a) Các yếu tố có sẵn từ trước: Yếu tố tiên lượng xấu:
- Tuổi: với con so: quá trẻ ( <18 tuổi) hoặc lớn tuổi (> 35 tuổi), với con rạ tuổi >40 - Chiều cao: Lùn thấp ( <1m45), cân nặng mẹ thấp
- Các yếu tố di truyền của người mẹ hay người bố, hoàn cảnh nghèo nàn, thất học, lạc hậu về nhận thức…
- Các dị tật bẩm sinh hoặc di chứng khi còn bé:
+ Dị dạng sinh dục: tử cung nhi tính, vách ngăn âm đạo, tử cung đôi, tử cung có vách ngăn
+ Khung xương chậu bất thường: khung xương chậu hẹp, lệch do còi xương, lao, chấn thương, di chứng bại liệt…
- Tiền sử sản khoa:
+ Đẻ nhiều lần ( 4 lần trở lên)
+ Đẻ quá dày ( khoảng cách giữa 2 lần đẻ < 3 năm)
+ Tiền sử sản khoa nặng nề về thai nghén và sinh đẻ: điều trị vô sinh, sẩy thai liên tiếp, thai chết lưu, con chết ngạt, đẻ phải can thiệp ( giác hút, foocxep, mổ đẻ..), đã có lần bị băng huyết nặng khi đẻ
- Bệnh lý của mẹ có trước lúc mang thai:
+ Các bệnh nội khoa: bệnh tim mạch ( suy tim, cao huyết áp..) bệnh phổi ( hen, lao), bệnh gan ( viêm gan VR..), bệnh thận ( suy thận), bệnh nội tiết ( đái tháo đường..), bệnh hệ thống ( SLE), bệnh lý máu ( thiếu máu, xuất huyết giảm tiểu cầu..), bệnh thần kinh- tâm thần
+ Các bệnh phụ khoa: u xơ tử cung, u nang buồng trứng, rò tiết niệu- sinh dục, sa sinh dục, hoặc âm họ, âm đạo, tầng sinh môn xơ hóa…
- Bệnh lý cấp và mạn tính mắc phải trong lần mang thai này và các bệnh do thai nghén mà có: viêm ruột thừa và thai nghén, xoắn ruột, sốt, tiền sản giật, sản giật,
…
b) Các yếu tố tiên lượng phát sinh trong chuyển dạ:
- Toàn thân của mẹ: các yếu tố ảnh hưởng xấu đến quá trình chuyển dạ + Các cơn đau do co bóp tử cung khiến bà mẹ lo lắng, sợ hãi, kêu la
+ Cuộc chuyển dạ kéo dài làm sản phụ mệt mỏi, đói lả, kiệt sức vì không ăn được + Những thay đổi về mạch, huyết áp, nhiệt độ do nguyên nhân tâm lý sợ hãi hay do
bội nhiễm
- Diễn biến của cơn co tử cung
+ Cơn co tử cung bình thường: cơn co tử cung là động lực của cuộc chuyển dạ. Bình thường xuất phát từ một điểm hay gặp từ sừng phải tử cung lan ra theo quy luật 3 giáng: từ trên xuống, cường độ giảm dần, thời gian co giảm dần. Cơn co ban đầu yếu, ngắn, thưa càng về sau càng mạnh, dài, mau
+ Các yếu tố tiên lượng xấu: các rối loạn cơn co tử cung o Rối loạn tăng co bóp:
Tăng cường độ ( cơn co mạnh)
Tăng tần số ( cơn co mau)
Tăng cả cường độ và tần số
→ nguy cơ dọa vỡ tử cung, vỡ tử cung, suy thai o Tăng trương lực cơ bản
Do co thắt ( trong hộ chứng rau bong non)
Do căng dãn ( trong đa ối, sinh đôi)
Do co bóp tăng kéo dài ( lạm dung oxytocin….) o Rối loạn giảm co bóp
Giảm cường độ ( cơn co yếu)
Giảm tần số ( cơn co thưa)
Giảm cả cường độ và tần số
→ nguy cơ nhiễm trùng, suy thai, chuyển dạ kéo dài…
o Nguyên nhân của rối loạn cơn co tử cung thường là do nguyên nhân thực thể, thường do thai bị cản trở, không tiến triển thuận lợi…gây đẻ khó cơ học cần thăm khám kĩ tìm nguyên nhân hoặc do rối loạn cơ năng gây đẻ khó động lực có thể dùng thuốc để điều trị nếu không có kết quả phải mổ lấy thai
- Xóa mở cổ tử cung:
+ Sự xóa mở cổ tử cung bình thường: trong quá trình chuyển dạ, cổ tử cung sẽ xóa mở dần từ 1cm đến 10cm. Yếu tố thuận lợi về tiên lượng là:
o Vị trí cổ tử cung ở chính giữa tiểu khung, mật độ mềm, xóa hết thì mỏng, ôm lấy đầu ối hoặc ngôi thai
o Tốc độ mở: ở người con so từ 1cm đến 3cm trung bình 8h, từ 3cm đến 10cm trung bình 7 giờ
+ Các yếu tố tiên lượng xấu:
o Cổ tử cung dày, cứng, phù nề, lỗ trong co thắt ( đặc biệt ở những thai phụ có tiền sử điều trị đốt nhiệt, đốt điện, đốt hóa chất, khoét chóp, cắt đoạn cổ tử cung…) o Khi theo dõi tiến triển cổ tử cung mở chậm hoặc không mở thêm sau mỗi lần thăm
khám
Câu 12: Cơn co tử cung trong chuyển dạ: Đặc điểm, tác dụng, cách phát hiện cơn co bất thường, hướng xử trí.
Trả lời
Cơn co tử cung là động lực chính của cuộc chuyển dạ. Mọi rối loạn của cơn co tử cung đề gây khó khăn thậm chí là đình trệ cuộc chuyển dạ, mà kết quả là phải phẫu thuật để lấy thai ra.