miêu tả thật sinh động. Dường như ông viết “để mọi người thương anh bộ đội hơn thì phải” [73, 6].
1.3.2.2. Dấu ấn trải nghiệm thời kỳ mưu sinh trên đất Bắc
Sau thời kì làm người lính nặng ân tình với cách mạng ấy, một sai lầm nhỏ trong sinh hoạt của tuổi trẻ buộc ông xa rời bạn bè và văn đàn. Mọi người không khỏi tiếc nuối cho một tài năng văn chương đang mở ra nhiều hứa hẹn.
Vậy mà, Trần Kim Trắc ngưng cầm bút cho mãi đến tận mấy chục năm sau này. Cuộc sống mưu sinh chật vật khiến ông không còn thời gian để viết, để
trải lòng mình trên trang giấy nữa. Thế nhưng cuộc sống trải nghiệm ấy lại chính là vốn liếng quý giá để giúp ông viết văn sau này.
Những chuyến đi mà Trần Kim Trắc gọi là “trường đời” đã tạo cho ông những nguồn cảm hứng bất tận và những kho tư liệu quý giá để sau này “tư liệu như để sẵn trong ngăn kéo rút ra là có” [66, 171], để rồi lúc nào ông cũng có thể lấy ra được từ kho riêng hàng xâu chi tiết tươi nguyên sự sống đưa vào truyện ngắn. Đó cũng là lí do mang đến sự thành công trong sáng tác của nhà văn khi ông cho ra đời một loạt các truyện ngắn như: Chuyện riêng tư chốn sơn tràng;
Ông Thiềm Thừ; Nhà chim; Con ong đực; Cây đắng; Ông thối, bà thiu,…
Lẽ hiển nhiên, là một người từng làm nghề sơn tràng, Trần Kim Trắc hiểu cuộc sống vùng núi rừng một cách tường tận. Cuộc sống nơi núi rừng ấy đã để lại dấu ấn rất đậm trong các sáng tác của nhà văn. Ở truyện ngắn Chuyện riêng tư chốn sơn tràng, ông viết “Mỗi lần tháo ách sau phiên kéo gỗ về, chủ dẫn con Mẫm theo con đường mòn vượt qua tà luy bên kia đường tàu hỏa, xua nó tuôn lên miền núi. Trên ấy có nhiều cỏ non, và lại gió ngàn không thể để cho mùi hương của cô nàng Cưỡng lên, làm cho chàng quên gặm cỏ, sút chân uể oải lúc kéo những khúc gỗ lớn” [77, 50]. Từng con đường mòn vào rừng, từng bãi cỏ non, từng ngọn gió ngàn và cả “mùi hương của cô nàng Cưỡng” (cách ông gọi tên cho con trâu cái) cũng như bản năng chuyện riêng tư đi tìm ý trung nhân của con Mẫm (con trâu đực) đều được nhà văn miêu tả một cách tỉ mỉ, tường tận. Và có lẽ, cuộc đời của nhân vật Sáu Bổn trong câu chuyện trên phần nào đã phản ánh được một cuộc sống sinh hoạt chốn sơn tràng của nhà văn một thời lang thang nơi đất Bắc. Đó là khoảng thời gian
“tuổi chưa đến băm, nhưng đã trải qua thời kỳ mười năm. Khi ra tập kết va chạm gì đó trong nội bộ đơn vị, anh buồn lòng bỏ lên rừng nhập với tổ sơn tràng làm tiều phu đẵn gỗ” [77, 53]. Cuộc sống mưu sinh đầy vất vả ngày mới lên đất Bắc thật thảm hại đến nỗi “Rời tàu, đói đến chua miệng, anh đành xin đồng bào dân tộc củ sắn nướng ăn, rồi tìm đến với một số anh em đồng cảnh
đã lên trước làm rừng trong tổ sơn tràng. Nghèo đến mức ấy đâu có tiền để mua nổi lưỡi rìu, may có anh em cho mượn làm ngày nào ăn ngày ấy” [77, 53-54]. Thế mới hiểu Trần Kim Trắc một đời dường như đã vắt kiệt sức mình để sống, để yêu và cũng để tìm kiếm tư liệu cho chặng đường viết văn về sau.
Những chuyến đi bao nhiêu năm gió bụi nhưng đầy lí thú đã giúp ông tạo nên tác phẩm chân thật, sinh động về cuộc sống trên đất Bắc. Mỗi con người gắn liền với một cuộc đời, một số phận nhưng họ đều có điểm chung bởi tình người và tấm lòng nhân hậu. Thời gian ông phiêu bạt giang hồ, làm đủ nghề để sống, để đi theo tiếng gọi của tình yêu cũng đủ khiến cho bao nhịp đập trái tim của bạn đọc bồi hồi xao xuyến, cảm phục. Hành trình tìm kiếm tình yêu đích thực của Trần Kim Trắc lắm gian nan, trắc trở. Sau hai lần dang dở, ông gặp được người đàn bà từ Tân Đảo trở về Tổ quốc sống cùng thị xã nhỏ xíu như một cái làng ở Hưng Yên. Đồng cảm bởi bà cũng từng là nữ sinh của trường Tây, đam mê văn chương và ham đọc sách. Nhưng thương yêu hơn bởi người đàn bà ấy có cảnh ngộ riêng của cuộc đời. Bà trẻ lại rất xinh đẹp nhưng đã qua một đời chồng và có một đứa con gái. Ở cái thời còn nhiều thành kiến, người đàn bà hồi hương không chồng ấy không khỏi tránh khỏi những cái nhìn thiếu thiện cảm của mọi người xung quanh. Thế nhưng, Trần Kim Trắc không vì những điều đó mà bỏ lỡ tình yêu của đời mình. Sau cái ngày trái tim mình thổn thức, ông biết rõ một cách chắc chắn rằng hai người phải là của nhau”, họ đã tìm thấy ở nhau sự đồng cảm, đồng điệu trở thành tình nhân nhưng phải trải qua cuộc hành trình dài suốt 12 năm đằng đẵng vượt qua mọi ngăn cách, họ mới chính thức sống với nhau. Truyện ngắn Bố dượng là câu chuyện nhà văn viết về chính hoàn cảnh cuộc đời của mình và tình yêu với người bạn đời, cũng là bà nhà của ông bây giờ. Câu chuyện in đậm dấu ấn của cuộc trải nghiệm mưu sinh nơi đất Bắc trong suốt thời kỳ dài. Hình ảnh ấy đã được nhà văn ghi lại trong kí ức đứa con riêng của vợ, cũng là đứa con duy nhất của vợ chồng ông mà suốt đời nhà văn yêu thương hết mực: “Nghe
nói trước kia bác là văn sĩ, nhưng vì lẽ gì đó bác gác bút đi làm công nhân và năm tháng dài, tuổi càng trưởng thành tôi càng hiểu hồi ấy khi nhờ bạn bè và những nơi quen biết lo cho tôi thi vào trường Âm nhạc, bác muốn tôi bước tiếp vào con đường nghệ thuật mà vì hoàn cảnh bác phải dang dở, mong ước tìm cái hình bóng dĩ vãng của bác, trong những bước chập chững vào đời của tôi qua tiếng đàn vì cung đàn xưa lỗi nhịp.
Vì vậy, từ tấm bé, thương má tôi, tự trong con tim non nớt, tôi coi bác như bác mà là ba, bác coi tôi như con mà là cháu.
Gia đình tôi đi đâu, thay đổi chỗ ở, sơ tán, chuyển vùng, không mấy ngày lại thấy bác lẽo đẽo theo ở gần, làm đủ thứ nghề để mua bữa sống hàng ngày, để gom góp lại làm một trời yêu thương” [76, 5-6].
Phải là người trải nghiệm, quan sát tỉ mỉ và có tâm hồn nhạy cảm đến
“dễ đau” thì mới có thể miêu tả được tường tận về cuộc sống sinh tồn của con cóc tía và các loài ong nơi núi rừng để hoàn thành một cách xuất sắc truyện ngắn Ông Thiềm Thừ, đánh dấu sự trở lại của cây bút tài năng khi giành được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam. Ông viết: “Từ trên cao lăn xuống, miệng ông thiềm thừ còn ngậm con ong lỗ đen thui to bằng ngón tay út. Nửa thân con ong lỗ nằm gọn trong mồm cóc, đầu, chi trước và một phần cánh còn ở ngoài ngo ngoe chưa hết hẳn. Ai cũng biết, nọc độc của loài ong lỗ này nguy hiểm vô cùng, to như trâu, cổ bị ong lỗ chích một mũi thôi đã phải rống”
[77, 29]. Có lẽ nhà văn hiểu rất rõ về hoạt động sinh sống của chúng cũng vì có những năm tháng đi hạ gỗ ăn ngủ tại núi rừng. Hình như những ngày vào rừng là thêm một ngày giúp ông nhận ra nhiều bài học giá trị của cuộc sống.
Ông đã từng nghe “gan cóc tía” nhưng “đến bây giờ, thấy tận mắt tôi mới hiểu được người trước chọn ong thiềm thừ làm biểu tượng của tính gan lỳ” [77, 31]. Câu chuyện làm hiện lên bức tranh núi rừng đầy thú vị nhưng cũng hàm chứa nhiều ẩn ý về mối quan hệ giữa thiên nhiên và cuộc sống, về cách sống của con người.