Cơ cấu vốn huy động

Một phần của tài liệu Khóa luận tốt nghiệp - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - chi nhánh Sóc Sơn – Hà Nội (Trang 26 - 30)

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH SÓC SƠN

2.3. Thực trạng hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn…

2.3.1. Cơ cấu vốn huy động

2.3.1.1. Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn

SVTH: Hoàng Thị Thủy 20

Bảng 2.4: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn giai đoạn 2013-2015

Đơn vị : Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2013 2014 2015 Tăng trưởng

Số tiền

Tỷ trọng

(%)

Số tiền

Tỷ trọng

(%)

Số tiền

Tỷ trọng

(%)

So 2014 với 2013

So 2015 với 2014 Số

tiền % Số

tiền % Tổng nguồn

vốn 2897 100 3373 100 3740 100 476 16,4 367 10,9

TGKKH 535 18,5 608 18 729 19,5 73 13,6 121 20

TGCKH 2362 81,5 2765 82 3011 81,5 403 17,1 246 8,9 TGCKH dưới

12 tháng 1832 63,2 2006 59,5 2111 56,4 174 9,5 105 5,2 TGCKH trên

12 tháng 530 18,3 759 22,5 900 25,1 229 43,2 141 18,6

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh tại NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn)

Tiền gửi KKH chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động. Năm 2014 TGKKH đạt 608 tỷ đồng tăng 73 tỷ đồng so với năm 2013. Năm 2015 nguồn vốn KKH đạt 729 tỷ đồng, tăng 121 tỷ đồng so với năm 2014. Nguồn TGKKH chủ yếu là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong thanh toán của các doanh nghiệp và các TCKT-XH trên địa bàn. Để giữ được nguồn TGKKH hiện có và tìm kiếm thêm các nguồn TGKKH khác, NHNo Sóc Sơn đã có nhiều giải pháp như thực hiện tốt các nghiệp vụ thanh toán, phát hành thẻ ATM, trả lương qua tài khoản, xây dựng giá trị thương hiệu, tuyên truyền, quảng cáo... Vì vậy nguồn TGKKH của chi nhánh ngày càng tăng trưởng.

TGCKH chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động. Năm 2013, TGCKH đạt 2362 tỷ đồng, năm 2014 TGCKH tăng 403 tỷ đồng lên 2765 tỷ đồng, năm 2015 đạt 3011 tỷ đồng và tăng 246 tỷ so với năm 2014. Có sự tăng trưởng như trên là do năm 2013, 2014 trên địa bàn huyện Sóc Sơn triển khai nhiều dự án đền bù, giải phóng mặt bằng với tổng số tiền lớn. Với mạng lưới các phòng giao dịch rộng

khắp, có ưu thế là Ngân hàng Nhà nước nằm trên địa bàn nhiều năm, cộng với việc nắm bắt thông tin nhanh, huy động sâu sát nên chi nhánh đã huy động được lượng tiền gửi tiết kiệm lớn từ những người dân được nhận đền bù từ các dự án.

+ TGCKH dưới 12 tháng có sự tăng trưởng qua các năm. Năm 2013, TGCKH dưới 12 tháng là 1832 tỷ đồng song đến năm 2014 lượng TGCKH dưới 12 tháng đã tăng 174 tỷ đồng lên 2006 tỷ đồng và đến năm 2015 là 2111 tỷ đồng, tăng 105 tỷ đồng so với năm 2014 và năm 2013 là 279 tỷ đồng.

+ TGCKH trên 12 tháng có sự biến động tương đối lớn, năm 2014 tăng 229 tỷ đồng so với 2013, từ 530 tỷ đồng lên 759 tỷ đồng, năm 2015, nguồn vốn này tăng 141 tỷ đồng lên 900 tỷ đồng. Nguồn TGCKH trên 12 tháng chiếm tỷ trọng nhỏ do lãi suất trên 12 tháng thường thấp hơn và lại tiềm ẩn rủi ro khi nền kinh tế biến động nên khách hàng thường thận trọng gửi các kỳ hạn ngắn để nghe ngóng và tiện cho việc sử dụng vốn khi có nhu cầu sử dụng.

2.3.1.2 Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng.

Bảng 2.5: Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng giai đoạn 2013 - 2015

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu

2013 2014 2015 Tăng trưởng

Số tiền

Tỷ trọng

(%) Số tiền

Tỷ trọng

(%) Số tiền

Tỷ trọng

(%)

So 2014 với 2013

So 2015 với 2014 Số

tiền % Số

tiền % Tổng

nguồn vốn

2897 100 3373 100 3740 100 476 16,4 367 10,9

SVTH: Hoàng Thị Thủy 22

1. Dân

cư 2221 76,7 2605 77,2 2842 76 384 17,3 237 9,1

2. Tổ chức

KT-XH 676 23,3 768 22,8 898 24 92 13,6 130 16,9

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh tại NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn)

Năm 2013, lượng tiền gửi từ các TCKT-XH đạt 676 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 23,3% tổng nguồn vốn, năm 2014 tăng lên 768 tỷ đồng tương ứng với tỷ trọng là 22,8% tổng nguồn vốn. Năm 2015, lượng tiền gửi từ các TCKT-XH tăng 130 tỷ đồng lên 898 tỷ đồng tương ứng với tỷ trọng 24% tổng nguồn vốn huy động năm 2014.

Các tổ chức kinh tế gửi các khoản tiền vào Ngân hàng chủ yếu để được hưởng các dịch vụ thanh toản, chuyển khoản, trả lương, thu và chi khi mua bán hàng hóa, dịch vụ với các tổ chức kinh tế khác. Đây là loại tiền gửi có chi phí đầu vào tương đối rẻ và tương đối ổn định vì các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng với mục đích để thuận tiện hơn trong giao dịch chứ không phải với mục đích hưởng lãi như tiền gửi dân cư.

Trong khi đó, tiền gửi dân cư luôn chiếm tỷ trọng lớn. Tiền gửi của dân cư chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Đây là nguồn vốn có tính ổn định cao nhất và là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng thực hiện đầu tư.

Trong những năm vừa qua NHNo&PTNT Sóc Sơn luôn xây dựng chính sách thu hút nguồn vốn rất hợp lý: điều chỉnh lãi suất tiền gửi, thực hiện chính sách khuyến khích người dân gửi tiền vào NH, cải tiến phương thức giao dịch, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn để đáp ứng nhu cầu của người dân… Chính vì thế nên nguồn vốn tiền gửi của dân cư không ngừng tăng và luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động. Cụ thể, năm 2013 tỷ trọng tiền gửi dân cư trong tổng nguồn vốn huy động là 76,7%, năm 2014 là 77,2% và năm 2015 là 76%.

2.3.1.3. Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền

Cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền gửi bao gồm tiền gửi nội tệ và tiền gửi ngoại tệ. Nguồn vốn huy động nội tệ tại chi nhánh vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu, nguồn vốn ngoại tệ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động.

Bảng 2.6: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền giai đoạn 2013 - 2015

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu

2013 2014 2015 Tăng trưởng

Số tiền

Tỷ trọng

(%)

Số tiền

Tỷ trọng

(%)

Số tiền

Tỷ trọng

(%)

So 2014 với 2013

So 2015 với 2014 Số

tiền % Số

tiền % Tổng nguồn

vốn 2897 100 3373 100 3740 100 476 16,4 367 10,9 Nội tệ 2836 97,9 3307 98 3661 97,9 471 16,6 354 10,7 Ngoại tệ (Quy

đổi VNĐ) 61 2,1 66 2 79 2,1 5 8,2 13 19,7

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh tại NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn)

Năm 2013, tiền gửi nội tệ đạt 2836 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 97,9% tổng nguồn vốn huy động; năm 2014 tăng 471 tỷ đồng tăng lên 3307 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 98%; năm 2015, tiền gửi nội tệ tăng 354 tỷ đồng lên 3661tỷ đồng tương ứng với 97,9% tổng nguồn vốn huy động. Sở dĩ nguồn tiền gửi nội tệ tăng là do trong những năm qua lãi suất huy động vốn nội tệ khá cao, năm 2013 lên đến 8% - 10% /năm, năm 2014 giảm dần về 6.1%, năm 2015 giảm xuống 4.5% - 7%/năm nhưng đây vẫn là kênh đầu tư hấp dẫn trong điều kiện nền kinh tế ảm đạm.

Trái ngược với nguồn vốn tiền gửi nội tệ, trong những năm qua, tại chi nhánh Sóc Sơn quy mô nguồn vốn tiền gửi ngoại tệ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn . Năm 2013, tiền gửi ngoại tệ quy đổi chiếm 2,1% tương ứng 61 tỷ đồng, năm 2014 chiếm 2% tỷ tương ứng 66 tỷ đồng, năm 2015 chiếm 2,1% tương ứng 79 tỷ đồng. Mặc dù, nguồn ngoại tệ của chi nhánh còn hạn chế nhưng trong nhiều năm qua nhu cầu vay ngoại tệ của chi nhánh hầu như không phát sinh nên nguồn vốn ngoại tệ huy động được điều chuyển về NHNo Việt Nam.

Một phần của tài liệu Khóa luận tốt nghiệp - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - chi nhánh Sóc Sơn – Hà Nội (Trang 26 - 30)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(48 trang)
w