Chương 2. CÁI NHÌN VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI SỰ KIỆN, NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN KIM TRẮC
2.1. Cái nhìn về con người trong truyện ngắn Trần Kim Trắc
2.1.1. Xuất phát điểm của cái nhìn về con người trong truyện ngắn Trần Kim Trắc
Văn học là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người. Dù miêu tả thần linh, ma quỷ, đồ vật, hoặc đơn giản là miêu tả các nhân vật thì chung quy lại văn học cũng đều nhằm mục đích miêu tả và thể hiện con người. Thực tế cho thấy, không có một tác phẩm, một tác giả hay một nền văn học nào lại chỉ đơn thuần nói về thiên nhiên mà không liên quan đến con người. Vì vậy, trong văn học, yếu tố con người được nói đến như một điều tất yếu. Con người chính là nhân vật trung tâm của văn học. Nói cách khác, mục đích miêu tả của nhà văn là nhằm hướng đến thể hiện con người.
Trước hết, Trần Kim Trắc có cái nhìn về con người xuất phát từ thái độ thấu hiểu, bao dung của một người từng trải. Từng trải qua nhiều bất hạnh, sống cuộc sống bầm dập, phiêu bạt nhưng ông không hề oán trách, oán hận cuộc đời. Ông vẫn sống vì tình yêu, vẫn vui vẻ, lạc quan và nhân hậu. Vì vậy, nhân vật trong truyện ngắn của Trần Kim Trắc hiếm có những nét xấu. Điều này không phải vì nhân vật của ông không có tật xấu mà do nhà văn có cái nhìn về con người đầy bao dung, độ lượng nên dẫu đôi khi ông cho cái xấu xuất hiện trong tác phẩm thì cũng chỉ để làm cho nhân vật trong truyện ngắn của ông thêm đầy đặn. Điều nói trên cũng là lý do khiến nhà văn thường dễ nhạy cảm với những số phận không may mắn. Ông thương cảm cho những hoàn cảnh éo le, bất hạnh đầy tội nghiệp. Đó là người đàn bà bất hạnh trong Thư đi, thư lại đã phải viết bức thư cho người chồng ngoại tình suốt hơn năm nay, bây giờ anh ta đòi li dị vợ. Thế nhưng người đàn bà ấy vẫn viết thư để li
dị chồng bằng tất cả sự dịu dàng nữ tính và trầm tĩnh của một người ý thức rõ về văn hóa, lịch sự con người, dù chị vẫn tỏ rõ sự cương quyết mạnh mẽ, sự tự tôn và lòng tự trọng. Cách cư xử của chị đã khiến cho mọi người cảm phục.
Lúc đầu chị cũng không tin chồng mình ngoại tình là sự thật: “Em không tin những lời đồn đại nếu chưa mắt thấy tai nghe” [76, 119], nhưng sau khi vào vai cô bán bánh đa để tìm hiểu cho rõ thực hư thế nào, chị mới nhận ra chồng mình đã ngoại tình với một cô gái khác. Và rồi, chị đã biết vượt qua nỗi đau bằng sự bình thản của một người trí tuệ, đầy cao thượng. Chị viết cho anh với những dòng thư đầy lí lẽ nhưng rất cao thượng và thuyết phục: “Anh đã tự mình dẫm đạp lên tính pháp lý của tờ hôn thú rồi, sao giờ đây lại còn lôi em ra trước pháp lý để làm thủ tục ly hôn? Em dứt khoát từ chối đến công đường tự dưng thủ vai đương sự vì lí do cần biết tự trọng. Không phải em cản trở khi anh Mười đã ở ngoài cuộc đời của em rồi. Cứ để họ xử vắng mặt, quyết định ra sao em cam kết không lo lắng, không luyến tiếc, không buồn không vui, không quan tâm, không phản ứng, trừ quyết định buộc em trở lại chung sống với anh. Nghĩa ở đời không có, tình có giá trị gì?” [76, 119].
Ở một truyện ngắn khác, tác giả kể về số phận của cô Ba bất hạnh trong hôn nhân, đã phải bế đứa con gái vừa lên hai tuổi bỏ về nhà cha mẹ và mưu sinh bằng nghề làm nem chua. Cảnh đời của mẹ con cô thật đáng thương, tội nghiệp! Dù được anh Tư, một người cùng cảnh ngộ éo le như cô thương yêu thật lòng và ngỏ ý nguyện muốn cùng cô xây dựng hạnh phúc, cô Ba vẫn không chịu. Có lẽ vì hạnh phúc không trọn, lại trải qua một đời chồng nên cô có thành kiến về đàn ông. Trước lời tâm sự thật lòng của anh Tư, cô Ba bảo:
“Anh Tư, anh ngồi đó nghe em nói!... Em bị một đời chồng rồi, em hiểu hồn cốt của đàn ông khi họ làm chủ nhân ông của gia đình lắm rồi. Em không ám chỉ ai, nhưng em ngán đến mức thành kiến phải làm vợ đàn ông lắm rồi!” [73, 140-141]. Câu chuyện khiến người đọc không khỏi xúc động bởi đã làm hiện lên hai số phận, hai cảnh ngộ éo le gặp nhau; một cảnh gà trống nuôi con, một
cảnh con mọn, vậy mà không thể đến được với nhau để cùng nhau thoát khỏi cảnh cô đơn đang bủa vây. Ông đã để cho nhân vật của mình tự giãi bày suy nghĩ, ước nguyện qua lời đối thoại:
“- Éo le như cô và tôi, một người gà trống nuôi con, một người con mọn, giá hai cảnh ngộ được hòa đồng, bổ cứu cho nhau khỏi cảnh cô đơn như chim liền cánh, như cây liền cành thì cảnh đời trọn vẹn, chung một mái nhà, vậy cô Ba thấy sao?
- Em cám ơn anh đã quan tâm, nhưng em đã tâm nguyện suốt đời ở vậy nuôi con đến già. Một lần lấy chồng đã hú vía rồi, gây thêm bi kịch nữa để làm gì?” [73, 142].
Truyện ngắn Con của chồng lại khiến cho người đọc cảm phục trước tấm lòng cao thượng của bà Tư. Bà sẵn sàng tha thứ cho một lần dại dột của chồng để giữ gìn mái ấm gia đình, giữ được chồng và đặc biệt là giữ được cha cho các con. Cảm phục hơn khi chính bà lại dang tay cứu lấy đứa con ngoài giá thú của chồng, nuôi nấng đứa bé như chính con đẻ của mình vì mẹ bé đã chết khi vượt cạn. Cảnh “bà Tư lấy khăn làm yếm che cổ cho bé, xé thịt cho cháu ăn, xong lại dỗ cháu ngủ đặt giữa giường” [76, 91] khiến bao người xúc động bởi tình thương ấm áp mà bà dành cho con chồng. Sự cao thượng đẹp đẽ ấy đã gặt hái được quả chín ngọt ngào bằng sự trở về của hạnh phúc gia đình.
Sầu riêng là câu chuyện viết về bà Nhiên, một người vợ, người mẹ hiểu lí lẽ và tình nghĩa cuộc đời nên đã có cách ứng xử thông minh, khéo léo để gia đình êm ấm, các con của bà không bị tổn thương vì ba nó. Dẫu bà biết rõ ông Thành chồng mình đang lén lút đi lại với người tình vì mong muốn kiếm được thằng con trai nối dõi tông đường nhưng bà vẫn không ghen tuông, oán hận hay giận dữ. Ngược lại, bà còn thương cảm cho người đàn bà cùng cảnh ngộ vốn bị đàn ông lừa dối. Bởi bà biết, khi đến với ông nhà, người đàn bà ấy nào đâu hay biết chồng mình đã có gia đình! Vì vậy, khi đối diện với người tình của chồng, bà vẫn nhân từ và rộng lượng: “Nếu giận,
trước đây tôi đã giận rồi. Đàn ông thế cả mà, lừa dối một người là lừa dối cả hai người đàn bà. Chỉ khổ cho nhiều chị em ta là chưa chịu nhận ra điều tất yếu ấy để lo giành giật cho mệt.
Tôi đã biết từ khi, có lẽ cháu này còn trong bụng mẹ. Chứ không đợi đến bé thứ hai đâu!” [78, 21]. Trần Kim Trắc không ngại nói thẳng ra tật xấu của cánh đàn ông, hôn nhân chỉ muốn thêm chứ không bao giờ muốn bớt. Thế nhưng các đức ông chồng không dễ qua mặt được các bà vợ, dù có khéo léo đến mấy trong việc che lấp tật xấu của mình. Nhà văn cứ để cho mấy ông chồng tưởng mình “bí mật” lén lút được mà các bà vợ không hay biết gì nhưng thật ra các ông đã đánh giá các bà quá thấp. Nhìn vào cảnh đầm ấm của gia đình bà Nhiên - ông Thành, “ai dám nghĩ rằng có sự rạn nứt”. Thế nhưng thật ra: “Vạn sự cũng vì sầu riêng. Vợ chồng sống lâu với nhau, nếp quen cũ tự nhiên khác đi, không cần để ý cũng đoán biết được. Linh cảm bản năng ấy, tiếc thay các đức ông đánh giá thấp các bà. Cái bình phong đi công tác xa, bận họp hành, tiếp khách cơ quan, điện thoại gọi về bảo ăn cơm trước làm sao đủ bảo đảm hàng thứ thiệt dưới cặp mắt nhìn xuyên qua vải hoa che đậy của chị em” [78, 9-10]. Nhà văn đã để cho ông Thành sống trong mối tình vụng trộm để hy vọng tìm kiếm bằng được đứa con trai, hết lần này đến lần khác, tuyệt vọng rồi lại hy vọng trong một vòng tròn bất tận để rồi cuối cùng ông phải mang nỗi đau thầm kín trở về với vợ con, trở về với giá trị đích thực của mái ấm gia đình. Và lẽ dĩ nhiên, hạnh phúc cuối cùng có được là nhờ tấm lòng bao dung, độ lượng của bà Nhiên và tình yêu thương, ý thức vun đắp mái ấm gia đình của hai cô con gái.
Ngòi bút của Trần Kim Trắc vẫn hướng về những người phụ nữ đáng thương với niềm cảm thông, yêu mến và trân trọng. Ông luôn bênh vực cho những thận phận phải chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh, khổ đau. Vì vậy, nhà văn viết về họ với thái độ thấu hiểu và niềm cảm phục để từ đó tự nhắc nhở mình, nhắc nhở cánh đàn ông, rồi tự trách mình: “Xem ra đàn ông chúng
mình còn phải cải tạo nhiều mới vừa bụng trong mắt chị em” [73, 144-145].
Tuy nhiên, ông không có ý phê phán hay đả kích, lên án một ai nên nhân vật của ông thường có những nét đáng yêu và đáng được cảm thông, tha thứ. Có lẽ ông mong muốn, dù đàn ông có tham lam trong trường tình, đam mê nhan sắc thì cũng cần có đủ bản lĩnh, đủ lòng yêu thương để biết trân trọng và yêu thương người phụ nữ của đời mình, phải biết cùng họ xây dựng hạnh phúc gia đình. Thế nên, việc nhà văn luôn ưu ái người phụ nữ bằng sự yêu thương và lòng ngưỡng mộ đặc biệt cũng là một điều dễ hiểu.
Bên cạnh đó, nhà văn nhìn về con người xuất phát từ sự tin tưởng phần thiện căn trong mỗi con người. Bao giờ nhà văn cũng thấy trong mỗi con người khả năng điều chỉnh mình, hoàn thiện mình để ngày càng được tốt hơn.
Ông luôn tin tưởng vào phẩm chất tốt đẹp của con người. Nhân vật của ông không bao giờ mất niềm tin vào tương lai. Vì vậy, giọng văn của Trần Kim Trắc không mang giọng điệu quá bi quan. Nhân vật của ông cũng không đi vào bước đường cùng, bế tắc mà thường tự vùng vẫy để thoát khỏi số phận.
Dường như nhà văn đều để người tốt cảm thấy hứng thú, được động viên để phát huy; còn người xấu dần dần tự nhận ra sai lầm của mình để sửa chữa.
Nhân vật ông Tư Ó (Con của chồng) và ông Thành (Sầu riêng) sau một thời gian lầm lỗi, cuối cùng đều trở về với vợ, với gia đình yêu thương của mình.
Hạnh phúc này có được một mặt nhờ tấm lòng bao dung, độ lượng và sự cao thượng của người vợ. Mặt khác, trong thâm tâm của cánh đàn ông, dù có ngoại tình, lừa dối vợ thì cũng đều có lí do, hoàn cảnh riêng. Ông Tư Ó vì phải đi làm ăn, xây dựng kinh tế vùng rừng núi, xa vợ con, thiếu thốn tình cảm, sống trong cảnh cô đơn rồi mới lỡ dại dột đèo bồng. Bởi thật ra “Tư Ó xưa nay vốn chung tình, xót nỗi đường xá xa xôi, chưa già mà cô đơn trên chốn khỉ ho cò gáy bên góc rừng thưa như cảnh ngộ anh lính thủy viễn dương lênh đênh trên mặt biển, cả tháng cả quý không có gái để giải sầu, lúc cái thằng người tự nhiên của tạo hóa nó lồng lên chẳng chịu nằm yên, bèn mượn
đỡ vài giọt chung tình đem tạm ứng những tưởng mây mưa rồi sẽ tạnh, nhưng tạo hóa cũng chơi khăm, hạt có gieo thì mầm có nảy.
Kẻ hảo hớn dám làm dám chịu nên Tư Ó không thể đành tâm hát bài tẩu mã để phận má hồng chịu cảnh trái ngang” [76, 80]. Còn ông Thành, ngoại tình, lừa dối bà Nhiên cũng chỉ vì kiếm đứa con trai nối dõi. Ông Thành đã có lần tâm sự với anh tài xế về mối tình ngoài luồng của mình rằng: “Tao buộc lòng làm chuyện ấy ngoài ý muốn, rước bà này về giấu ở đây vì trông cái tướng mắn con của bả, chỉ mong bà ấy cho mình một đứa con trai. Chứ có phải mèo mả gà đồng gì đâu”, “Người ta thì yêu thật, còn tao muốn mượn ổ kiếm đứa con trai, chứ nào có ý phản bội vợ con” [78, 13-14]. Trong con mắt của nhà văn kẻ ngoại tình cũng có tính cách, cũng vốn chung tình, cũng không hề có ý phản bội! Theo ông, trong mỗi con người đều tồn tại hai mặt tốt xấu nên khi có cơ hội, cái tốt sẽ cảm hóa được con người để đẩy lùi, triệt tiêu cái xấu, giúp con người nhận ra được lỗi lầm và sống tốt hơn.
Ngay cả bậc làm cha, làm mẹ trong truyện ngắn Cây đắng cũng có lúc phạm phải lỗi lầm. Cảm thương cho cô bé Quỳnh không thể chịu nổi khi phải sống trong cảnh cha mẹ ham mê cờ bạc, nghiện trò tổ tôm để gia đình đã đói lại càng thêm đói. Thói ham mê, nghiện ngập ấy không ai có thể khuyên ngăn được. Thế nhưng nhiều khi vô tình nghe lời con trẻ, nhiều cha mẹ cũng phải ngẫm nghĩ lại mình:
“Bất ngờ nghe em nó thét the thé, bố nó phải sợ buông ra nữa mà!... -
“Con muốn sống, ba má không để cho con sống… Con muốn tốt đẹp ba má để cho xã hội coi con là giống gà phỏm… Mặt mũi nào để con sống đây?...
Con muốn câm lặng mà không câm nổi?...”
Má nó sờ tới nó - nó rít lên “Buông ra!”. Em không ngờ con bé nó nói được tới câu này. “Ở với gia đình xấu xa, người muốn tốt chỉ là cái bóng…”
[77, 166]. Câu nói của bé Quỳnh đã khiến cho bậc làm cha, làm mẹ đã thực sự được thức tỉnh. Họ đã tự sửa, thay đổi mình để con cái được hóa thân.
Nhà văn cũng dành một sự thương cảm đặc biệt đến những thân phận của các cô gái buôn phấn bán hương. Các truyện ngắn Chuyện nàng Mimô, Một khúc cầm chơi, Xoài muộn,…đã đem đến cho độc giả những câu chuyện cảm động về thân phận của kiếp trầm luân của những đời hoa. Chuyện nàng Mimô là câu chuyện về cô sinh viên tên Tươi (trong “giới” gọi là nàng Mimô) đang học trường đại học năm thứ hai thì dở dang, vì hoàn cảnh cùng quẫn mà cô phải lao vào cảnh bán phấn buôn hương để kiếm sống. Những ngày tháng trong trại giam là cơ hội để cô làm lại cuộc đời. Cô đã tham gia lớp dạy văn hóa cho tù nhân, với ước vọng sau này mãn hạn tù cũng sẽ gắn bó với công việc này suốt đời. Cuối cùng, cô cũng được bù đắp bởi đã có được người đàn ông yêu thương mình thật lòng đi theo cô và xây dựng hạnh phúc cùng cô ở nơi này. Cuộc đối thoại giữa cô gái ở trong trại giam với ông nhà báo đã khiến cho tác giả không khỏi ngưỡng mộ và cảm phục bởi những suy nghĩ chín chắn về cách nhìn đời, nhìn người, cách đối nhân xử thế của cô. Đến nỗi ông phải thầm cảm ơn cô gái “Tôi thầm nghĩ: Cảm ơn cô gái! Cô cho tôi thêm một bài học nghề nghiệp quá ư sáng giá…” [76, 98].
Truyện ngắn Xoài muộn viết về những cô gái bán hoa, đêm đêm đứng đường chờ khách để kiếm sống thật xót xa và cảm động. Hoàn cảnh xô đẩy đã khiến họ rơi vào con đường buôn phấn bán hương đáng thương, tội nghiệp.
Cũng vì “lũ lụt mất trắng, nghèo quá em định lên thành phố học may. Kiếm nghề làm ăn, xuống xe bị bọn cô hồn nó giựt mất trắng, khóc hết nước mắt, đi khắp phố phường không ai thuê mướn, muốn trở về xứ không có tiền mua vé xe. Đói quá phải liều, bán rẻ thân xác cho thằng Sở Khanh bằng một tô hủ tiếu” [75, 137]. Nhưng rồi, cô cũng bỏ hẳn cuộc đời bán mua thân xác ấy để thành vợ của một anh nông dân làm rẫy, tự nuôi sống mình bằng sức lao động chân chính của mình. Họ là những người từng có sai lầm nhưng trong sâu thẳm họ vẫn luôn có tình yêu, ước mơ và khát vọng về cuộc đời lương thiện.
Họ đã vùng vẫy để tự cứu lấy chính mình, tự thức tỉnh mình: “cuộc đời em
khổ, em không tự cứu, ai cứu?”, “Khi vấp ngã làm sao người ta ngã cho khéo được? Khi gượng dậy tự mỗi người một kiểu riêng” [75, 138-139]. Trần Kim Trắc luôn có cái nhìn bao dung, độ lượng với những số phận lầm đường lỡ bước. Ông không vội đánh giá con người ở cái nhìn bề ngoài, ở sai lầm hiện tại mà luôn đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sai lầm đó để cảm thông, chia sẻ. Ông cũng không vì quá khứ không tốt đẹp của họ mà có những định kiến xa lánh hay coi thường họ. Ngược lại, ông tìm đến, tiếp cận họ bằng sự chân thành để rồi ông vui mừng khi phát hiện ra bên trong những người con gái lầm đường lỡ bước ấy lại là những tâm hồn cao đẹp. Trần Kim Trắc luôn tin tưởng rằng trong mỗi con người phần thiện căn sẽ không bao giờ mất đi nên khi được thức tỉnh thì lòng hướng thiện ấy sẽ trỗi dậy một cách mãnh liệt.
Một khúc cầm chơi lại là câu chuyện về vấn nạn xuất khẩu cô dâu Việt Nam ra nước ngoài. Câu chuyện đã đem đến cho người đọc nỗi xót xa cho một con người. Cuộc đời cô gái xinh đẹp có tên là Lành đã chấp nhận lấy chồng ngoại quốc để mong cứu gia đình thoát khỏi cảnh nghèo đói, nợ nần chồng chất. Nhưng bất hạnh thay, cô bị chồng đánh vào ngay cái đêm tân hôn. Sau một đêm làm vợ hắn, cô đã thoát khỏi người chồng ngoại quốc vũ phu ấy, nhưng Lành không dám về nhà, cô bơ vơ giữa thành phố và trở thành gái bán hoa để kiếm sống. Số phận đưa đẩy cô phải trải qua bốn đời chồng, hứng chịu đau khổ trong bốn cảnh ngộ khác nhau… [71, 9]. Thế rồi, bằng sức sống mạnh mẽ và ý thức sâu sắc về giá trị bản thân, về nhân phẩm cũng như khát vọng hạnh phúc của mình, cô đã tìm về quê cũ, sống yêu thương, nhân hậu, bất chấp lời dị nghị, dèm pha của những kẻ thành kiến ác ý để tìm kiếm một cuộc sống đúng nghĩa với mơ ước của con người. Cuối cùng, cô đã được đền đáp, được làm vợ, làm mẹ đúng nghĩa với hạnh phúc của người đàn bà.
Thì ra, đằng sau kiếp trầm luân của một đời hoa là vẻ đẹp tiềm ẩn của một tâm hồn, một trí tuệ như viên ngọc nên khi được mài giũa sẽ phát sáng