Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2. Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Đỗ Bích Thúy
1.2.1. Vài nét về cuộc đời và con người nhà văn Đỗ Bích Thúy
Nhà văn Đỗ Bích Thúy sinh ra và lớn lên tại Hà Giang, trong một gia đình giản dị, yêu nước và giàu tình cảm. Chị không phải “con nhà nòi” trong làng văn. Gia đình chị người Nam Định. Bố chị là lính lái xe, kéo pháo ở Điện Biên Phủ. Sau chống Pháp ông chuyển sang lái xe chở gỗ cho các lâm trường. Vì thế ông mới đưa cả gia đình từ Nam Định lên vùng cao sương lam chướng khí Hà Giang để lập nghiệp. Sự thay đổi vô tình nhưng lại trở thành mối lương duyên cho hồn văn Đỗ Bích Thúy sau này.
Quê cha ở xã Xuân Bắc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, nhưng quê sinh của Đỗ Bích Thúy là mảnh đất Vị Xuyên - một huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang, một vùng văn hóa với những phong tục tập quán độc đáo của đồng bào các dân tộc thiểu số. Chị đã gắn bó và yêu mảnh đất này với một tình yêu máu thịt. Điều đó giải thích vì sao văn hóa vùng cao Hà Giang đã trở thành hơi thở, thành máu trong huyết quản và chảy dài trên trang văn của Bích Thúy từ khi chị bắt đầu chạm ngõ làng văn cho đến bây giờ và có lẽ nó sẽ còn chảy mãi cho đến khi nào chị dừng bút viết. Phong tục tập quán miền núi trong văn của chị không chỉ đơn thuần là yếu tố kiến tạo nên những đặc trưng văn hóa mà còn can dự, tác động vào đời sống tinh thần và nhiều khi quyết định số phận của con người hay số phận nhân vật trong mỗi tác phẩm. Thông qua sự phản ánh những phong tục tập quán trong tác phẩm của mình, chị giúp người đọc có thêm một góc nhìn mới về hiện thực miền núi hôm nay. Đây chính là yếu tố làm nên nét riêng biệt của văn xuôi Đỗ Bích Thúy nói chung và tiểu thuyết của chị nói riêng.
Tốt nghiệp trung cấp Tài chính - Kế toán, Đỗ Bích Thúy tưởng như sẽ an phận là một kế toán hay phóng viên Báo Hà Giang. Nhưng nhờ tình yêu nồng nàn với văn chương, trải qua một quá trình miệt mài sáng tạo, Đỗ Bích Thúy đã khẳng định được bản lĩnh nghệ thuật trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam. Đỗ Bích Thuý sáng tác khá phong phú, đa dạng ở nhiều thể loại và đã đạt được những thành công đáng kể về số lượng và chất lượng. Trong đó, chiếm vị thế chủ yếu là truyện ngắn và tiểu thuyết.
Hai thể loại này đã giúp chị khẳng định được phong cách nghệ thuật và tên tuổi trong nền văn học Việt Nam đương đại.
Đỗ Bích Thúy là một người có quan niệm về nghề văn rất rõ ràng: “Với nhà văn, tôi quan niệm, quan trọng nhất là chọn được đề tài đúng sở trường. Và miền núi chính là đề tài sở trường, đề tài “ruột” của tôi. Còn mối thân tình với mảnh đất ruột thịt chính là nền tảng để tôi làm văn chương”. Có lẽ cũng là một mối cơ duyên, Đỗ Bích Thúy lựa chọn việc tiếp cận và phản ánh hiện thực ở mảng đề tài dân tộc và miền núi - một đề tài không mới nhưng lại là một mảnh đất màu mỡ cho mạch nguồn cảm xúc văn chương của chị thuận lợi phát triển. Bởi lẽ, Hà Giang với chị là sự phức hợp của nhiều yếu tố cần và đủ để ngòi bút và tài năng của chị kết tụ, thăng hoa: Nó vừa là một vùng văn hóa xứ sở độc đáo, vừa là mảnh đất linh thiêng mang tên“nơi chôn rau cắt rốn”, là quê hương thứ hai đã nuôi nấng, bao bọc tuổi thơ và thanh xuân của chị. Nếu không đi ra từ Hà Giang sẽ không có một Đỗ Bích Thúy văn chương như hiện tại, sẽ là Đỗ Bích Thúy khác, hay hơn hay nhạt hơn theo lối khác, không gian khác, màu sắc khác. Theo đấy, là khoảng trống những trang văn về miền núi phía Bắc đương đại sẽ rộng hơn.
Ở thể loại truyện ngắn, ngòi bút Đỗ Bích Thúy dẫn dụ, mê hoặc người đọc với cách viết giản dị, không màu mè mà sâu sắc, giàu cảm xúc. Chị bước vào làng văn với truyện ngắn Chuỗi hạt cườm màu xám in trên báo Tiền Phong năm 1994 và đạt giải thưởng Tác phẩm tuổi xanh năm đó. Năm 1998-1999, Đỗ Bích Thúy đạt giải nhất cuộc thi sáng tác truyện ngắn do tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức với 3 tác phẩm: Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi, Ngải đắng ở trên núi. Truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá đoạt giải B của Hội đồng nghệ thuật Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2006. Chính truyện ngắn này đã được đạo diễn Ngô Thanh Hải chuyển thể thành công sang tác phẩm điện ảnh đậm chất thơ Chuyện của Pao - tác phẩm đoạt giải Cánh diều vàng năm 2005 của Hội Điện ảnh Việt Nam.
Tập Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (2005) gồm 21 truyện ngắn đặc sắc sử dụng tấm phông nền của thiên nhiên Hà Giang vừa hùng vĩ, hoang sơ và bí hiểm vừa mộng, tràn trề sức sống để làm nền cho những câu chuyện về tình người, tình đời giản dị mà sâu sắc của Đỗ Bích Thúy.
Tập Mèo đen (2011) gồm 6 truyện ngắn và 1 truyện dài vẽ tiếp sự thành công của Đỗ Bích Thuý về đề tài dân tộc - miền núi. Đó là câu chuyện xúc động, thẫm đẫm nhân tình về phận người vùng cao: những người phụ nữ chịu thương, chịu khó, hi sinh để vun vén cho gia đình và cả những người đàn ông thật thà, cao thượng…
Tập Đàn bà đẹp (2013) gồm 12 truyện ngắn, trong đó quá nửa kể về chuyện tình của những người đàn bà Mông trên cao nguyên đá Hà Giang. Âm hưởng chung
của tập truyện là nỗi buồn về cuộc đời âm thầm nhẫn nại, hi sinh của người phụ nữ miền cao. hà văn bằng tấm lòng nhân hậu và những trăn trở về số phận người phụ nữ đã khắc dựng những chuyện đời, chuyện người vùng cao để lại nhiều suy ngẫm trong lòng người đọc.
Ngoài truyện ngắn, Đỗ Bích Thúy còn viết nhiều tản văn. Tập tản văn Trên căn gác áp mái (2011) tập hợp 31 bài viết của Đỗ Bích Thúy thể hiện một cách nhìn ẩn chứa sự suy ngẫm về nhiều vấn đề của cuộc sống. Phong vị quê hương Hà Giang thấm đẫm trên từng trang viết. Đọc tập tản văn này, người đọc cũng gặp một Đỗ Bích Thuý luôn suy tư, trăn trở, chiêm nghiệm về lẽ đời, phận người.
Tập Đến độ hoa vàng (2013) gồm 33 tản văn là một lời tri ân sâu nặng mà Đỗ Bích Thuý dành tặng cho thung lũng yêu thương đầy hoa dại của mình. Với biệt tài quan sát tỉ mỉ, miêu tả tinh tế và một tâm hồn nhạy cảm, nhà văn đã dẫn lối, đón đưa người đọc về với thung lũng tràn ngập sắc hương của đại ngàn Tây Bắc.
Với tình yêu dành cho thiếu nhi, Đỗ Bích Thuý đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách có nhan đề Em Béo và hội Cầu vồng. Tác phẩm chỉ gần trăm trang gồm những mẩu chuyện nho nhỏ về hội Cầu vồng. Các câu chuyện hiện lên rất sinh động với lối kể dí dỏm và văn phong mộc mạc, chân chất của Đỗ Bích Thuý. Vui có, buồn có, dở khóc dở cười cũng có nhưng điểm đặc biệt là tác phẩm “nói” bằng chính tâm hồn và lối suy nghĩ hồn nhiên của con trẻ.
Đỗ Bích Thúy cũng thử sức trong lĩnh vực kịch bản sân khấu với vở Diễm 500 USD. Tác phẩm này, khi công diễn đã được công chúng đón nhận và đánh giá cao.
Cho đến nay, Đỗ Bích Thúy đã có 5 cuốn tiểu thuyết làm phong phú thêm gia tài văn chương của chị. Mỗi cuốn tiểu thuyết khi ra đời đều gây được những ấn tượng trong lòng độc giả, ghi dấu sự trưởng thành trong phong cách nghệ thuật của nhà văn.
Đó là:
- Tiểu thuyết Bóng của cây sồi(2005) - Tiểu thuyết Cánh chim kiêu hãnh (2013).
- Tiểu thuyết Cửa hiệu giặt là (2014).
- Tiểu thuyết Chúa đất ( 2015).
- Tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu ( 2017).
Nhìn chung, trong quá trình sáng tác, Đỗ Bích Thúy đã có những sáng tạo trong việc xây dựng cốt truyện khá linh hoạt, các sự kiện được trần thuật lúc thì theo trật tự tuyến tính, theo mạch cảm xúc tâm lý; đôi lúc lại là sự đảo lộn về thời gian,
mang đến khả năng biểu đạt đa diện với cuộc sống. Nhân vật trong sáng tác của chị được khắc họa ở ngoại hình, hành động, ở đối thoại, độc thoại để việc lý giải tâm lý bên trong của con người trở nên sinh động và đa dạng hơn.
Cho đến nay gia tài văn học của chị đã có 17 cuốn sách, cuốn nào cũng đóng góp một tiếng nói riêng, có trọng lượng vào nền văn học đương đại của nước nhà nói chung và văn học dân tộc thiểu số nói riêng. Những giải thưởng đáng kể chị đã đạt được: Giải nhất cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1999; Giải nhất tiểu thuyết của Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2013;
Giải nhất văn học nghệ thuật Thủ đô năm 2014... vừa là những phần thưởng ghi nhận sự nỗ lực bứt phá, vừa như một lời khẳng định hùng hồn về tài năng và tâm huyết
“một cây bút lấp lánh phận người chiết ra từ cao nguyên đá Hà Giang”.