III- CỦNG CỐ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA BAN DÂN VẬN TỈNH, HUYỆN ỦY TRONG THỜI KỲ MỚI
2. Xây dựng và thực hiện quy chế làm việc
a) Xác định và thực hiện chế độ làm việc trong cơ quan
Trên cơ sở chỉ đạo của cấp ủy, mọi hoạt động của cơ quan phải được kế hoạch hóa theo thời gian nhất định. Quá trình tiến hành xác định kế hoạch công tác của ban phải làm rõ trách nhiệm thuộc chức danh nào, bộ phận nào và trình tự lập kế hoạch đó.
Các chế độ sinh hoạt định kỳ hay đột xuất (cả trong sinh hoạt công tác, sinh hoạt thời sự, thông tin). Trách nhiệm chuẩn bị, chủ trì sinh hoạt tương ứng với từng nội dung.
Những quy trình từ khi chuẩn bị đến khi hoàn thành kỳ sinh hoạt.
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ để xác định trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cán bộ lãnh đạo ban và mối quan hệ trong quá trình thực hiện sự phân định đó trên cơ sở kết hợp giữa chế độ thủ trưởng lãnh đạo và quản lý, tính chủ động sáng tạo của tập thể cán bộ và từng người cán bộ.
Những quy định trong chế độ làm việc đối với từng cá nhân lãnh đạo và các bộ phận phải rõ ràng, cụ thể, phù hợp với khả năng và những điều kiện để cá nhân và bộ phận ấy thực hiện có kết quả.
Xác lập mối quan hệ công tác giữa ban với cấp ủy và các cơ quan công tác dân vận của Đảng:
- Quan hệ với tỉnh ủy, huyện ủy:
Trong quan hệ này, Ban Dân vận là cơ quan tham mưu của cấp ủy và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Thường trực cấp ủy. Các chương trình, kế hoạch công tác của ban, các đề tài và kế hoạch nghiên cứu đề tài, các kế hoạch công tác kiểm tra độc lập hoặc phối hợp tiến hành; đề xuất về công tác quần chúng của ban trong từng thời gian hoặc cả nhiệm kỳ của Đảng bộ do cấp ủy xác định, giao trách nhiệm; báo cáo kết quả đạt được sau quá trình thực hiện với cấp ủy (Ban Thường vụ hoặc Thường trực cấp ủy).
Lãnh đạo Ban Dân vận tham dự các cuộc họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cấp ủy khi bàn về công tác dân vận của Đảng hoặc những vấn đề liên quan đến công tác dân vận. Thường vụ hoặc thường trực cấp ủy có thể huy động lãnh đạo hoặc chuyên viên của ban tham gia giải quyết công tác trên. Kinh phí hoạt động do thường trực xem xét và cấp theo dự trù hằng năm của ban. Cuối năm, có quyết toán với văn phòng cấp ủy. Ban được cung cấp thông tin cần thiết theo chế độ quy định của Đảng. Ban có trách nhiệm quản lý và sử dụng đúng, có hiệu quả các thông tin đó.
- Quan hệ với các ban đảng và các ngành chính quyền cùng cấp:
Giữa Ban Dân vận với các ban đảng và các ngành chính quyền có mối quan hệ đồng cấp, phối hợp trong các hoạt động. Đối với ban đảng, có sự phối hợp chủ yếu trong việc xây dựng các chương trình nghiên cứu, kiểm tra tổng kết việc thực hiện công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ trong các cơ quan khối dân vận; trao đổi thông tin, sinh hoạt chuyên đề... để làm tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy. Đối với các ngành của chính
quyền, sự phối hợp chủ yếu trong tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong các ngành chính quyền; thẩm định các quy định của chính quyền có liên quan đến công tác quần chúng của Đảng; phối hợp nghiên cứu nắm tình hình và kiến nghị với cấp ủy và chính quyền xử lý những vướng mắc giữa Mặt trận, các đoàn thể với các ngành chính quyền và những khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
- Đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân:
Ban Dân vận theo dõi các hoạt động để giúp cấp ủy chủ chỉ đạo Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Quan hệ giữa ban với các cơ quan này là quan hệ đồng cấp và phối hợp hoạt động. Sự phối hợp đó thể hiện ở chỗ: phối hợp nghiên cứu, chuẩn bị cho cấp ủy ra các quyết định về công tác mặt trận và các đoàn thể; kiểm tra, đề xuất với cấp ủy về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và các hội quần chúng khác. Phối hợp với Mặt trận, các đoàn thể trong nghiên cứu, tổng kết hoạt động, xây dựng, tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng đảng bộ cơ quan. Theo định kỳ, Ban dân vận cùng với Đảng đoàn Mặt trận, các đoàn thể, Ban Thường vụ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh để trao đổi rút kinh nghiệm những hoạt động trên. Các văn bản, tài liệu của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân gửi báo cáo cấp ủy, đồng thời gửi Ban Dân vận để theo dõi, nghiên cứu, tổng hợp chung.
- Quan hệ với Ban Dân vận Trung ương:
Ban Dân vận tỉnh, huyện ủy do cấp ủy cùng cấp chỉ đạo trực tiếp; đồng thời, chịu sự hướng dẫn về hoạt động và nghiệp vụ của ban dân vận cấp trên và Ban Dân vận Trung ương.
Trong mối quan hệ này, Ban Dân vận tỉnh, huyện ủy thường xuyên đảm bảo chế độ báo cáo (nhanh và định kỳ) về tình hình quần chúng và công tác dân vận ở địa phương, báo cáo về tình hình tổ chức, cán bộ khi có thay đổi để ban dân vận cấp trên và Ban Dân vận Trung ương biết để thực hiện chức năng của mình do Ban Chấp hành Trung ương quy định.
Nhìn chung, quy chế là bước cụ thể việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ban. Nó cố tính ổn định tương đối đồng thời cùng với sự vận động và phát triển của nhiệm vụ, những biến động về tổ chức và cárl bộ, quy chế cần được thường xuyên xem xét qua thực tiễn hoạt động có điều chỉnh và bổ sung kịp thời để phát huy tác dụng.