Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Đỗ Bích Thúy

Một phần của tài liệu Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của đỗ bích thúy (Trang 27 - 34)

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.2. Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Đỗ Bích Thúy

1.1.2. Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Đỗ Bích Thúy

19 tuổi Đỗ Bích Thúy mới bắt đầu xuất hiện trên trường văn trận bút, hơn mười năm sau, Đỗ Bích Thúy xuất bản tiểu thuyết đầu tay Bóng của cây sồi (2005) và cũng thai nghén bằng chừng ấy thời gian, chị mới cho ra đời bốn cuốn tiểu thuyết tiếp theo: Cánh chim kiêu hãnh (2013), Cửa hiệu giặt là (2014), Chúa đất (2015) Lặng yên dưới vực sâu (2017). Mỗi một cuốn tiểu thuyết của chị sau khi chào đời đều thể hiện sự trưởng thành trên hành trình sáng tác của nhà văn. Mạnh dạn chuyển ngòi bút từ dạng thức ngắn (truyện ngắn, tản văn) đến tiểu thuyết - một dạng thức dài, một thể loại văn học có khả năng phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống, có “biên độ không gian cũng như chiều dài thời gian”, đòi hỏi “không ngừng dung nạp trong bản thân nó những thể loại khác” (Trần Đình Sử), thực sự vừa là một thử thách mạo hiểm, vừa là một cơ hội để chị khẳng định tài năng, bản lĩnh và độ chín trong văn chương. Có lẽ, tiểu thuyết với những đặc trưng thi pháp của nó mới có thể giúp Đỗ Bích Thúy tiếp xúc gần gũi nhất, toàn vẹn và sâu sắc nhất với hiện thực đời sống; mới là mảnh đất màu mỡ nhất giúp tư tưởng, tình cảm cũng như tài năng nghệ thuật của Đỗ Bích Thúy đơm bông kết trái và thăng hoa trọn vẹn nhất .

Lấy ý tưởng từ truyện ngắn Thị trấn (in trong tập Tiếng đàn môi sau bờ rào đá), tiểu thuyết đầu tay Bóng của cây sồi phản ánh cuộc sống đồng bào Tày - Dao vùng Lao Chải, Đản Ván trước sự xâm lấn của nền kinh tế thị trường. Cốt truyện xoay quanh ba nhân vật chính, trẻ tuổi. Đó là Phù, con trai già làng Phủ, trưởng thôn;

cô Kim, cô gái xinh đẹp, chăm làm nhưng phải gánh chịu số phận hẩm hiu, bầm dập và Cường, tổ phó tổ tự vệ của thôn là kẻ thâm hiểm, gian manh, luôn hại người khác để trở nên giàu có. Ba nhân vật điển hình ấy đã đại diện cho những dạng người đang tồn tại trong cộng đồng xã hội ở miền núi phía Bắc hiện nay. Tác phẩm vừa phản ánh

cuộc sống của vùng đất ấy vừa mạnh dạn đặt ra một số vấn đề cần phải giải quyết trước mắt và lâu dài về kinh tế xã hội. Tính xã hội, tính nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được gửi gắm vào từng trang viết, gợi bao nỗi niềm trăn trở, day dứt. Với những giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc, tiểu thuyết Bóng của cây sồiđã được trao giải B - cuộc thi Sáng tác văn học cho tuổi trẻ, lần 2.

Tiếp tục mạch nguồn cảm hứng về mảnh đất cao nguyên đá Hà Giang, tiểu thuyết Cánh chim kiêu hãnh ra đời đã tái hiện một cách chân thực và xúc động về cuộc kháng chiến đánh Pháp, đuổi Nhật của Việt Minh. Tiểu thuyết này được phát triển từ ý tưởng truyện ngắn Sải cánh trên cao (in trong tập Tiếng đàn môi sau bờ rào đá), đan dệt từ nguyên mẫu cuộc đời của người phụ nữ Tày từ Cao Bằng sang Hà Giang làm cách mạng và đã đưa phong trào cách mạng ở Hà Giang đi lên. Cánh chim kiêu hãnh nói về những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đuổi Nhật ở Hà Giang, giai đoạn những năm 40 của thế kỉ trước. Nhân vật chính là Mai - cô gái Tày xinh đẹp phải chịu phận tôi đòi cho nhà lý trưởng để gán nợ. Cô gặp Chúng, một thanh niên nghèo, tốt bụng, anh đã đổi cả đàn gia súc để chuộc cô về làm vợ. Thực dân Pháp và tay sai đày ải đồng bào đến cùng cực, khốn đốn. Chúng cùng với rất nhiều thanh niên lên rừng tham gia phong trào Việt Minh. Trong lần trốn về thăm vợ, Chúng bị giặc bắt và chặt đầu thị uy. Được cán bộ Sinh - xưa cùng thân phận tôi đòi trong nhà lý trưởng - giác ngộ, Mai đau đớn gửi con cho mẹ già, tiếp bước chồng, tham gia cách mạng. Dưới sự dìu dắt của cán bộ Việt Minh, cộng với tinh thần chủ động, gan dạ, Mai trưởng thành, tham gia chiến đấu kiên cường và trở thành biểu tượng cánh chim đại bàng kiêu hãnh trên rừng núi phía Bắc. Cuối truyện, Mai đã hy sinh trong một trận đánh lớn. Chị ngã xuống nhưng hình ảnh và vẻ đẹp kiêu hùng của người phụ nữ rẻo cao lại bay lên như một con đại bàng dũng mãnh. Cánh chim kiêu hãnh đã tái hiện con đường giải phóng dân tộc của đồng bào Tây Bắc. Con đường thoát khỏi gông cùm của bọn thực dân, phong kiến dẫu nhiều gian nan, mất mát, hi sinh nhưng vô cùng oanh liệt, sáng ngời lòng yêu nước và lí tưởng cách mạng. Họ đã sống một cuộc đời ý nghĩa,“không phải là cuộc sống của một con cu gáy béo mẫm, chỉ làm mồi cho thợ săn, mà như một con đại bàng với sải cánh dài mang khát vọng kiêu hãnh mà không hề sợ hãi”.

Cuốn tiểu thuyết thứ 3 của chị lại bất ngờ dành tặng Hà Nội như một món quà

trả nợ nơi nuôi dưỡng”. Cửa hiệu giặt là được coi là tấm hộ khẩu bằng văn chương chính thức của chị với Thủ đô. Bởi phải đúng là người con Hà Nội, có những “cảm xúc đắm say của một người đã biết thế nào là tình yêu Hà Nội" mới có được cái nhìn về nơi đây một cách tinh tế và sâu sắc đến như vậy. Đi dọc chiều dài của cuốn tiểu

thuyết 23 chương, gần 300 trang sách, Hà Nội hiện lên thật mới mẻ - một Hà Nội trong dung dịđời thường với tất cả những eo sèo cuộc sống nhưng chứa chan tình đời, tình người, “một Hà Nội mà ở đó có những cuộc đời bình dị được trôi đi với tận cùng vui buồn, sướng khổ..”. Ở đây, ta bắt gặp những nhân vật thật đời thường, gần gũi mà người đọc dễ dàng soi chiếu và thấy bản thân mình xuất hiện đâu đó trong cuốn sách.

Họ là những người lao động thị dân, tuy nghèo về vật chất, nhưng không thiếu tình cảm. Mỗi người là một mảnh ghép không thể thiếu trong bức tranh cuộc sống Hà thành hôm nay. Tác phẩm này của chị không có nhân vật nào là phản diện, gai góc, mà tất cả đều đáng quý, đáng yêu. Cửa hiệu giặt là được trao giải thưởng Văn học Nghệ thuật Thủ đô 2013-2014.

Sau khi phiêu lưu, mạo hiểm và khá thành công với tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết về đô thị, Đỗ Bích Thúy quay lại với đề tài vùng cao Hà Giang máu thịt, nơi luôn khiến ngòi bút của chị thăng hoa, phát sáng, để phản ánh đời sống tủi nhục của người phụ nữ dân tộc Mông cách đây 200 năm trong Chúa đất. Cuốn tiểu thuyết thứ tư này của Đỗ Bích Thúy lấy cảm hứng từ truyền thuyết về chúa đất Sùng Chúa Đà ở vùng Đường Thượng, Yên Minh, Hà Giang. Dân gian kể rằng: Sùng Chúa Đà là một thổ ty người Mông hung ác, sống cách nay khoảng 200 năm. Cuộc đời ông gắn liền với sự tích cây cột đá hành quyết, cao tới 1,9 m, chuyên để treo đến chết những ai trêu ghẹo vợ chúavà vi phạm luật lệ do ông ta đặt ra. Trung tâm câu chuyện là nhân vật vị chúa đất có quyền sinh quyền sát trong tay. Sùng Chúa Đà - một bạo chúa ở vùng cao Đường Thượng có cuộc đời bất hạnh với bi kịch không thể làm đàn ông.

Trớ trêu thay, xoay quanh ông ta lại là những người phụ nữ có những cá tính riêng.

Đó là cô gái trẻ Vàng Chở tuổi hừng hực bản năng, sẵn sàng bất chấp mọi thứ, coi thường ngay cả mạng sống của chính mình để đổi lấy khát vọng của thanh xuân. Đó là người vợ cả dâng cả cuộc đời cho chúa đất với tất cả tình yêu và lòng trung thành một cách âm thầm, lặng lẽ và vô điều kiện. Đó là cô gái Sùng Pà Xính xinh đẹp, tiếng hát như họa mi rộn ràng cũng nhất định không sống cam chịu cho dù được đánh đổi bao nhiêu nhung lụa, bạc vàng...Đàn bà trong Chúa đất sinh ra không phải để đàn ông hành hạ, lấy làm trò vui. Họ có ước mơ, sẵn sàng chết để đánh đổi lấy cái gọi là hạnh phúc, dù cho nó chỉ đến trong chớp mắt. Tiểu thuyết này cũng dành những trang văn đẹp, trữ tình để miêu tả thiên nhiên đặc trưng vùng núi đá.Đỗ Bích Thúy chia sẻ:

Song song với việc sáng tác tiểu thuyết, chị đã hoàn thành kịch bản, với mong muốn xây dựng một bộ phim từ tác phẩm này.

Lặng yên dưới vực sâu vốn là một truyện dài cùng tên được đăng nhiều kỳ trên Tạp chí Văn nghệ quân đội cách đây vài năm. Sau khi được đạo diễn Đào Duy

Phúc và Trung tâm sản xuất Phim truyền hình Việt Nam đề nghị chuyển thể tác phẩm văn học này thành kịch bản phim truyền hình dài hơn ba mươi tập, nhà văn Đỗ Bích Thúy đã quyết định phát triển tác phẩm này từ một truyện dài thành cuốn tiểu thuyết thứ 5 của chị. Lặng yên dưới vực sâu là câu chuyện tình của Vừ, Phống, Súa, Xí, Chía..., những thanh niên người Mông ở vùng núi U Khố Sủ. Vừ và Súa yêu nhau say đắm. Nhiều lúc Súa còn nghĩ “mình say Vừ hơn say rượu”. Đúng trong đêm hò hẹn định mệnh của hai người, Súa đồng ý để Vừ bắt mình về làm vợ thì Phống đã lừa Vừ để thay vào làm việc đó. Từ đây bắt đầu cho một chuỗi dài những bi kịch trong tình yêu của các nhân vật, mỗi người có một nỗi niềm riêng, không ai giống ai nhưng tất cả đều đau đớn quay quắt trong bi kịch tình yêu không tìm được đường ra. Đỗ Bích Thúy đã cho chúng ta những cảm giác trái ngược cùng bất ngờ trong Lặng yên dưới vực sâu. Một câu chuyện hấp dẫn, lạ lẫm, đầy ảnh hình hoang dã về những người Mông lạ kỳ, kiêu hãnh... “Viết được như Đỗ Bích Thúy về dân tộc Mông giờ hiếm người theo kịp”, đó là nhận định xác đáng của Phạm Ngọc Tiến.

Câu chuyện tình tay ba của Phống - Súa - Vừ đầy bi thảm. Phải chăng đó chính là lời bi ai cho hành trình đi kiếm tìm hạnh phúc của người phụ nữ dân tộc trên rẻo cao mà Đỗ Bích Thúy vẫn đau đáu, khắc khoải khôn nguôi với câu hỏi đầy day dứt:“Tại sao con người lại làm thế với nhau?”. Lặng yên dưới vực sâu với lối viết chân thực đến gai người không ngừng tra vấn chúng ta bằng câu hỏi nhức nhối ấy.

Tiểu thuyết về đề tài miền núi của Đỗ Bích Thúy là nỗi trăn trở khôn nguôi về cuộc sống với biết bao ngang trái, những bi kịch chỉ trực rình rập để nuốt chửng con người.

Trong năm tiểu thuyết đã xuất bản của chị, ngoại trừ tiểu thuyết Cửa hiệu giặt viết về đời sống thị dân hơi tách ra khỏi dòng đề tài chủ đạo của Đỗ Bích Thúy, bốn tiểu thuyết còn lại đều gắn với đất và người vùng cao, nơi chị sinh ra, lớn lên và nặng lòng trong từng trang viết. Chất liệu hiện thực cuộc sống ngồn ngộn được tác giả tái hiện một cách sinh động trong mỗi tiểu thuyết đã dẫn lối, đón đưa người đọc đến với cuộc sống và con người trên rẻo cao từ văn hóa, tâm hồn con người đến thiên nhiên... Cách viết của chị tài hoa và sắc sảo, có sự chuyển hóa linh hoạt đã tạo sự mê hoặc trong từng câu văn, dòng chữ. Văn phong, ngôn ngữ của Đỗ Bích Thuý dung dị, mượt mà nhưng đậm đà, sâu sắc. Cũng thật không quá khi cho rằng, những sáng tác của chị nói chung và những tiểu thuyết viết về miền núi của chị nói riêng đã trở thành một món ăn tinh thần, một “đặc sản”. Thành công của tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy đã được ghi nhận bằng các giải thưởng văn học uy tín, là sự hấp dẫn kì lạ đối với điện ảnh nước nhà, là đề tài hấp dẫn của những nhà nghiên cứu văn học và là sự yêu mến, trân trọng của độc giả trong gần ba thập kỉ nay.

Trở thành một nhà văn có duyên với điện ảnh cũng là một trong những thành công hơn những người bạn văn đồng lứa, đồng niên của Đỗ Bích Thúy. Cho đến nay chị đã có 3 tác phẩm văn học được chuyển thể thành phim truyền hình thành công và 2 tác phẩm đang trong quá trình “lột xác” thành phim. Bộ phim Chuyện của Pao (được giải thưởng Cánh diều vàng) do đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh từ truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá; Từ truyện ngắn Sau những mùa trăng hai đạo diễn Ðào Duy Phúc và Nguyễn Mạnh Hà chuyển thể thành bộ phim cùng tên đã đem lại cho người xem những xúc cảm nhân văn đối với bà con ở một vùng đất còn rơi rớt hủ tục nặng nề. Lặng yên dưới vực sâu lấy cảm hứng từ truyện ngắn cùng tên của chị đã được dựng thành bộ phim truyền hình nhiều tập và lấy được không ít nước mắt người xem và cả những trăn trở suy tư sau khi bộ phim kết thúc. Cả ba bộ phim khi trình làng đều được độc giả quan tâm và đánh giá cao.

Đỗ Bích Thúy chia sẻ, song song với việc sáng tác tiểu thuyết, chị đã hoàn thành kịch bản, với mong muốn xây dựng một bộ phim từ tiểu thuyết Chúa đất. Truyện ngắn Người yêu ơi của Đỗ Bích Thúy in trên Báo Nhân dân số Tết Ất Dậu 2015 cũng đang được chị "viết mới" thành tiểu thuyết sau khi hoàn thành kịch bản phim truyện điện ảnh cùng tên.

Xung quanh tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu và cả bộ phim cùng tên có rất nhiều câu chuyện thú vị. Đưa tác phẩm văn chương lên màn ảnh là việc bình thường, nhưng trường hợp của Đỗ Bích Thúy lại có hơi khác thường. Trong văn học cũng như trong điện ảnh, đa số những tác phẩm được chuyển thể thành phim đều là tiểu thuyết.

Phải là tiểu thuyết mới có phạm vi đời sống, con người đủ độ phong phú để thành phim. Tuy nhiên cả ba tác phẩm được chuyển thể của Đỗ Bích Thúy đều là những truyện vừa, từng công bố cách đây mấy năm trên Báo Văn nghệ, rồi được đặt hàng chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập. Riêng Lặng yên dưới vực sâu sau khi viết xong kịch bản phim, chị phát triển truyện vừa đó thành tiểu thuyết. Tương tự như vậy là truyện ngắn Người yêu ơi của chị. Bằng cách này, không phải nhà văn kéo dài tác phẩm mà là đưa tác phẩm lên một tầm cao mới, mang lại cho nó một đời sống và số phận khác.

Đỗ Bích Thúy có được thành công đó là kết quả một quá trình nỗ lực tìm tòi và cách tân nghệ thuật của chị. Đạo diễn Ngô Quang Hải khẳng định, bên cạnh yếu tố cốt truyện có sức gợi rất lớn thì lối viết văn giàu hình ảnh, ngôn ngữ có đường nét, giàu chất thơ nhờ lối tư duy của điện ảnh, tư duy khuôn hình của chị cũng là một thuận lợi hỗ trợ các nhà làm phim. Trên thực tế, có những đoạn văn, khi ta đọc, tưởng như chỉ cần nhắm mắt lại, hình dung thì từ trong tâm trí đã hiện lên rõ mồn một

những cảnh sắc, âm thanh mà chị đã thể hiện trên trang viết của mình. Có lẽ vì thế mà Đỗ Bích Thúy là nhà văn được điện ảnh lựa chọn và trao gửi nhiều cơ hội.

Có thể nói Đỗ Bích Thúy là nhà văn ghi dấu ấn với độc giả bằng thể loại truyện ngắn. Truyện ngắn là thể loại đầu tiên được nhà văn Đỗ Bích Thúy lựa chọn khi khởi nghiệp văn chương. Thể loại này đã có công trong việc đem đến cho chị một vị trí nhất định trên văn đàn đương đại. Còn thể loại tiểu thuyết có vai trò khẳng định tên tuổi, phong cách và bản lĩnh nghệ thuật của Đỗ Bích Thúy. Sự ra đời rất đều tay, ổn định về phong cách nghệ thuật của các cuốn tiểu thuyết cả vềsố lượng và chất lượng cho thấy chị là một cây bút giàu tiềm năng, giàu nội lực và sức sáng tạo vô cùng mạnh mẽ. Đồng thời những thành công về thể loại tiểu thuyết cũng chính là minh chứng hùng hồn nhất về độ chín, độ dày của nghệ thuật viết văn cũng như chiều sâu trong những chiêm nghiệm về con người trong cõi nhân sinh của nhà văn. Tiểu thuyết còn giúp chị củng cố thêm một lần nữa địa vị nghệ thuật đặc biệt trên văn đàn, định vị những thành công trên con đường văn chương của Đỗ Bích Thúy. Đúng như Trần Đăng Khoa đánh giá về Đỗ Bích Thúy "là một trong những cây bút nữ quan trọng nhất hiện nay ở mảng văn học về đề tài miền núi" .

Tóm lại, khi nghiên cứu tác phẩm văn học cần quan tâm tới thời gian nghệ thuật.

Cùng với không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật làm nên hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Bởi thế, nghiên cứu thời gian nghệ thuật rất quan trọng, giúp ta khám phá tác phẩm như là một thế giới, một chỉnh thể nghệ thuật được xác định trong không - thời gian. Thời gian nghệ thuật vô cùng phong phú và đa dạng mỗi ngành nghiên cứu lại có cách lý giải và phân loại riêng khác nhau…

TIỂU KẾT

Đỗ Bích Thúy là một trong số những nhà văn nữ xuất sắc của nền văn học Việt Nam đương đại, chị đặc biệt thành công ở đề tài miền núi. Các tác phẩm văn chương của chị tạo dấu ấn trong lòng người đọc bởi không gian, cuộc sống, con người ở đó hầu như đều mang hơi thở của miền đất Hà Giang nguyên sơ, trong trẻo. Tất cả kết hợp với văn phong nhẹ nhàng, tinh tế, sâu lắng giàu giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo đã tạo nên vị trí riêng của Đỗ Bích Thúy trong dòng chảy của văn xuôi miền núi nói riêng và văn học đương đại Việt Nam nói chung. Đỗ bích Thúy là cây bút giàu

Một phần của tài liệu Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của đỗ bích thúy (Trang 27 - 34)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(104 trang)