Tác động của báo chí tới vấn đề tổ chức xây dựng đảng dưới góc nhìn của

Một phần của tài liệu báo chí với vấn đề tổ chức xây dựng đảng (Trang 68 - 75)

2.3.1. Lỷ thuyết quyền lãnh đạo

Lý thuyết quyền lãnh đạo (hay còn gọi là lý thuyết bá quyền) khởi đầu từ những quan điểm của Herman và Chomsky về vai trò của hệ tư tưởng và quyền lực nhà nước trong xã hội tư bản. Quan điểm và sự phân tích của hai ông được tiếp nối bởi một nhà mác-xít người Pháp là Louis Althusser, người đã coi phương tiện truyền thông như “công cụ tư tưởng của nhà nước” và đặc biệt, chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của nhà mác-xít Italia là Antonio Gramsci (1891-1937), qua tác phẩm nổi tiếng Tập hợp những ghi chép ở trong tù (Selections from the Prison Notebooks).

Lý thuyết quyền lãnh đạo bắt nguồn từ quan niệm: Trong một xã hội, nhóm chiếm ưu thế có khả năng định hướng về mặt tri thức và đạo đức đối với xã hội đó và xây dựng một hệ thống liên kết xã hội để phục vụ cho những mục tiêu của nó.

A.Gramsci cho rằng, quân sự không phải là công cụ duy nhất để bảo đảm quyền lực

của giai cấp cầm quyền, còn nhiều cách thức hiệu quả hơn trong xây dựng sự đồng thuận xã hội, như thông qua việc kiểm soát quá trình sản xuất và phân phối các sản

phẩm văn hóa, hay quản lý các tổ chức của xã hội như trường học,

tôn giáo và các

phương tiện truyền thông đại chúng.

Một trong những chức năng quan trọng nhất của nhà nước, theo Gramsci “là để nâng cao nhận thức của quảng đại quần chúng đến một trình độ văn hóa và đạo đức nhất định, một trình độ (hoặc dạng thức) tương ứng với... mong muốn của giai cấp cầm quyền. Trường học, toà án, và vô số sáng kiến và hoạt động... hình thành bộ máy lãnh đạo về chính trị và văn hóa của giai cấp cầm quyền” [A.Gramsci (1971), Selection from the prison notebooks, Lawrence and Wishart, London]. Như vậy, lý thuyết bá quyền nhấn mạnh chức năng chính trị của truyền thông đại chúng trong việc tuyên truyền và duy trì hệ tư tưởng thống trị. Qua đó thêm khẳng định, mặc dù truyền thông ở các nước phương Tây về lý thuyết là thoát khỏi sự kiểm soát trực tiếp của chính phù, tuy vậy chúng cũng hoạt động như là những bộ máy trưng gian chính thức hóa hệ tư tưởng thống trị [160, tr.42, 53].

Trong bối cảnh đất nước ta khi có chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta đã dùng báo chí trở thành phương tiện hữu hiệu để tuyên truyền, cổ động và giáo dục, thúc đẩy nhân dân. Đồng thời truyền tải tới công chúng chủ trương, định hướng của Đảng để lãnh đạo các tổ chức và nhân dân giành thắng lợi. Như vậy, lý thuyết quyền lãnh đạo đã đề cao vai trò của báo chí nói riêng, các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung có tác động đến nền chính trị của đất nước. Có ảnh hưởng mạnh tới sự lãnh đạo của Đảng, cụ thể hơn là vấn đề xây dựng Đảng trong thời chiến.

Ngày nay, lý thuyết này đã bộc lộ những hạn chế nhất định: Bản chất của truyền thông hiện đại là thuyết phục (Persuade), chứ không dựa hoàn toàn vào tuyên truyền (Propaganda); phương pháp truyền thông của Lý thuyết bá quyền chỉ có thể thành công trong xã hội đóng kín. Bởi vậy, nền báo chí cách mạng Việt Nam đã vận dụng sáng tạo lý thuyết này qua việc muốn truyền tải quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tới cán bộ, đảng viên, nhân dân đế duy trì hệ tư tưởng của mình. Đồng thời, việc tuyên truyền đó không mang tính áp đặt mà Đảng đã sử dụng báo chí trở thành kênh thông tin, kênh phản biện, đóng góp ý kiến cho Đảng, Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo. Đảng, Nhà nước luôn lắng nghe ý kiến phản hồi để điều

chỉnh trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của mình. Hiện nay, các loại

hình báo chí

Việt Nam, trong đó có báo in, báo điện tử đã thực hiện tốt sự tương tác

trong quá

trình truyền thông về lĩnh vực xây dựng đảng. Báo in phát huy thế mạnh

thông tin

sâu, phân tích, đánh giá chặt chẽ để truyền tải nội dung, ý nghĩa của chủ trương,

chính sác của Đảng, Nhà nước về tổ chức thực hiện, sắp xếp tổ chức bộ

máy, tổ

chức đảng; đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng cán bộ, đảng viên...

Báo điện tử

phát huy sự nhanh nhạy, kịp thời, phản biện cao để góp phần XDĐ vững mạnh

trong lãnh đạo thực hiện chủ trương, chính sách về tổ chức XDĐ.

2.3.2. Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự

Lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự” (Agenda Setting Theory) do hai chuyên gia truyền thông Maxwell Mccombs và D.Shaw (Mỹ) đưa ra. Nen tảng nghiên cứu của họ là những bản tin mà các phương tiện truyền thông Mỹ đưa tin về cuộc bầu cử tổng thống năm 1968 và các cuộc điều tra ảnh hưởng tới cử tri. Các chuyên gia chỉ ra rằng, những vấn đề được các hãng truyền thông coi là “chuyện đại sự” đế đưa tin cũng được coi là “chuyện đại sự” được phản ánh trong ý thức của công chúng. Hãng truyền thông càng quan tâm thì mức độ coi trọng của công chúng về vấn đề này càng cao. Với tinh thần đó, Maxwell Mccombs và D. Shaw cho rằng,

“Truyền thông đại chúng có một chức năng sắp đặt “chương trình nghị sự” cho công chúng, các bản tin và hoạt động đưa tin của cơ quan truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của công chúng tới những “chuyện đại sự” của thế giới xung quanh” [71, tr.49]. Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự mô tả khả năng ảnh hưởng của giới truyền thông đối với công chúng thông qua các phương tiện truyền thông. Trong thực tế của đời sống truyền thông, nếu một tin tức nào đó được nhắc tới thường xuyên, liên tục và nổi bật, công chúng sẽ nhớ tới nó và coi nó quan trọng hơn những thông tin khác.

Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự còn chỉ ra rằng, việc đưa tin về thế giới bên ngoài của cơ quan truyền thông không phải là sự phản ánh theo kiểu “soi gương” mà là một hoạt động lựa chọn có mục đích. Cơ quan truyền thông dựa vào

giá trị quan và mục đích đưa tin của mình, từ môi trường thực tế “lựa chọn” ra vấn đề hoặc nội dung mà họ coi là quan trọng nhất để gia công, sắp xếp, sau đó cung

cấp cho công chúng bằng phương thức “đưa tin đúng sự thật”. Do

đó, với tư cách là

cơ quan truyền thông - kênh thông tin chủ yếu giúp công chúng nắm bắt

tin tức từ

bên ngoài có ảnh hường rất lớn đến nhận thức và phán đoán của công

chúng tới môi

trường xung quanh. Hiện nay, môi trường truyền thông rất phát triển,

không chỉ có

loại hình báo in chiếm ưu thế như trước mà báo điện tử, truyền hình và

các kênh

thông tin để công chúng nắm bắt tin tức từ bên ngoài rất rộng lớn, không

chỉ có cơ

quan truyền thông báo chí mà còn rất nhiều mạng xã hội khác. Tức là

khả năng thiết

lập chương trình nghị sự không phải độc quyền của cơ quan truyền

thông. Hiện nay

các loại hình báo chí, trong đó có báo in, báo điện tử của nền báo chí

cách mạng

Việt Nam và các tổ chức đảng, các tổ chức chính trị cũng sở hữu chức

năng thiết lập

chương trình nghị sự. Thông tin trên báo in, điện tử bất kể từ nguồn cụ

thể nào, khi

được đông đảo công chúng tiếp nhận, nếu thông tin đó chứa đựng vấn đề

đủ hấp

dẫn thì nó sẽ có thể trở thành tâm điểm bàn luận, hình thành dư luận xã

hội. Điều

này cho thấy, khi báo in phát huy ưu thế là phân tích, đánh giá định

hướng sâu và

báo điện tử phát huy thế mạnh là nhanh nhạy, kịp thời thì chức năng

thiết lập

chương trình nghị sự của báo in, điện tử đã thu hút công chúng và phát

huy sức

mạnh truyền thông đại chúng của mình.

2.3.3. Lý thuyết sử dụng và hài lòng

Lý thuyết ra đời vào những năm 40 của thế kỷ 20 trên cơ sở ban đầu là nghiên cứu về phát thanh. Học thuyết nghiên cứu xem công chúng có nghe các chương trình phát thanh hay không. Khi nghe họ có hài lòng với chương trình đó không. Nếu có hài lòng thì mức độ hài lòng như thế nào. Nếu không thì tìm hiểu nguyên nhân vì sao họ không hài lòng.

Nội dung cốt lõi học thuyết là nghiên cứu xem công chúng như thế nào để có được cách đánh giá hiệu quả của truyền thông chính xác nhất. Khi nghiên cứu công chúng phải tiến hành nghiên cứu công chúng toàn diện trên tất cả các bình diện: sở thích, độ tuổi, điều kiện sống. Học thuyết chỉ ra: 3 giai đoạn của công chúng khi tiếp nhận thông điệp truyền thông: Mê mẩn <-> Bão hòa <-> Trưởng thành. Ý nghĩa học thuyết là chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu sự hài lòng hay không hài lòng của công chúng đối với truyền thông, từ đó, những nhà truyền thông sẽ phải điều chỉnh cách thức truyền thông của mình cho đạt hiệu quả.

Hiện nay các phương tiện truyền thông có khả năng lan xa và thấm sâu, làm thay đổi cả bản chất của xã hội cũng như đời sống tâm lý, các chuẩn mực văn hoá và những thói quen của con người. Có thể nói phương tiện truyền thông mới đang đem lại cho con người những cơ hội để có một cuộc sống tốt hơn. Còn những người làm báo phải quan tâm đến nhu cầu của công chúng, phải có chiến dịch truyền thông phù họp. Với những phát triển quá nhanh của công nghệ kỹ thuật số, những tờ báo, tạp chí (in, điện tử) ngày càng nhiều đã giúp cho những nhu cầu của con người có ảnh hưởng nhất định trong tâm lý, tình cảm, suy nghĩ của mình. Các phương tiện truyền thông đang tác động mạnh mẽ đến tâm lý con người nhất là những người trẻ, hình thành nên loại ngôn ngữ giao tiếp đặc thù, những lối sống khác xa trước đây và những nhu cầu mới làm cho con người bị lệ thuộc vào nó.

Thomas L. Friedman, tác giả cuốn sách “Thế giới phẳng” (2006) đã nhấn mạnh đặc biệt vai trò của các phương tiện truyền thông như một trong những yếu tố căn bản nhất góp phần làm cho thế giới trở nên “phang” và làm cho bạn đọc hài lòng hơn với thông tin được cung cấp. Hệ thống báo chí Việt Nam có trách nhiệm phản ánh thông tin chân thực nhất cùa đời sống và những thông tin đó đáp ứng nhu cầu của bạn đọc và được thỏa mãn trong sự phát triển của xã hội.

Các tờ báo in, báo điện tử của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã và đang thực hiện tốt nhiệm vụ vụ tuyên truyền về lĩnh vực tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên... để đáp ứng nhu cầu thông tin của bạn đọc. Đồng thời, trong quá trình tuyên truyền lắng nghe nhu cầu của bạn đọc để điều chỉnh thông tin và lựa chọn cách thể hiện để bạn đọc hài lòng với thông tin được cung cấp.

Một phần của tài liệu báo chí với vấn đề tổ chức xây dựng đảng (Trang 68 - 75)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(325 trang)
w