Nhóm thứ ba: Đọc nông và sâu ‘

Một phần của tài liệu Hướng dẫn sử dụng thư viện thông tin (Trang 143 - 160)

VÀ BIÊN SOẠN THƯ MỤC

3- Nhóm thứ ba: Đọc nông và sâu ‘

Trong cuốn "Kỹ thuật đọc nhanh các sách báo và tài liệu khoa học kỹ thuật" * của mình, tác giả Nguyễn Huy Côn lại cho thấy, người ta phân biệt 5 phương pháp đọc nhanh, đó là: Đọc sâu, đọc nhanh, đọc khoa học, đọc chọn lọc, đọc lướt và đọc điểm.

Như vậy, có thể thấy, việc khẳng định một phương pháp đọc tối ưu cho tất cả mọi người đọc là chưa tìm được lời giải đáp chung.

Chỉ nói riêng về phương pháp đọc to và đọc yên lặng cũng đã thấy những quan điểm trái ngược nhau của các nhà khoa học. Chẳng hạn, có nhà khoa học cho rằng, đọc to tốt hơn đọc yên lặng hoặc ngược lại đọc yên lặng tốt hơn đọc to; cũng có quan điểm lại cho rằng, đọc to chỉ tốt đối với trẻ em các lóp tiểu học, còn từ các lớp phổ thông trung học trở lên thì phương pháp đọc yên lặng là phương pháp đọc có hiệu quả. Đặc biệt, đối với người lớn thì phương pháp đọc yên lặng là phương pháp đọc tốt nhất. Bởi vậy,

Bàn về c á c h đ ọ c sá c h và tự học. Sách đ ã d ẫn ,- Tr. 6 7 -6 8 .

' N g u y ề n H u y C ôn K ỹ ih u ật đ ọ c n h an h các sách h áo và t ài liệu K H-K T .-T P H o C h í M in h : N x B T rẻ , 2 0 0 0 .- T r3 5 .

143

phương pháp nghiên cứu được trình bày trong giáo trình sẽ không mang tính áp đặt là phương pháp tốt nhất mà chỉ nên coi là những phương pháp đọc sách tham khảo, tuỳ thuộc mục đích của người đọc và tính chất của tài liệu nghiên cứu mà chọn lựa phương pháp đọc này hoặc phương pháp đọc khác. Với cách hiểu như vậy, cần kết hợp phương pháp đọc nhanh và đọc chậm với hiệu quả đọc.

Kết quả kết hợp này sẽ cho phương pháp đọc nhanh có hiệu quả, không có hiệu quả và phương pháp đọc chậm có hiệu quả và không có hiệu quả.

Vấn đề đặt ra là, khi nào đọc nhanh có hiệu quả và khi nào đọc chậm có hiệu quả. Để hiểu sâu sắc vấn đề đặt ra, cần làm rõ các khái niệm cơ bản: Đọc nhanh và đọc chậm có hiệu quả.

* Đọc nhanh có hiệu quả: Là đọc đảm bảo nâng dần được tốc độ mà vẫn rút ra được từ tài liệu những thông tin cần thiết phù hợp với yêu cầu của việc đọc.

Đọc nhanh có một số dạng sau: Đọc lướt, đọc chọn lựa và đọc điểm.

+ Đọc lướt (hay làm quen sơ bộ với cuốn sách)

Đây là cách đọc rất nhanh toàn bộ cấu trúc của cuốn tài liệu từ trang tên sách, lời nói đầu, kết luận cho đến mục lục tài liệu tham khảo. Cụ thể, khi đọc lướt, người đọc phải:

- Đọc trang tên sách để nắm tên sách, tên tác giả, nơi xuất bản, năm xuất bản.

- Lật trang cuối sách đọc mục lục để nắm bố cục chung gồm bao nhiêu phần, chương ...

- Đọc lời tựa hay lời nói đầu để biết nhiệm vụ và nội dung của cuốn sách, những vấn đề chính mà cuốn sách trình bày.

144

- Đọc phần kết luận, lời bạt hay lời kết hoặc tóm tắt của cuốn sách để nắm vắn tắt những vấn đề cơ bản trình bày trong sách dưới dạng cô đọng lại.

- Đ ọc lướt có tác dụng giúp người đọc nhanh chóng xác định cuốn sách này hoặc tài liệu kia có phù hợp với yêu cầu đọc hay không?

+ Đ ọc chọn lựa là cách đọc sau khi đã đọc sơ bộ cuốn tài liệu (sách). Với cách đọc này, người đọc chủ yếu đọc nhũng phần riêng biệt của tài liệu, nghĩa là chỉ tập trung đọc những phần cần thiết có chủ định từ đầu. So với cách đọc lướt, tốc độ đọc của cách đọc này còn nhanh hơn nhiều, vì người đọc chỉ cần lật giở đến những trang thật cần thiết.

* Đ ọc điểm là đọc rất nhanh tài liệu (cuốn sách) để điểm tên người, thuật ngữ, sự kiện, địa danh ...

Cả 3 dạng đọc trên được kết hợp lại giúp người đọc, đọc nhanh có hiệu quả một cuốn tài liệu (cuốn sách). Nói một cách khác, đọc nhanh có hiệu quả đối với 1 tài liệu (1 cuốn sách) là nâng dần được số lượng trang của tài liệu mà vẫn đảm bảo nắm được những thông tin từ những trang tài liệu đó.

Theo tác giả Nguyễn Huy Côn, phương pháp đọc nhanh được áp dụng một cách linh hoạt, căn cứ vào mục đích nhiệm vụ và tính chất của tài liệu cần đọc. Tác giả cho rằng nên áp dụng phương pháp đọc nhanh để đọc:

- Sách và Tạp chí khoa học- kỹ thuật chuyên đề;

- Báo và Tạp chí phổ biến khoa học- kỹ thuật;

- Tài liệu văn bản nghiệp vụ có liên quan đến khoa học- kỹ thuật;

-T ài liệu, báo cáo tổng kết khoa học- kỹ thuật

145

Các loại tài liệu này thường được bố cục theo một trình tự lôgic giúp người đọc, đọc từ dễ đến khó, từ cụ thể đến tư duy trừu tượng.

Do đó với phương pháp đọc nhanh, người đọc vẫn có thể rút ra từ các loại tài liệu này những thông tin cần thiết, bổ ích.

Đọc nhanh có nhiều tác dụng: Giúp người đọc nắm thông tin nhanh chóng một cách chủ động; tổ chức hợp lý và tranh thủ được tối đa thời gian hiện có để đọc tài liệu ...

Tuy nhiên khi tiến hành đọc nhanh, cần lưu ý, đọc nhanh không phải là đọc qua loa, đọc hời hợt mà chính là nâng tốc độ đọc và hiểu nhanh những điều đã đọc.

* Đọc chậm có hiệu quả: Là đọc toàn bộ ( đọc trọn vẹn) tài liệu, đọc có phân tích và đánh giá.

Đọc chậm có một số dạng như:

- Đọc kỹ, tức là đọc có suy ngẫm, lật đi lật lại vấn đề, thậm chí có thể đọc đi đọc lại rất nhiều lần từng câu, từng đoạn nhằm hiểu thấu đáo những điều đã đọc và biến nó thành hiểu biết của mình.

- Đọc có ghi chép là đọc song song với việc ghi chép. Tác dụng của cách đọc này là rất lớn, giúp: Ghi nhớ những điều đã đọc được dễ hơn, tránh được sự trùng hợp do nhớ không chính xác, lĩnh hội sâu sắc, đầy đủ những vấn đề đã đọc được, thu thập và tích luỹ có hệ thống các thông tin thu nhận được.Việc đọc chậm có hiệu quả được áp dụng để đọc các sách giáo khoa, giáo trình, các sách thuộc lĩnh vực văn học- nghệ thuật, các văn bản pháp qui và lu ậ t...

Trên đây là hai phương pháp đọc có hiệu quả. Tuỳ theo tính chất thông tin chứa đựng trong tài liệu mà người đọc có thể sử dụng phương pháp đọc nhanh hay đọc chậm. Tuy nhiên cần lưu ý, đê có được cách đọc tốt nhất nên kết hợp 'cả hai phương pháp đọc trên, làm sao vừa đảm bảo tốc độ đọc, vừa đảm bảo nắm được nội 146

dung, hiểu và giải thích được nhưng điều mình đã đọc.

Cuối cùng cần nhớ rằng, việc luyện tập đọc là con đường ngắn nhất để đạt đến phương pháp đọc trên.

Ngoài các phương pháp đọc như trên đã nêu, người đọc muốn khai thác được nhanh chóng nội dung của 1 cuốn tài liệu hoặc một số khía cạnh như: Các yếu tố thư mục, những chủ đề được đề cập đến trong tài liệu, tên người, tên địa danh ... cần sử dụng bộ máy bổ trợ của tài liệu như đã nêu ở mục 3.3.2.4.

4.2- CÁCH THỨC GHI CHÉP TÀI LIỆU

Như trên đã nêu, ghi chép tài liệu khi đọc có rất nhiều tác dụng đối với người đọc, do đó việc ghi chép phải được tiến hành liên tục, thường xuyên và đặc biệt là phải hiểu và áp dụng nó vào thực tế đọc.

Có nhiều cách ghi chép khác nhau: Vừa đọc vừa ghi, nghĩa là đọc đến những điểm cần chú ý là dừng lại để ghi; Đọc xong mỗi chương ghi lại những điều quan trọng nhất hoặc đọc xong toàn bộ cuốn sách mới ghi chép những điểm cần nhớ ...

Mỗi cách ghi chép đều có những mặt ưu và mặt khuyết. Có người cho rằng, khi đang đọc nên ghi chép ngay những điều mình cho là thích (hay), nhất là khi những điều đó còn đang nóng hổi trong đầu. Có người lại cho rằng:"Chỉ nên ghi sau khi đọc xong sách hoặc đọc xong 1 chương lớn của sách, nếu không sẽ phân tán tư tưởng, tiếp thu kém và mất ấn tượng chung về những điều đã đọc"*.

Bởi vậy, điều chú ý ở đây là, người đọc tự xem xét khả năng Bàn về cách đọc sách và tự học. Sách đã dẫn.- Tr.98.

147

đọc và nhớ của mình cung như vấn đề cần ghi chép để lựa chọn cách ghi chép cho phù hợp nhất.

Cũng như cách thức ghi chép, trong thực tế người ta phân biệt rất nhiều hình thức ghi chép khác nhau: Dàn bài, đề cương, tóm tắt, sao chép, trích dẫn, trích yếu.

Nghiên cứu những điểm giống và khác nhau trong các hình thức ghi chép trên, để tránh trùng lặp, trong tài liệu xin nêu các hình thức ghi chép cơ bản là: Đề cương, tóm tắt, trích dẫn, ghi nhận xét, ghi ý kiến nảy sinh lúc đọc, cắt dán và thống kê tài liệu đọc.

* Đ ê cươiiq: "Là bản ghi tóm tắt những điều cốt yếu để từ đó mà phát triển ra khi nghiên cứu trình bày một vấn đề hoặc viết thành tác phẩm" \

Người ta phân biệt 2 loại đề cương:

- Đề cương ghi lại sau khi đọc xong 1 cuốn sách - Đề cương nghiên cứu vể một vấn đề nhất định.

0 đây chúng ta xem xét loại đề cương ghi lại sau khi đọc xong 1 cuốn sách. Trong loại đề cương này, cần ghi nội dung cơ bản của cuốn sách theo dàn ý và nhấn mạnh ý chính, ý phụ để ghi nhớ và phát triển khi trình bày.

Để lập đề cương cần dựa vào mục lục của cuốn sách.

* Tóm tắt nội dung tài liệu:

Theo từ điển tiếng Việt năm 1998, tóm tắt là: “Rút ngắn, thu gọn, chỉ nêu những điểm chính”, còn bùi tóm tát, theo tiêu chuẩn nhà nước TCVN 4525-88 là: “bài trình bày ngắn gọn những nội

Từ đìến tiếng Việt. Sách đã dẫn. Tr.298.

148

dung chính của tài liệu gốc(hoặc một phần cúa nó) phù hợp vói mục đích sử dụng, tính chất và giá trị của tài liệu gốc

Như vậy, việc ghi tóm tắt được hiểu là việc rút ngắn thu gọn tài liệu gốc nhưng vẫn đảm bảo phản ánh được toàn bộ nội dung tài liệu một cách khách quan, trung thực. Bài tóm tắt trong nhiều trường hợp thay thế tài liệu gốc (nghĩa là người sử dụng không cần đọc bản gốc). Do đó, để đảm bảo tính trung thực, khoa học và chính xác, bài tóm tắt tài liệu phải tuân thủ các yêu cầu sau:

- Chủ đề và nội dung của bài tóm tắt do chủ đề và nội dung của tài liệu gốc qui định;

- Phản ánh trung thực đối tượng nghiên cứu, mục đích, nhiệm vụ cũng như phương pháp nghiên cứu của công trình.

- Bố cục của tóm tắt có thể không giống một cách máy móc với bố cục của tài liệu, song phải đảm bảo phù hợp với nội dung nguyên bản bao gồm: các chương, mục, những kết luận và kiến nghị;

- Những vấn đề chính cơ bản của tài liệu phải được trình bày đầy đủ, cụ thể với ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu.

* Trích d ẫ n : Là dẫn nguyên văn một câu hay một đoạn thơ, văn nào đó.

Mục đích của trích dẫn là nhằm chứng minh cho một luận điểm nào đó mà đã được các nhà khoa học bàn đến. Đồng thời dùng đe diễn đạt được ý của mình một cách tốt nhất, nhờ đó thuyết phục được người đọc, người nghe nhiều hơn.

Khi trích dẫn cần chú ý: Trích nguyên văn để trong ngoặc kép và ghi nguồn trích (trong tài liệu nào, của ai, trang bao nhiêu...)- Ghi như vậy, một mặt, thể hiện sự tôn trọng quyền tác giả và sự trung thực trong khoa học của bản thân người ghi. Mặt khác, giúp

149

người dùng tin tra cứu lại các nguồn tài liệu gốc được dễ dàng.

Sau đày là một ví dụ về cách ghi trích dẫn và nguồn trích."Đôi tượng của sách là người đọc. Đọc sách là một nhu cầu của con người và mọi cố gắng của các tác giả, nhà xuất bản, thư viện và cán bộ thư viện đều nhằm thoả mãn nhu cầu đọc trong xã hội..."

(Đỗ Hữu Du. Sách, người đọc và nghề thư viện.-H.: Văn hoá thông tin, 1 9 9 5 ,-Tr. 15).

Ngoài trích dẫn, người ta còn sử dụng trích ý, cách trích ý được ghi sau dấu hai chấm và không cần ngoặc kép.

Đê thực hiện việc ghi nhận xét và cảm tưởng về cuốn tài liệu đã đọc, đòi hỏi người đọc phải đọc rất kỹ, đọc có phân tích, so sánh và đánh giá. Chính vì vậy, với cách ghi này sẽ giúp người ghi chép hiểu sâu vấn đề, đặc biệt hình thành thói quen suy nghĩ, cân nhắc khi nghiên cứu một vấn đề nhất định và tạo một phong cách riêng khi viết.

* Ghi ỷ kiến nãy sinh lúc đọc

Những ý kiến nảy sinh trong lúc đọc, lúc nghe giảng, nghe báo cáo thường xuất hiện ở những người có ý thức khi đọc hoặc nghe.

Nói một cách khác, ở những người đọc hoặc nghe với một thái độ chăm chú, tập trung tư tưởng cao độ thường nảy sinh những nhận xét, đánh giá tức thì. Ghi lại những ý kiến này rất có lợi, một mặt, tăng cường thái độ đọc, nghe có phê phán, thúc đẩy tìm tòi sáng tạo. Mặt khác, cho phép lưu lại những điều mà nhiều khi sau này trở thành ý tưởng, luận điểm rất hay, rất khoa học.

* C ắt dán

Là hình thức thay cho việc sao chép (tức là chép nguyên văn một đoạn nào đó trong sách) rất thuận tiện cho việc thu thập tài liệu ở nhiều nguồn khác nhau, nhất là tài liệu từ các ấn phẩm định kỳ.

150

* T h ố n ẹ k ê c á c tài liệu đ ã đ ọ c

Đây là hình thức ghi chép mang tính liệt kê các tài liệu đã sử dụng. Có thế ghi chép trên "phích" hoặc ghi chép vào vở. Cả 2 cách ghi này đều cần ghi rõ các mực sau: Ngày đọc; sô thứ tự các cuốn tài liệu đọc; họ, tên tác giả; nhan để của tài liệu; nơi xuất bản; nhà xuất bản; năm xuất bản; ký hiệu xếp giá của cuốn tài liệu (nếu là tài liệu của thư viện) hoặc đánh dấu bằng các ký hiệu riêng (nếu là sách cua riêng hoặc mượn của bạn bè). Các yếu tố trên cần được ghi theo phương pháp mô tả thư mục theo tiêu chuẩn quốc tế ( ISBD) như đã nêu ở mục (3.2.1.1)

V iệc ghi chép như vậy cho phép, một mặt, biết được các loại sách đã đọc thuộc các môn loại nào, theo chủ đề gì? và còn thiếu những loại sách nào để kịp thời đọc bổ sung. Mặt khác, giúp khi cần đọc lại một cuốn tài liệu nào đó, có thể nhanh chóng tìm được địa chỉ để mượn.

Tóm lại, các hình thức ghi chép trên đều rất bổ ích cho người nghiên cứu. Tuỳ vào mục đích sử dụng tài liệu của mình mà mỗi người có thể sử dụng hình thức ghi chép này hoặc ghi chép khác.

Điều chủ yếu là, việc áp dụng hình thức ghi chép đó mang lại hiệu quả thiết thực cho việc đọc, nghiên cứu của mình.

4.3- PHƯONG PHÁP BIÊN SOẠN THƯ MỤC TRONG CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN cứu KHOA HỌC

Thư mục rất phong phú về thể loại (như "mục K tài liệu thư mục" đã nêu), đồng thời rất đa dạng về hình thức như: Thư mục in thành sách; thư mục tạp chí; thư mục tờ rời, tờ gấp; thư mục in kèm trong sách báo, tạp chí; thư mục phích và thư mực đọc bằng máy: Cơ sờ dữ liệu thơ mục ( CSDL thư mục).

151

Trong tài liệu này chí nghiên cứu hình thức thư mực in kèm trong sách hay còn gọi là thư mục trong các công trình nghiên cứu khoa học.

4.3.1- Khái niệm về thư mục trong các công trình nghiên cứu khoa học

Bất kỳ một cán bộ nghiên cứu nào cũng bắt đầu công trình nghiên cứu khoa học của mình, bằng cách tập họp tài liệu sát hợp với đề tài nghiên cứu. Các tài liệu đã thu thập được, được hệ thống hoá lại thành một bản thư mục, nhằm phản ánh những nội dung cần nghiên cứu của công trình nghiên cứu khoa học. Bản thư mục trong công trình nghiên cứu khoa học là một bộ phận cấu thành, không thể thiếu được của bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học tự nhiên hay xã hội nào. Nó thường nằm ở cuối tài liệu (sách), cuối chương, cuối phần hoặc cuối bài, dưới hình thức: Thư mục tài liệu tham khảo, danh mục tài liệu tham khảo. Các thư mục này thống kê các tài liệu mà tác giả công trình đã chọn lọc, phân tích và sử dụng trong quá trình nghiên cứu. Tác dụng của chúng là nhằm giới thiệu các tài liệu về cùng một chủ đề, giúp người đọc tham khảo sâu, rộng hơn nữa nội dung của cuốn tài liệu (sách).

Trong thư mục càng có nhiều thông tin về tài liệu sát hợp với đề tài bao nhiêu càng chứng tỏ công trình nghiên cứu khoa học có giá trị bấy nhiêu.

4.3.2- Phương pháp biên soạn thư mục trong các công trình nghiên cứu khoa học

Để biên soạn được loại thư mục này cần tiến hành các bước sau:

- Xác định các loại tài liệu là sách, báo, tạp chí sát với đề tài và có giá trị khoa học;

152

Một phần của tài liệu Hướng dẫn sử dụng thư viện thông tin (Trang 143 - 160)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(169 trang)